Wednesday, March 18, 2026

Tôi Đi Học - Nổi Buồn Mùa Thu - Phạm Tín An Ninh

 TÔI ĐI HỌC NỖI BUỒN MÙA THU




Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân loại. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng “Buồn Tàn Thu” để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm).

Ông mất đi trong cảnh khốn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá, cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. “Cây đại thụ” Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản “Mùa Thu Chết”. Ở Việt nam ta, nếu “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô” đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây “Les Feuilles Mortes” đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.

Riêng cái thằng vừa nhà quê vừa ít chữ như tôi dĩ nhiên không thể nào làm nổi một câu thơ và cũng chẳng mò ra được một nốt nhạc, vậy mà tâm hồn lại rất dễ bị đắm chìm trong những lời thơ tiếng nhạc – đặc biệt có Mùa Thu trong đó. Nhưng trong tất cả những tác phẩm có bóng dáng Mùa Thu trên thế gian này, cái bài làm tôi xúc động nhất, thuộc lòng từ thời tấm bé, không phải là thơ, là nhạc, của ta hay tây, mà lại là một bài văn xuôi rất… học trò của ông Thanh Tịnh.

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được…

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp…”

Không biết ngày ấy ông Thanh Tịnh ở tận nơi đâu, mà sao cái cảnh ngày đầu tiên ông đi học giống tôi như đúc. Tôi cũng được mẹ nắm tay dẫn đi trên con đường làng Phú Hội, cũng vào một buổi sáng có (một chút) sương thu và gió lạnh.

Một năm sau mẹ tôi qua đời, bỏ lại tôi một mình đi trên con đường dài và hẹp đó với bóng dáng yêu dấu của bà. Rồi cũng một năm sau nữa, cha tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu Năm làm “công tác xóa nạn mù chữ”. Tôi trở thành thằng bé mồ côi, phải về ở với ông bà nội. Mỗi ngày tôi vẫn đi trên con đường làng ấy, nhưng bây giờ tôi đến trường cùng một đám anh em bà con trạc tuổi. Sau này, trong đám học trò dưới mái trường làng ngày ấy có vài thằng lên núi đi làm… kách mệnh, có đứa sớm thành liệt sĩ; nhiều đứa làm quan làm lính cộng hòa, cũng có lắm thằng đuợc Tổ Quốc Ghi Ơn; đám còn lại là nông dân năm tháng soi mặt với ruộng đồng, nhưng cũng có thằng trở thành giáo sư, bác sĩ, lấy vợ rồi đóng đô luôn ở chốn thị thành, chỉ lâu lâu dắt díu nhau về thăm làng cũ.

Vậy mà cái tình đồng môn của thời thơ ấu đó lại keo sơn gắn bó đến không ngờ. Mấy ông nông dân có con cháu đi lính, được mấy ông bạn nhà binh nhận về đơn vị chở che, xuống thành phố đi học có mấy ông bạn thầy giáo hướng dẫn lo trường lo lớp, nơi ăn chốn ở; đau bệnh thì có mấy thằng bác sĩ chăm sóc thuốc men, xin vào nhà thương miễn phí. Mấy thằng làm quan lâu lâu về quê chở cả đám nông dân ra thành phố tập tễnh ăn chơi cho biết cái sự đời. Quân với dân còn hơn cả cá với nước.

Rồi đùng một cái, tháng 4/75, bão tố bất ngờ ập xuống, kéo theo cơn lốc đổi đời bi thảm: Mấy ông bạn trên núi nghênh ngang về nắm chính quyền, mấy ông nông dân vốn bao năm an nhàn với đồng áng bây giờ lại được mấy ông bạn chính quyền ưu ái lấy hết ruộng đất đưa vào hợp tác xã, giúp những thằng bạn cũ sớm trở thành vô sản, hầu cùng nhau “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc” lên thế giới đại đồng (!). Mấy ông lính, ông thầy, ông bác sĩ tự dưng trở thành “những con nai vàng ngơ ngác”, cuốn gói về quê nương náu để đợi chờ số phận, lại được mấy ông bạn nông dân ngày trước cho gạo cho tiền, chí ít cũng đãi đằng được một chầu thịt gà rượu đế, tiễn đồng môn cũ đi vào “trường cải tạo”. Một ít vào trường sơ cấp, trung cấp trong nam, số còn lại được ưu ái ra trường cao cấp tận vùng núi rừng Việt Bắc.

Sau sáu, tám, rồi mười năm, thằng nào còn sống mang tấm thân tàn tạ ra tù, kẻ thì vượt biển, người thì đi diện HO, lưu lạc tha phương, bỏ lại sau lưng con đường quê, ngôi trường làng cũ với biết bao kỷ niệm êm đềm. Đất khách gặp nhau, chỉ còn biết vỗ vai an ủi:

Qua cơn mờ mịt binh đao

đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng

Lạc loài trên chính quê hương

thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành

Định cư xong, lo góp tiền gom bạc gởi về cứu đói mấy ông bạn nông dân, bây giờ đã bạc cả mái đầu mà còn trắng cả đôi tay. Còn mấy ông bỏ trường lên núi hồi còn son trẻ bây giờ phục viên về nằm nghỉ mát, mỗi ngày uống trà ngắm mấy cái “bằng khen”, mấy cái huy chương “dũng sĩ” treo tòn ten trên vách mà ngẫm nghĩ con đường cách mệnh đã bỏ gần cả một đời theo đuổi mà sao cái làng quê của mình vẫn cứ xác xơ và những bạn bè ấu thơ giờ thì đã chết hoặc điêu linh tan tác.

Rồi cũng vào một mùa thu, từ đất khách tôi về lại quê hương. “Mùa thu năm ấy tôi ra đi, mùa thu này nữa tôi… trở về”. Khoảng cách giữa hai mùa thu… vậy mà cũng đã hai mươi năm. Tôi về để tìm lại ngôi mộ của cha tôi được mấy người bạn tù chôn cất sơ sài trên núi bên ngoài trại cải tạo Đá Bàn. Ông đã chết sau hơn một năm bị giam trong trại tù này, cũng vào một ngày cuối thu ảm đạm. Tôi nhờ người cải táng, đưa ông về nằm bên cạnh mẹ tôi và ông bà nội trong nghĩa trang gia tộc.

Tôi đi một vòng thăm lại làng xưa. Cái làng Phú Hội của tôi một thời đông vui giàu có như cái tên gọi, bây giờ sao trở nên vắng vẻ điêu tàn. Đám bạn bè cũ bây giờ chẳng còn mấy đứa, thằng chết, kẻ ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời. Hôm nay, tôi lại đi trên con đường làng cũ, vẫn con đường dài và hẹp mà ngày xưa mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi tới lớp. Hôm nay cũng có nhiều sương thu và gió lạnh, tôi đi một mình trơ trọi, chỉ còn đâu đây bóng dáng, tiếng nói tiếng cười của đám bè bạn ngày xưa rì rào trong gió. Tôi chợt nhớ tới bài thơ của một ông bạn già thân thiết:

Tôi về đứng trước ngôi trường cũ

nhìn xuống làng xưa chạnh nỗi niềm

nhấp nhô những mái nhà rêu phủ

thương hải tang điền mấy biến thiên

Tôi về xuôi một giòng sông chảy

con nước vô tình lặng lẽ trôi

hiểu nghĩa cuộc đời đành không thể

hai lần tắm ở một giòng thôi

– Tôi về – có phải sông về biển

sao nghe từng con sóng não nề

như thể bây giờ là cổ tích

tôi về – chỉ gặp lại mình… tôi

Bây giờ nhờ tiền tài trợ của mấy ông tư bản, nên ngôi trường vừa được xây cất lại khang trang. Có lẽ học sinh cũng vừa mới tựu trường, nên cờ xí khẩu hiệu còn đỏ cả sân trường. Cái trường mang tên làng Phú Hội ngày xưa bây giờ đã được đổi tên thành “Trường PTCS Lê văn Tám”. Nhìn các em bé sắp hàng vào lớp mà lòng tôi cứ bâng khuâng. Không phải vì vừa mới tìm lại được bóng dáng của mình ngày trước, mà vì thấy thương và tội nghiệp cho các cháu học trò. Không biết mỗi ngày phải học thuộc lòng những bài “thơ trong tù”của bác, thơ “Khóc ông Lê Nin” của nhà thơ lớn Tố Hữu, có bao nhiêu em đã “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim” (thơ T.H), và liệu các em có còn nhớ đuợc cái bài văn xuôi “hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc…” hồn nhiên và dễ thương của ông Thanh Tịnh mà thế hệ cha ông ai cũng nằm lòng? Các em có xót xa khi biết trường của các em mang tên “anh hùng Lê văn Tám” mà các em được dạy như là một tấm gương, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật trong phim truyện của đạo diễn Phan Vũ (xem Báo Thế Giới – Hà Nội số 39 (154) ngày 27.09.04 trang 22-23, website Talawas ngày 11.10.04 / Quang Hùng, đài BBC chương trình ngày 15.10.04)

Rồi mới đây bà Hiệu trưởng Trần Thanh Vân đầy quyền uy (dưới những ô dù) kéo theo một nhóm thầy cô vây cánh của trường chuyên Lê Quí Đôn nào đó ở “thành phố mang tên bác” thản nhiên lấy tiền đô la, làm hồ sơ ma nhận cả một đám học trò dốt nát, con cháu của những đại gia và các ngài quan lớn (trong đó có con trai của đồng chí chánh thanh tra sở giáo dục thành phố) vào ngôi trường chuyên một thời có tiếng.

Tội nghiệp, chẳng lẽ mới lớn lên, các em đã phải học những điều gian dối, và tương lai các em sẽ ra sao với một nền giáo dục và văn hóa “phong bì”?

Cũng may mà các em còn bé và ở tận một vùng quê, nên không biết nhiều về đạo đức của các nhà “mô phạm”, những “nhất tự vi sư bán tự vi sư” một thời được dân chúng trải chiếu hoa mời ngồi dưới mái đình làng.

Ngoài Hà Nội, có lẽ vì thành phố thủ đô trữ tình với mùa thu và hương hoa sữa, nên ông thầy già trưởng khoa Đỗ Tư Đông “khả kính” ở trường Cao đẳng Truyền Thanh Truyền Hình nhà nước “lấy điểm gạ tình” một số nữ sinh viên. Thầy chỉ cho điểm cao khi nào trò hoàn thành nhiệm vụ “trả bài” cho thầy trong khách sạn!

Dưới cái tỉnh Bình Phước mới toanh, nên thầy Lê Hoàng Sang, Hiệu trưởng trường Lê văn Tám (lại Lê Văn Tám!) cũng vừa làm một điều vô cùng tân tiến: bắt các cô giáo chưa chồng phải uống rượu cùng các quan lớn địa phương, bất kể trưa chiều hay trước giờ lên lớp. Nếu lỡ gọi các quan già bằng “chú” mà không phải bằng “anh” thì bị thầy hiệu trưởng nạt nộ đòi kỷ luật.

Mới đây trên đài BBC, Tạ Phong Tần, cán bộ sở thuơng Mại Du Lịch Bạc Liêu, sau một khóa được đào tạo tại chức, đã công khai tuyên bố: “Không ít tiến sĩ, thạc sĩ là những người biết diễn đạt những điều đơn giản trở thành khó hiểu hoặc không ai hiểu nỗi.” (nguyên văn)

Cầu mong cho các em học trò nhỏ ở quê tôi không nghe được mấy cái tin “vui” này đăng đầy trên báo mỗi ngày, để còn thấy mùa thu trên quê nghèo vần còn một chút thơ mộng dễ thương.

Trước khi rời khỏi quê hương, tôi ghé lên thành phố thăm thằng bạn học cũ, trước tháng 4/75 là một giáo sư toán-lý-hóa nổi tiếng của một trường trung học lớn. Bây giờ ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè. Con cái nó cũng đã nghỉ học từ lâu để lăn vào cuộc sống, nên mấy cái bằng cử nhân toán từ cái thời 63-64 chỉ còn cùng để… gói thuốc lá. Bỗng dưng tôi nhớ tới bài thơ của một ông nhà thơ nào đó trong nước mà lòng thấy ngậm ngùi.

“Thầy có nhớ con không…?”

Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác

người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.

“Thầy còn nhớ con không…?”

Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng

hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè

rụng xuống trên vai người thầy học cũ

“không… xin lỗi.. ông lầm…

Tôi chưa từng dạy học

Xin thối lại ông tiền thuốc… cám ơn!”

Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn

Thầy học cũ mười năm không lầm được

Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc

giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.

Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư

người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,

chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,

biết yêu anh em – đất nước – xóm giềng.

Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,

Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.

Bên hè phố im lìm,

vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.

Câu phủ nhận phải vì câu áo rách

trước đứa học trò quần áo bảnh bao?

Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,

những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.

Mười năm nữa đứa nào trong số đó,

sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?

(ĐỖ TRUNG QUÂN - Có Một Chiều Tháng Năm)

Ngày rời khỏi quê hương, ngồi trên máy bay nhìn xuống, mùa thu Sài gòn không có lá vàng rơi, cũng không có con nai vàng nào ngơ ngác, mà sao tôi thấy như vàng cả không gian, ảm đạm cả đất trời. Tôi bỗng ngộ ra một điều ngộ nghĩnh: Đâu phải chỉ có mấy ông nhà thơ, mấy ông nhạc sĩ mới nhuộm buồn được mùa Thu, mà có những “đỉnh cao” đang ngự trị trên quê hương tôi, dù chẳng có một chút xíu tâm hồn nào, có khi không có cả quả tim, cũng có thể làm cho mùa thu quê tôi… buồn chết được.

Phạm Tín An Ninh

304Đen - Llttm

 

 

 

Friday, March 13, 2026

Nơi Này Vẫn Vậy - Nguyễn Đạm Luân

 Nơi Này Vẫn Vậy




Đợi Thu Hoạch Mãng Cầu - Nguyễn Cang

 

Tản mạn : ĐỢI THU HOẠCH MÃNG CẦU




Cách nay 2 năm ở CA có phong trào “Trồng cây gây ghiền” do một nhóm ACE miền Bắc CA (Sanjose) thành lập, mỗi năm họp một lần tại một Park cách trung tâm Sanjose không xa. Mục đích chia sẻ cách trồng cây, chăm sóc, bón phân, thu hoạch. Có người mang theo sản phẩm để khoe với bạn, không khí thật vui tươi, hào hứng. Phong trào trồng cây ( ăn trái) phát triển rất mạnh, nhiều người đổ xô đi mua cây, những cây giống tốt được order từ Nam CA hoặc các tiểu bang khác chở đến giao cho khách hàng, qua XE ĐÒ HOÀNG, hoặc đường bưu điện.  Các loại cây được ưa chuộng là : mãng cầu, táo Tàu, nhãn, ổi v.v. Nói về táo thì có nhiều loại: táo GA 866, táo Sugar cane, Honey jar, Tiger tooth…Riêng mãng cầu thì có: mãng cầu Úc, mãng cầu Do Thái, mãng cầu Ta…

Ở Sanjose nhà hẹp, đất đá nên người ta thường trồng cây trong chậu, kích cở : 5, 10, 15, lớn nhất là 25 galon. Tôi ở apartment nên không trồng cây được, phải trồng nhờ nhà mấy đứa con. Mỗi tuần tôi đến đó để tưới cây, bón phân, phụ với con vì chúng nó không rãnh. Cách nay 2 năm tôi có trồng 2 cây mãng cầu ( tháp nhánh) bây giờ nó cho 5,3 trái ( sắp thu hoạch đầu tiên, chưa biết ngon dở thế nào) mấy đứa con lấy làm phấn khởi vì lần đầu thu hoạch mãng cầu do chính tay trồng trên đất nhà! Chúng bảo ngày nào cũng ra vườn ngắm nghía, sờ bóp trái mãng cầu, thử xem chin chưa? Tôi bảo hãy đợi 2 tuần nữa , hái sớm coi chừng chưa già !Niềm vui ở đây không phải là trái cây ngon mua từ chợ về mà chính là lúc ngắm cây từ khi nó trổ bông, ra trái, lớn dần từng ngày từng tháng cho tới khi trái chín. Hôm nay nó lớn một chút, ngày mai một chút, nó truyền niềm vui,  cảm hứng vào tim vào óc làm nhẹ đi những căng thẳng, bất bình trong cuộc sống. Ta thấy sự sinh tồn của loài thực vật hiện diện nơi đây, nó phát triển âm thằm nhưng mãnh liệt : lớn lên, già, chín, hủy diệt, giống kiếp sống của con người theo luật tuần hoàn của vũ trụ ( sinh lão bệnh tử).

Thật là một thứ giải trí thanh cao, lành mạnh thay vì nhậu nhẹt, đàn đúm. Cái thú tiêu khiển nầy hình như chỉ thích hợp cho người lớn tuổi chứ bọn trẻ nó không chịu. Xin giới thiệu với bạn đọc mấy trái mãng cầu đầu tiên sắp chín ở vườn nhà con trai, Sanjose. Chủ nhà vườn bảo đó là mãng cầu Úc ! Cây cao độ 1.5 m, có tất cả 3 trái trên cùng 1 nhánh, rất tiếc trái lớn nhất ( ở cành đối diện) bị rụng do gãy nhánh. Thật uổng !

Nguyễn Cang (Mar. 7, 2026)

 

 

 

 

Trong Bóng Tối Buổi Chiều - Thạch Lam

 

Trong bóng tối buổi chiều




Diên đứng nép mình vào cửa hàng nước, nhìn sang bên kia phố: một đám thợ chen nhau trong cổng nhà máy đi ra, người nào cũng có dáng mỏi mệt; cái ánh sáng buổi trưa mùa đông tuy mờ sạm cũng đủ làm cho họ nhấp nháy mắt và đưa tay lên che, như những người vừa bước trong bóng tối ra.

Diên nhận kỹ từng người, đưa mắt theo bọn thợ đàn bà vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ và nghịch ngợm. Chàng không thấy có Mai trong đám ấy. Diên đợi một lát; đến khi thấy hai cánh cửa nặng nề của nhà máy khép lại, Diên mới quay đi rảo bước theo các người thợ. Trên nét mặt chàng hiện ra vẻ băn khoăn:

- Không biết Mai đâu? Hay là đã ra từ trước mà ta không thấy?

Diên muốn nắm lấy một người thợ đàn bà mà hỏi, nhưng lại không dám. Vả lại. Diên sợ hỏi người ta thế, Mai biết sẽ không bằng lòng. Diên vừa đi vừa nghĩ ngợi. Chàng nhớ hết lại các cử chỉ của Mai đối với chàng gần đây. Lần này không phải là lần đầu chàng đi đón Mai gấp. Trước kia không bao giờ thế, vì Mai đã biết thế nào Diên cũng đến đón nàng.

Vậy ra Mai đã có ý lẩn tránh, Diên hỏi đoán ra nguyên cớ tại sao và một mối hờn giận nổi dậy trong lòng; chàng nghiến chặt răng lại và nện bước mạnh trên hè phố.

Diên nhớ lại những ngày sung sướng khi còn ở quê nhà, khi chàng và Mai len lỏi đùa nghịch nhau trong những vườn sắn trên sườn đồi. Mai là một cô gái tinh nghịch và lanh lợi, hay cười nói luôn miệng. Còn Diên là một anh trai ít nói và nhút nhát, trước mặt con gái hay ấp úng và ngượng nghịu. Hai người yêu mến nhau từ thuở nhỏ với mối tình yêu mộc mạc và đằm thắm của những người nhà quê.

Rồi đến ngày cả hai gia đình nghèo. Diên và Mai theo cha mẹ ra tỉnh tìm việc. Mai được làm thợ con gái trong nhà máy, còn chàng thì học việc ở một hiệu buôn. Hai người kiếm chỉ đủ tiền sống một cuộc đời thiếu thốn và tồi tàn ở tỉnh thành. Cái tình của đôi bên, tuy vậy, vẫn không thay đổi và cứ mỗi buổi xong việc làm, Diên lại đến nhà máy đón Mai cũng về một xóm ở ngoại ô.

Diên thở dài. Bởi chàng nhận thấy ít lâu nay Mai không hay chuyện trò với chàng nữa, và hình như có ý muốn tránh mặt chàng.

Ít lâu nay, ngày nào Mai cũng đi chơi với mấy người bạn gái trong sở, mấy cô gái lẳng lơ và hay làm đỏm mà xưa kia Mai vẫn tỏ ý ghét. Trước sự thân thiết ấy, Diên một hôm đã ghen tức, nói mỉa bạn, thì Mai trả lời:

- Bọn họ cũng như tôi, có gì mà anh ghét?

Diên giận lắm, nói:

- Thế cô không biết tại sao mà họ có nhiều tiền tiêu ư?

Mai lặng yên không trả lời. Diên muốn cho Mai hiểu rằng những cô bạn đó trước cũng chỉ là những thợ "con gái" như mọi người thợ khác, nhưng nay được vừa mắt ông chủ, nên mới có nhiều tiền tiêu. Diên toan nói nhiều nữa nhưng lại thôi, sợ làm mất lòng Mai và chàng chắc rằng Mai cũng biết thừa sự ấy.

Một hôm, Diên bắt gặp Mai đang ngắm nghía vật gì trong bàn tay. Chàng vừa đến gần thì Mai vội giấu ra sau lưng. Diên giằng ra xem, thấy một cái nhẫn mặt nhỏ bằng vàng. Chàng ngạc nhiên hỏi:

- Cô mua nhẫn đấy à? Tiền đâu thế?

Mai ấp úng, ngượng nghịu không trả lời. Diên hỏi gặng mãi, Mai nói là của một người bạn gái cho mượn. Nhưng nhìn vào đôi mắt trong của Mai, Diên biết rằng Mai không nói thật.

Nghĩ đến đây, Diên thấy nao nao trong lòng; một điều lo sợ thấm dần vào tâm can chàng, cùng một lúc với sự chán nản. Một ý nghĩ muốn rời bỏ cái đời bụi bậm ở chốn tỉnh thành này, trở về với công việc ở thôn quê.

Đột nhiên, Diên đứng dừng ngay lại; chàng vừa thoáng thấy bóng Mai qua cửa kính một hiệu cao lâu nhỏ ở đầu phố. Diên rón rén đứng ngoài cái màn treo, nhìn vào. Chàng thấy Mai ngồi với mấy bạn gái, đương cười đùa vui vẻ và cuối bàn có một người thợ đàn ông đang ghé tai thì thầm với một cô trong bọn.

Khi trông thấy người ấy, quả tim Diên bỗng đập mạnh như một con chim sợ hãi. Mắt chàng hoa lên và chàng lảo đảo tựa vào bức tường cho khỏi ngã.

Diên mới nhận ra người đàn ông ngồi đó là một người thợ cùng làm ở nhà máy với Mai, mà tất cả mọi người đều gọi là "bà mối". Hắn ta chỉ có một công việc làm trong xưởng, là dẫn dụ các cô gái nào mà ông chủ để ý đến. Người thợ con gái được hắn vời đến tất sẽ trở nên một bà chủ con trong xưởng, quyền hành nắm trong tay và nhất là được tiền để sắm sửa ăn mặc. Rồi một hai tháng, khi ông chủ đã chán, lại nhường chân cho kẻ khác.

Nghĩ đến Mai cũng như những cô gái ấy, Diên thấy lòng thắt lại như trước một tai nạn gì ghê gớm. Diên thấy choáng váng cả người, chàng nghiến răng, khẽ lẩm bẩm: "Con khốn nạn!".

Chàng muốn nhảy ngay vào phía trong lôi ngay Mai ra mắng cho bõ ghét. Hai tay chàng nắm lại; nhưng cái bản tính nhút nhát vẫn thắng; chàng lưỡng lự một lát rồi lại lẳng lặng cúi mình rảo bước đi mau.

Về đến nhà, Diên nằm vật xuống giường, chán nản. Căn phòng chật hẹp, tối tăm làm chàng khó thở. Diên nhớ lại cái quang cảnh u ám buổi trưa: những thợ thuyền đầy bụi bậm, những bộ quần áo bẩn thỉu, cả căn phố đen với vết than và nhất là cái nhà máy sừng sững dưới các bức tường loang lổ. Diên lại nghĩ đến cánh đồng ruộng ở quê hương, đến những rặng cây mà ánh sáng buổi ban mai làm rung động đến cái hình dáng đáng yêu của Mai khi đi bên mình chàng.

Nghĩ đến những ngày sung sướng ấy, và sự nghèo hèn của mình bây giờ Diên thấy tủi thân, rơm rớm nước mắt khóc.

*

Buổi chiều. Diên sang nhà Mai, thấy nàng vừa mới đi làm về. Chàng đến gần Mai, không dám nhìn nàng, chỉ bảo:

- Cô Mai, cô ra đây tôi có câu chuyện muốn nói.

Mai bước theo sau. Hai người lặng yên đi trên con đường đất ra bãi cỏ sau nhà, chỗ mà mọi khi hai người vẫn gặp nhau nói chuyện.

Đến nơi, Mai ngồi xuống vệ hè, chờ đợi. Diên đứng yên bên cạnh không biết nói gì. Cái thương yêu mà giận dỗi rối loạn trong lòng chàng, và những câu muốn nói ngập ngừng như không ra khỏi miệng. Mai thì cứ cúi mặt xuống vân vê dải yếm. Mãi Diên mới cất tiếng hỏi ấp úng:

- Em Mai, sao độ này em cứ trốn tránh anh? Em không yêu anh nữa hay sao?...

Rồi Diên không rõ mình nói gì nữa: tất cả những sự uất ức, thương yêu chàng nói ra cả.

Diên nhắc lại những ngày đầm ấm ở thôn quê, đến cái tình thân thiết của đôi bên. Tự nhiên Diên thốt được những câu để bày tỏ nỗi lòng. Lời chàng dịu dàng và tha thiết như lời van xin của một người đau khổ.

Bỗng nhiên Diên ngừng lại. Mai, hai tay úp mặt xuống khóc. Diên thấy hai vai nàng nức lên. Cảm động, Diên cúi xuống để an ủi người yêu, chàng giơ tay để khẽ lên cánh tay Mai. Nhưng chàng lại đứng ngay dậy, mở mắt to ngơ ngác như người điên. Diên vừa mới nhận cách ăn mặc và trang điểm của Mai, nhẫn ở ngón tay và hoa tai lấp lánh dưới mái tóc, sang trọng như các bà giàu có.

Và Mai đánh phấn! Đôi môi có vết son của cô gái trước kia quê mùa mộc mạc làm chàng rùng mình nghĩ đến những bộ mặt trát phấn, những đôi môi đẫm son như thấm máu mà chàng thường trông trước cửa những chỗ ăn chơi.

Diên bàng hoàng và lạnh lẽo cả người; chàng hình như thấy một cái sức mạnh vô cùng đến chia rẽ Mai với chàng. Một nỗi đau đớn nghẹn ngào đưa lên chẹn ngang cổ họng, Diên nấc lên một tiếng rồi cúi đầu chạy trốn trong bóng tối của buổi chiều vừa xuống.

Thạch Lam

Hoa Thạch Thảo & Mây Và Gió - Nguyễn Thị Châu

HOA THẠCH THẢO

 


 










Tôi vẫn nhớ cành hoa xưa Thạch Thảo

Cánh hoa xinh trăng trắng tuổi xuân thì

Chuyện chúng mình đã đến lúc chia tay

Thôi áo trắng anh đi vào quân ngũ

 

Hoa Thạch Thảo anh trồng ngay trước ngõ

Và mỗi ngày anh đưa đón em thơ

Cô giáo nhỏ vì ai? Cứ mong chờ

Anh lính trẻ ra đi vì Tổ Quốc

 

Thạch Thảo buồn bơ vơ nhìn đầu ngõ

Chờ anh về tưới nước cánh hoa xinh

Kể chuyện hành quân và chuyện chúng mình

Vui hớn hở cành hoa tươi Thạch Thảo

 

Rồi từ đó anh đi không trở lại

Cánh hoa buồn héo hắt gió thôi bay

Đang khép cánh, trào dâng nước mắt đầy

Hoa Thạch Thảo vì ai? Mà rơi lệ

 

Thời chinh chiến áo thư sinh xếp lại

Đem thân mình trả nợ cho núi sông

Cô giáo nhỏ, chờ ai? Ở bên song

Hoa Thạch Thảo thở dài ngoài đầu ngõ…!!!

 

11-3-2026

Nguyễn thị Châu

 

MÂY VÀ GIÓ

 












Mây chiều lạc lõng bay về đâu?

Mưa bay lất phất nhớ cung sầu

Sợi nắng vẫn treo trên cành lá

Gió ở nơi nầy cũng đìu hiu

 

Mây ở trên cao, gió ở đây

Nhớ nhau lệ thấm ướt vai gầy

Xa gió trong lòng như giông bão

Mây tìm muôn hướng có ai hay?

 

Bỡ ngỡ tìm quanh không thấy ai

Giọt mưa sao cứ mãi rơi hoài

Mây gió tìm nhau như bật khóc

Tạo hoá bày chi nỗi đắng cay

 

Lắng nghe tiếng gió ở đâu đây

Thả hồn theo gió đếm lá phai

Bao nhiêu lá rụng bao niềm nhớ

“ MÂY” Bốn phương trời theo “ GIÓ” Thôi…!!!

 

11-3-2026

 Nguyễn thị Châu

Lên Mười - Mai Thảo

 

Lên mười




 

Vừa ra khỏi nhà, Tuyến đã cắm đầu chạy. Mẹ trong nhà có thể đang cau mặt nhìn theo, cha trong nhà có thể lớn tiếng gọi lại – cha mẹ dạy Tuyến đi đứng phải chững chạc khoan thai ngay từ tuổi nhỏ, chạy nhảy chỉ có lũ mục đồng – nhưng một sức mạnh vô hình đã xô đẩy Tuyến từ sau lưng. Và ngay từ bước đầu, Tuyến đã muốn hóa thân thành gió. Phải cho Hậu biết ngay cái tin dữ. Cái tin dữ bàng hoàng, khủng khiếp. Tức khắc. Và Tuyến chạy. Tuyến chạy lao thành một mũi tên bay.

Con đường lớn, lát gạch đỏ chói, vòng về phía sau ngôi nhà hai tầng của gia đình Tuyến thì thu nhỏ hẳn lại, thân mật và mát đằm dưới cái bóng mát lao xao của hàng nghìn lá tre thon nhỏ như những ngón tay người. Mầu đất nâu đậm, vẽ thành một đường chỉ lượn giữa hai bờ cỏ. Cái đường chỉ nâu ấy đang chạy theo Tuyến. Nó chạy bằng lùi ngược chóng mặt dưới đôi chân ra ràng của Tuyến bay đi.

Buổi sáng vừa dậy. Cha mẹ mới dậy đây thôi. Trâu vừa ra khỏi chuồng. Trên những đầu cỏ, sương ban mai còn chụp lên từng ngọn một cái mũ ngọc óng ánh. Chân trời bên kia để đã cháy hồng. Nhưng bên này đê, trên cái chiếu lá xanh lam, làng xóm mới thức còn là một vùng hiền hòa yên tĩnh vây bọc lấy cái bóng thoang thoáng của đứa nhỏ chạy miết. Tuyến nghe thoáng thấy một tiếng chim kêu trên đầu. Và sự va chạm lạt sạt của cỏ đường vào hai ống quần phần phật đập gió. Một con lạch thình lình chắn lối. Tuyến mím môi, lấy đà, nhảy băng qua. Một gò đất bất ngờ hiển hiện. Tuyến vấp, chúi về phía trước. Cái gò đất khốn nạn làm Tuyến ngã sóng soài. Nhưng Tuyến không còn biết đau là gì. Đứng phắt lên, quần áo lấm lem, nhễ nhại mồ hôi, Tuyến nhịn thở, lại bốc đi thành gió.

°

Hết con đường nhỏ, ra khỏi cái um tùm của lũy tre cũ, Tuyến đứng khựng lại trước một cây cầu gỗ. Cây cầu làm bằng hai phiến lim đen bóng, vắt qua một dòng sông con. Mặt nước phía dưới hiền lành, trong vắt. Bên kia cây cầu, là ngôi trường tiểu học của làng. Đã tháng Chín rồi. Đang giữa mùa hè rực rỡ. Nhưng ngày nhập học chưa tới. Và ngôi trường với những phiến ngói đã ngả màu trên mái cũ, với hành lang vắng lặng và những cánh cửa sổ đóng kín, nằm đó, im lặng, trong cảnh trí thiêm thiếp của một ngưng đọng lăn lóc kéo dài. Một mùa thi đầy những lo âu hồi hộp đã qua đi. Những đêm khuya, trong giấc ngủ chữ còn nhảy nhót. Những ngày học gấp, ngồi cả hai buổi sáng chiều trước bảng, nhìn đi đâu cũng một màu bảng đen. Bây giờ Tuyến đã mười tuổi. Tuyến đứng đó, rưng rưng ngó nhìn ngôi trường sắp thành cũ của mình.

Vuốt lại mái tóc, nét mặt trang nghiêm, xúc động, Tuyến thở ra một hơi dài, bước lên cây cầu. Ngày khác, Tuyến đã nghiêng cái bóng học trò xuống dòng nước bạn. Dùng nó làm gương. Mây trên trời phản chiếu, soi đời ấu thơ. Sáng nay khác. Trầm trọng và căng thẳng. Tuyến thận trọng lần bước trên gỗ, đi vào cái địa hạt tịch mịch không một tiếng động. Khoảng sân đất ngập đầy lá rụng. Mặt đất nhằng nhịt những ô vuông ô tròn là những đường vẽ của những bàn bi bàn đáo. Hết đánh đáo rồi. Bi không lăn nữa. Đầu Tuyến còn nhỏ, chất sao hết được những kỷ niệm trái núi. Trí nhớ Tuyến yếu, một bài sử ký còn không nhớ nổi, nhớ hết làm sao đây những muôn vàn kia là hình ảnh tuổi hồng. Thăm trường cũ một lần cuối cùng đây. Sáng mai, trên mặt con đê cao, một chuyến xe đò sẽ chờ đợi Tuyến. Bốn cái bánh khủng khiếp hung dữ của xe sẽ lăn thay đường lăn hiền của những hòn bi. Xe lăn thật xa, đưa Tuyến xa trường. Xe lăn thật xa. Từ làng ra tỉnh. Và Tuyến muốn khóc. Khóc thật lớn. Với Hậu.

°

Tuyến nắm tay Hậu, kéo bạn ngồi xuống. Chung quanh, cỏ cao hơn tầm đầu. Chỗ ngồi này, ở phía sau căn nhà lá của ông già Tám, mõ trường là cha đẻ của Hậu, là nơi ẩn náu kín khuất nhất của cả khu vực nhà trường chạy dài từ bờ sông tới hàng rào xương rồng nhà ông trưởng xóm. Tuyến khám phá ra nó trước Hậu, một buổi sáng cuối năm học, khi đôi bạn luồn cỏ đi tìm những con giun đất làm mồi cho một buổi câu những con cá rô đen nháy quẫy nảy ồn ào ngỗ ngược dưới chân cầu. Cái diện tích bé nhỏ giữ cỏ bồng vây bọc từ đó là của riêng Tuyến. Sở hữu này Tuyến chia cho Hậu, bảo làm của chung, thứ của chung tuổi thơ quý báu muôn vàn chỉ có thể chia cho người bạn lòng thân thiết nhất. Người bạn thân thiết nhất của Tuyến là Hậu đó. Tuổi nhỏ khác người lớn. Cái thế giới tuổi hồng của Tuyến và Hậu chưa có những phân biệt khốn nạn như ở người lớn. Thành ra cái sợi dây nối kết đằm thắm nhất đã có được giữa cậu con trai ông chủ đất giàu có nhất làng với đứa con gái hèn mọn của ông già mõ trường. Gặp cha Tuyến, ông già Tám cúi gập đầu xuống. Tránh sang một bên. Sợ hãi và kính cẩn. Tuyến nhìn chẳng thấy hơn Hậu ở điểm nào. Chúng mình bằng nhau. Như cao bằng đầu. Như cùng một tuổi. Như chung một lớp. Như cùng nắm tay. Phải không Hậu? Tuyến đã hỏi. Hậu đã gật. Như thế, đôi bạn đi song song từ đồng ấu tới sơ đẳng, sánh vai nhau hết một tuổi vàng. Bây giờ, cái tin ghê gớm ấy vừa nhận được. Như sét đánh. Và cái lẽ tự nhiên là Tuyến phải cho người bạn của Tuyến biết nó trước nhất.

Yên lặng một lát. Nắng đã dấy lên, làm nóng dần những thân cỏ lạnh. Một đàn chim sẻ từ đâu ào tới, hạ cánh xuống mái trường. Màu nâu của sẻ lẫn vào màu nâu của ngói cũ. Sân trường vắng tanh, không một bóng người qua.

“Quần áo mày lấm hết rồi” - Hậu nói.

Tuyến gật, bấy giờ mới nhìn xuống những vết đất loang lổ trên nền vải trắng:

“Tao ngã”.

“Sao ngã được?”

“Tao chạy”.

“Ngã chỗ nào?”

“Quãng cái gò đất trước nhà thằng Duyệt”.

“Trời mưa chỗ đó trơn ghê à! Tao cũng ngã một lần ở đó”.

Trong im lặng khuất lánh, câu chuyện giữa đôi bạn nhỏ xem chừng vẩn vơ, không đâu. Tuyến và Hậu không biết nói chuyện. Như người lớn. Kể cả trong những giờ phút trước khi chia tay buồn rầu này, mà đáng lẽ, chúng có hàng nghìn lời phải nói với nhau. Mà với nhau, từ đầu, đâu cần phải nói. Mày, tao, đã yêu. Nắm tay, đã bạn. Nhường nhau một trái cam, chia nhau một miếng bánh, đã hơn anh em, gấp nghìn ruột thịt. Lời nói được thay thế bởi một hòa nhập tự nhiên mà thần thánh. Trên mọi thứ tình yêu người lớn. Duy có cái tình yêu tinh khiết của tuổi thơ không cần phải tỏ tình. Tuyến và Hậu đã thế. Tất cả, như chỗ ngồi trong cỏ, đã là chung. Cùng nín thở khi bò tới một tổ chim, cùng hồi hộp khi cái phao cần câu chợt động, lúc đỏ gay mặt đuổi theo một cánh chuồn trên những đầu rạ nắng, khi sắn quần leo cây hái một trái chín trên cành, hòa nhập đã tận cùng bằng ngũ quan măng non treo căng trên hai đầu rung động. Riêng lần này, cái tin sét đánh phải nói ra. Tuyến nói nó ra, đột ngột, thảng thốt, ngắn cộc:

“Mai tao ra tỉnh”.

Cái tin Tuyến đỗ xong bằng tiểu học, hết hè này được cha mẹ cho ra tỉnh học, Hậu đã biết. Lần trước, Tuyến đã nói. Đôi bạn đã bàng hoàng với nhau. Nhưng nghỉ hè chưa hết và tựu trường chưa đến mà. Còn những nửa tháng rong chơi. Để bắt bướm trong vườn. Hái hoa ngoài nội. Còn mấy cái tổ chim sẻ trên mái chưa thăm. Vừa mới vót xong hai cái cần câu mới. Nghỉ hè vui thành nắng. Dải nắng ấy còn dài. Mai là thế nào? Cặp mắt đen láy của Hậu tròn xoe kinh ngạc.

Nhưng đúng là Tuyến phải lên đường sớm mai rồi. Người chú họ, chủ trọ mới của Tuyến, đã từ thành phố xuống tới ấp từ chiều hôm qua. Đề nghị là nên cho Tuyến đi sớm vào tuần trước tựu trường, gọi là cho quen dần với cái không khí thành phố. Cha mẹ Tuyến đồng ý. Thế là mai Tuyến đi. Thế là bữa nay là buổi chia tay.

Đôi bạn ra khỏi những thân cỏ trùm đầu. Nắng đã lên cao và bầy chim sẻ đã bay qua sông, bay vào trong xóm. Khoảng sân đất vắng tanh không một bóng người. Tuổi nhỏ không biết dặn dò. Chẳng biết thế nào. Trời đất xa rộng quá. Con đê đã là chân trời. Cây cầu đã là biên cương. Ngoài làng là thế giới. Thành phố nghìn dặm. Tựu trường sẽ cướp mất Tuyến đi. Gặp lại Hậu khó. Tuyến chỉ biết thế. Chỉ biết nắm tay Hậu thật chặt. Đôi bạn đi lững thững. Hai cái bóng nhỏ thó đổ dài trên mặt sân chơi. Này là cái vạch vuông của bàn đáo hòm. Tặng lại cho Hậu. Này là cái vạch thẳng của đường bi lăn, này là khoảng mòn của chỗ nhảy dây, này là gốc cây, nơi để cặp  sách, tặng lại, tặng lại cho người thân thiết nhất. Tuyến còn muốn tặng nữa. Những cái chung cho hết không gửi. Những cái gửi cho luôn không đòi. Thế giới tuổi vàng của Tuyến, tặng hết cho Hậu từ đây. Hậu thân thiết, Hậu con ông mõ trường, Hậu hay khóc, cười lúm đồng tiền, mắt tròn đen láy, hãy giữ lấy, hãy giữ lấy cái thiên đường tuổi nhỏ. Nơi chân cầu đá cá rô từng đàn quẫy nhảy, mái hiên trường chim thường làm tổ, cái bãi hoang sau lò gạch đầy những cỏ gà, cây khế ngọt nhà ông trưởng xóm, bảng đen đồng ấu, phấn trắng nhi đồng, lớp học ngày mưa vang tiếng mưa rơi, cái trống cái thùng thùng điểm giờ vào lớp, những tập vở vỡ lòng chi chít hình vẽ, con bướm ướp vào trang sách, những đồ chơi giấu trong cặp da, và cái chỗ ẩn nấp kín khuất trong cỏ, cho hết Hậu đó. 

Con nhà giàu mới ra tỉnh được. Con ông mõ trường, đậu xong cái bằng tiểu học là thôi học ở nhà, sáng sáng dọn lớp, quét sân thay bố. Tuyến và Hậu đều còn nhỏ quá. Nhưng đôi bạn đều mang máng cảm thấy một đứt ruột lớn lao, một mất mát khủng khiếp. Mai ra tỉnh rồi. Trường làng bỏ lại. Những ngọn cỏ và cô bạn nhỏ. Và Tuyến muốn khóc òa.

°

Buổi sáng hôm sau đứa con gái lên chín chạy như bay trên đúng đoạn đường nhỏ mà thằng bạn lên mười của nó đã chạy như lao buổi sáng ngày hôm trước. Vẫn buổi sáng như mọi buổi sáng thôn dã hiền hậu. Vẫn trên đầu những lá tre như những ngón tay người. Vẫn đất dưới chân, nâu đậm và đằm đằm bóng mát. Nhưng đứa con gái chạy đến nửa đường thì đứng lại. Từ một bờ đê cao, phía mặt trời lên, vọng tới chỗ dừng đứng bàng hoàng của đứa nhỏ, một tiếng còi xe. Tiếng còi lanh lảnh vang vang rồi nhỏ dần, mất dần về một hướng thành phố hung dữ.

Mai Thảo

Tiểu Siêu Tam Tình Hiến Dâng - Vũ Thế Thành

 

Tiểu Siêu – Tâm tình hiến dâng

Tôi mượn tựa đề “Tâm tình hiến dâng” của Tagore (qua bản dịch của Đỗ Khánh Hoan) để nói về tình yêu của Tiểu Siêu dành cho Trương Vô Kỵ.

Vũ Thế Thành

 


Tiểu Siêu gặp Trương Vô Kỵ lần đầu trên Quang Minh Đỉnh, trụ sở chính của Minh giáo, khi nàng là nô tì, tay chân bị xiềng xích. Lúc đó Vô Kỵ đang truy đuổi dấu vết của Viên Chân và mất dấu. Tiểu Siêu dẫn chàng vào mật đạo để lùng tìm, và bị Viên Chân dùng đá bít cửa ra.  Trong mật đạo Tiểu Siêu tình cờ tìm được mảnh da dê ẩn chứa Càn Khôn Đại Nã Di, một bí quyết võ học chỉ giáo chủ mới được phép luyện tập.

Càn Khôn Đại Nã Di giúp con người tận dụng nguồn năng lượng mà cơ thể bỏ phí, đồng thời mượn thế, mượn lực của đối phương để quay sang tấn công chính họ. Tiểu Siêu giải mã bí quyết ở tấm da dê, và khuyên Vô Kỵ tập luyện để hy vọng thoát ra ngoài.

Để luyện “Càn khôn” cần có nội lực thâm hậu. Vô Kỵ nhờ có Cửu Dương thần công nên luyện tới bậc cao nhất (thứ 7) chỉ trong vài canh giờ. Đó là khoảng thời gian cả hai chia sẻ chút hy vọng le lói. Tiểu Siêu luôn bên cạnh khích lệ và chăm sóc Vô Kỵ. Luyện xong, Vô Kỵ phá tảng đá bít cửa, cả hai thoát ra khỏi mật đạo.

Khi đó, Minh giáo đang bị các đại môn phái vây đánh tại đỉnh Quang Minh vì cho là ma giáo. Người Minh giáo lại đang bị trọng thương, mất nội lực do Viên Chân hãm hại. Vô Kỵ ra tay giải cứu. Sau đó được giáo chúng bầu làm giáo chủ.

Cảm kích lòng tốt của Vô Kỵ đối với mình, Tiểu Siêu xin được làm con hầu cho chàng, dù tay chân đang bị xiềng xích. Từ đó, Tiểu Siêu theo sát Trương giáo chủ khắp mọi nơi, thay áo, chải tóc, nấu ăn, chăm sóc vết thương, luôn lặng lẽ theo sau Vô Kỵ như bóng với hình. Trên sa mạc hay các chuyến đi xa, nàng luôn âm thầm lo lắng, nhắc nhở chàng dưỡng thương, tránh nguy hiểm – dù bản thân cũng mệt mỏi, khổ cực.

Thật ra, thân phận của Tiểu Siêu không tầm thường. Cha là người Hán, mẹ Ba Tư (Iran), nên nàng có ít nhiều nét đẹp lai Á – Âu, dù Ba Tư còn thuộc vùng Tây Á.

Mẹ nàng, Đại Ỷ Ty, thuở xưa được tiền định trở thành thánh nữ đồng trinh của Minh giáo Ba Tư, được phái sang Minh giáo Trung nguyên “công tác”, bí mật tìm bí quyết Càn Khôn Đại Nã Di của bổn giáo đã bị thất lạc. Với Minh giáo Trung nguyên, bà là một trong tứ đại pháp vương, võ công không phải tầm thường. Tại đây bà phải lòng một thanh niên Hán tộc. Tiểu Siêu là kết quả của mối tình dị tộc này.

Đôi vợ chồng rời bỏ đỉnh Quang Minh đi ở ẩn. Với Đại Ỷ Ty là trốn tránh sự truy nã từ Minh giáo Ba Tư về tội phản giáo, vì đã buông bỏ vai trò thánh nữ chạy theo ái tình. Sau này, bà cử Tiểu Siêu xâm nhập Minh giáo Trung nguyên làm con hầu, bí mật tìm bí quyết “Càn Khôn” để chuộc lỗi. Cha con Dương Bất Hối nghi ngờ nàng làm do thám nên mới xiềng tay chân. Tiểu Siêu gặp Vô Kỵ trong tình thế này ở Quang Minh đỉnh.

Khi đó, Tạ Tốn, Đại Ỷ Ty , Hân Ly, Triệu Minh, Chu Chỉ Nhược, Vô Kỵ và Tiểu Siêu đang ở Linh Xà đảo, thì Minh giáo Ba Tư cử đoàn tàu, dẫn đầu bởi 3 sứ giả, cầm theo Thánh Hỏa lệnh đi truy bắt Đại Ỷ Ty về hỏa thiêu vì tội phản giáo. Họ phát hiện ra Đại Ỷ Ty, dưới lốt Kim Hoa bà bà, xấu xí ở Linh Xà đảo. Một trận huyết chiến đã xảy ra ở đây. Ngay Vô Kỵ có nội công thâm hậu bậc nhất, cũng lúng túng với thứ võ công quái dị khác với ghi trên Hỏa lệnh. Bí quyết này không có gì là nội lực, tiến thoái, cương nhu cao siêu, khác với hệ thống võ học Trung thổ, nhưng thế đánh thì uốn éo, thần bí như lên đồng, khiến Vô Kỵ bị trúng… miểng.

Tiểu Siêu nhanh trí, đọc lén những dòng chữ Ba Tư ghi trên hỏa lệnh, dịch lớn tiếng cho Vô Kỵ nghe, còn giải thích những lắt léo trong võ công Ba Tư. Vô Kỵ ngộ ra, lập tức hóa giải và khống chế sứ giả Ba Tư.

Đáng tiếc, đoàn thuyền Ba Tư có nhiều giáo đồ, sẵn sàng truy sát mọi người trên đảo để bắt cho được Đại Ỷ Ty về hỏa thiêu trị tội. Tiểu Siêu đành để lộ thân phận. Nàng đồng ý thay mẹ về Ba Tư làm thánh nữ đồng trinh, nếu không mọi người trên đảo sẽ bị truy sát.  Tiểu Siêu qua thuyền của đối phương, và được suy tôn ngay làm Thánh nữ Minh giáo Ba Tư (giáo chủ) trên boong tàu. Sau đó Tiểu Siêu mời mọi người lên thuyền lớn để đưa về Trung nguyên.

Chợt Tiểu Siêu bước vào khoang thuyền của Vô Kỵ, tay cầm theo áo, xin được hầu hạ chàng lần chót. Đây là khúc bi ca từ biệt đẫm lệ. Tôi trích lại vài đoạn theo bản dịch trước 75 của Từ Khánh Phụng.

“… Đây là lần cuối cùng, xin công tử cho phép tiểu nữ được hầu hạ như vậy. Sau này, chúng ta kẻ Đông người Tây xa cách muôn dặm… Tôi muốn hầu hạ thêm lần nữa cũng không được…”

“Mặc áo cho Vô Kỵ xong, nàng lấy lược chải tóc cho chàng. Vừa chải, nước mắt nhỏ ròng….”

“… Tôi chỉ muốn suốt đời làm con sen, con hầu cho công tử, suốt đời không muốn rời xa công tử…”

Vô Kỵ là Giáo chủ nên nhiều cô si mê, đeo đuổi. Tiểu Siêu luôn bên cạnh nên biết rõ, nhưng chưa bao giờ tỏ một chút thái độ ghen tuông, khó chịu. Nàng chỉ đứng sau lưng, lặng lẽ quan sát từng nét mặt để biết chàng  đang buồn hay vui.

Nếu với Triệu Minh, tình yêu là phải sở hữu, phải có nhau, phải ở bên nhau cho bằng được, bất chấp mọi sự trên đời. Với Chu Chỉ Nhược, đó là mối tình “thanh mai trúc mã”, nhưng đã bị chia đôi với di ngôn Diệt Tuyệt sư thái. Với Hân Ly, tình yêu đó là một Vô Kỵ, hóa thân của Tăng A Ngưu thời thơ ấu, vừa trị bệnh, vừa hung dữ cắn ngón tay nàng ở Hồ Điệp cốc.

Còn với Tiểu Siêu thì sao? Đó là tình yêu thầm lặng, và hy sinh tuyệt đối. Chỉ biết cho đi, nhưng không hề đòi hỏi. Một tình yêu bi kịch nhất, mà cũng thuần khiết nhất. Chẳng phải đó là “Tâm tình hiến dâng” đấy sao?

Thật ra, khi dùng “Tâm tình hiến dâng”, tựa đề tập thơ của Tagore để nói về mối tình Tiểu Siêu là tôi chuệch choạc. Vì nội dung tập thơ là những đối thoại của con người (giới hạn) và Thượng đế (vô hạn), là những tâm sự chất đầy tâm linh, trong đó con người thủ thỉ, chia sẻ với Thượng Đế. Dù thỉnh thoảng trong tập thơ cũng dùng ngôn ngữ tình yêu để thi vị hóa.

Nếu muốn nói đến tình yêu nam nữ, thì phải nhắc đến một tập thơ khác, cũng của Tagore, (cũng qua bản dịch của Đỗ Khánh Hoan), đó là thi phẩm “The Gardener” (Người làm vườn). Tôi trích lại đây vài đoạn ngắn trong tập thơ này. Vì bản dịch đã chỉ đối tượng nói là “anh” (nam), và đối tượng nghe “em” (nữ). Cho phép tôi đổi ngược lại để có thể nói về mối tình của Tiểu Siêu:

“Em đã để cuộc đời em trần trụi dưới mắt anh.Em không giấu anh một điều gì.
Chính vì thế mà anh không biết gì về em.”

“Nếu đời em chỉ là một đóa hoa
tròn trịa, dịu dàng và bé bỏng,
em sẽ hái nó ra khỏi cành để đặt lên mái tóc anh”

“Tâm tình hiến dâng” như Tiểu Siêu có lẽ không có thật trên đời. Thời buổi này lại càng không bao giờ có thật. Nhưng trong văn chương, người ta vẫn cần những nhân vật như thế – để nhắc nhở rằng tình yêu không chỉ là chiếm hữu, mà đôi khi chỉ là đứng phía sau, lặng lẽ chăm sóc một người.

Dù sao, đọc lại Tiểu Siêu cũng là khoảnh khắc để soi lại mình, và nhận ra trong cái gọi là tình yêu, có lẽ mình vẫn còn rất nhiều ái kỷ.

Vũ Thế Thành

304Đen – llttm - sgtc