Saturday, June 30, 2018

Nhà Thơ Và Vị Khách Không Mời - Văn Biển


Nhà thơ và vị khách không mời
 
 

Nhà thơ còn có biệt danh hung thần gác cửa ngôi đền văn học nghệ thuật, từng là nỗi khiếp sợ một thời của giới văn nghệ sĩ. Còn khách là chàng thư sinh khoảng 17-18, nom hiền lành, thuộc giới dân nghèo thị thành, giọng Huế dễ thương.
Bây giờ ta hãy nói tới vị chủ nhân ngôi biệt thự nổi tiếng 76 Phan Đình Phùng – Hà Nội, góc sân vườn có cây táo một thời um sùm.

Ông ngồi đó một góc khuất trong phòng khách. Ông không nhớ mình ngồi như thế này từ bao lâu rồi, mấy tuần, mấy tháng hay cả năm rồi cũng nên. Ông có cảm giác căn phòng dường như theo ngày tháng cứ rộng thêm ra. Bên ngoài chiều chưa xuống hẳn mà bóng tối đã phủ quanh mình. Ông đang chờ tiếng xe máy rồ, tiếng ô tô đỗ xịch ngoài sân… Rồi sau đó là tiếng gõ cửa khi e dè, khi vội vã gấp gáp. Ông có thói quen cứ nghe cách gõ cửa cũng đoán người cần vô gặp mình thuộc loại người nào. Nhưng những tiếng gõ cửa quen thuộc đó lâu rồi không trở lại với ông. Ông chợt cười mỉa khi nhớ lại câu thơ cổ:
“Bần cư trung thị vô nhơn vấn
Phú tại thâm sơn hữu khách tầm”

Ông thừa biết người ta trước đây đến với ông không phải vì giàu hay nghèo mà vì chiếc ghế quyền uy ông đang ngồi. Bao trùm lên ông bây giờ là sự cô đơn khủng khiếp. Ôi, một khi quyền uy đã hết.
Bỗng một tiếng nói nhẹ nhàng giọng đặc Huế vang lên bên tai ông: Không phải do quyền uy đâu ông bạn ạ. Có người uy quyền còn cao hơn ông khi về vườn, người ta đâu có cảm thấy cô đơn như ông.

Ông giật mình nhìn vô chỗ vừa phát ra tiếng nói nghe có vẻ quen thuộc như từ một thời xa xăm nào vẳng tới. Bóng một thư sinh mảnh mai đang đối diện với ông. Một học sinh cấp ba chăng? Một trong những học trò năm nào cũng phải làm đề thi bình luận những bài thơ của ông. Nhưng không phải. Không học sinh nào mà dám ăn nói ngang xương kiểu đó.
Cậu là con nhà ai mà vô nhà không gõ cửa. Và không hẹn trước.

Cửa ông để ngỏ. Mà tôi không phải khách xa lạ. Ông không nhận ra tôi là phải. Chính tôi từ lâu, cũng không nhận ra ông. Từ cái ngày ông từ Huế lên chiến khu nhận những chiếc ghế, tuy chưa lớn như sau này, nhưng ông bắt đầu thay đổi từ đó. Ngay từ hồi đó ông đã cảm thấy “đường ta đi tám thước rộng thênh thang”. Câu thơ như vận vào số mệnh của ông. Lúc nãy tôi cứ sợ mình nhầm nhà, nhầm người. Trông ông xuống cấp quá. Tôi không nói về thể chất mà tinh thần. Nom ông tiều tụy.
Phải chi trước kia câu nói xúc phạm vừa rồi sẽ bùng ra cơn sấm sét trên đầu người khách trẻ. Nhưng ông đổi giận làm lành. (Thật tình hắn ta nói trúng quá).

Tôi biết chứ… Cần có thời gian để quen với môi trường mới. Nhưng một lần nữa, tôi muốn biết mình đang đối thoại với ai đây.
Người khách trẻ cười nhẹ: Vậy đã có bao giờ ông tự hỏi mình là ai không? Mình từ đâu tới? Và bằng cách nào mình ngồi trên chiếc ghế một thời ai cũng sợ? Có phải ông đang cần người nói chuyện. Ông vui lòng tiếp tôi chứ? Tôi không có ác ý gì với ông đâu. Tôi chỉ tiếc…

Nhà thơ nhìn người đối thoại có ý muốn hỏi.
Vâng, tôi tiếc nhưng quá muộn rồi. Không ai làm lại cuộc đời với tuổi ông bây giờ. Song cũng có vài ngoại lệ. Có người trước lúc ra đi đã hồi tỉnh ăn năn. Tỷ như ông Sáu Thọ, suốt quãng đời làm chính trị của mình, ông ta giết người không gớm tay mà toàn là đồng chí. Lúc biết mình sắp chết, ông ta bỏ ra mấy ngày đi thăm các nạn nhân may còn sống sót. Thực ra cũng chẳng vớt vát được gì. Nhưng cảm thấy lòng thanh thản đôi chút trước lúc ra đi. Họ gọi là lúc lương tâm chợt thức tỉnh.

Cuộc đời vốn rộng lượng và công bằng. Ông có biết quyền uy quá lớn đã giết chết tâm hồn và tư cách nhà thơ ở ông. Có người hình dung ông là một vị hung thần, tay trái cầm bút làm thơ, tay phải múa thanh long đao tả xung hữu đột trên mặt trận văn nghệ, tư tưởng, miệng thét ra lửa, tất cả anh em trong giới, già trẻ, cả những tài năng lớn đều bạt vía kinh hồn.
Nhà thơ cố giấu đi sự giật mình, gượng hỏi: Tại sao lại có chuyện tay trái, tay mặt ở đây?
Thì nhà thơ chẳng từng tuyên bố mình chỉ làm thơ để phục vụ cách mạng. Ông có câu thơ “bất hủ” chứng minh điều đó. Người khách trẻ đọc:
“… Trái tim đó
Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều
Phần cho thơ và phần để em yêu”
Rạch ròi chi li đến thế là cùng. Đảng may mắn có một đảng viên như ông, nhưng không ai biết ông đã góp phần tích cực đưa Đảng chóng tới hồi kết thúc. Ai cũng biết Đảng đang duy trì sự sống bằng bạo lực chứ không phải bằng niềm tin của người dân. Ngừng một lát khách chợt hỏi:

Có bao giờ ông thảng thốt không nhận ra mình không? Hay nhận ra mình là 2 con người hoàn toàn khác nhau không?
Cậu có thể nói rõ hơn không.

Lúc mới bước vào con đường tập tễnh làm cách mạng, ông là một chàng thư sinh đáng yêu. Viết về con chim bị nhốt chết ông có những câu thơ:
Đã chết rồi con chim của tôi
Con chim nho nhỏ mới ra đời
Hôm qua nó hãy còn bay nhảy
Chỉ một ngày giam đã chết rồi!


Một tiếng kêu xuất phát từ một trái tim nhân hậu. Thế mà chưa đầy 20 năm sau, cũng chính con người hiền lành có cái tên là Lành đó đã thét ra lửa:
Giết, giết nữa. Bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xitalin bất diệt.

Rõ ràng không ai nghĩ hai bài thơ của cùng một tác giả. Như con bài có lá mặt lá trái. Bài sau là của một “thi sĩ” như con thú đang khát máu. Mà máu ai? Bài thơ viết khoảng những năm 55 – 56, thời gian đó không có đế quốc Pháp, Nhật, Mỹ hay cả ngụy… Vậy là máu của đồng bào, đồng chí của mình. Đó là khởi điểm cho một vị hung thần xuất hiện. Và nhà thơ hô hào lấy máu đó để cúng ai, thờ ai? Thờ những tên bạo chúa cũng say máu đồng chí, đồng bào của mình và máu nhân loại. Thật là khủng khiếp. Vậy mà cả một thời người ta gọi Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc! Nhà phê bình nổi tiếng Hoài Thanh nói: “May mà thời đại ta có Tố Hữu” nhưng chắc chắn câu nói đó không phải từ đáy lòng ông ta thốt lên. Người đời chắc không ai nỡ trách nhà phê bình. Mỗi người phải tìm cách tự cứu mình. Nhân đây xin nói thêm với ông điều này. Trước mặt ông không ai dám nói thật. Ông không có bạn bè để tâm sự. Người ta kể lúc ở chiến khu Việt Bắc, anh em văn nghệ sĩ đang ngồi quanh một bàn café chuyện trò rôm rả, chợt thấy ông tới ngồi cùng, kẻ trước người sau tìm cớ cáo lui hết, bỏ lại một mình nhà phê bình Hoài Thanh ngồi lại… chịu trận. Điều đó chứng tỏ mọi người vừa sợ vừa không thích ông. Thời đó và cả sau này không ai dám nói thật, viết thật. May ra lúc cận kề cái chết Nguyễn Khải có “Đi tìm cái tôi đã mất”, Chế Lan Viên với những tập Di cảo 1, 2… những lời tâm huyết, vừa như những lời sám hối…
Một lát, người khách trẻ chợt hỏi:
Có bao giờ ông tính sổ không?
Cậu bảo tính sổ gì?

Người ta lúc về già thường ngồi tính sổ mình được và mất những gì. Ông được nhiều chứ? Bao nhiêu người (tôi nói những người trong nghề làm thơ và làm cách mạng) tài giỏi hơn ông và công lao cũng hơn ông. Nhưng ông may mắn hơn họ. Ông có tất cả. Khi nhà thơ cộng với người làm chính trị thì sự khôn ngoan quỷ quyệt của nó hơn người làm chính trị suông.
Về gần cuối đời lẽ ra theo sự sắp đặt của cánh Lê Duẩn, Sáu Thọ ông sẽ làm Tổng Bí thư, nhưng cái vụ giá lương tiền ông phụ trách nó làm hại ông. Không may cho ông nhưng may cho Đất nước. Nhưng suy cho cùng cái vụ giá lương tiền lại cứu ông.
Cậu nói thế ý nghĩa là sao?

Ông mà ngồi trên cái ghế Tổng Bí thư, không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Sẽ có vô vàn những chuyện quái gở khi nhà thơ làm kinh tế. Ông có nhớ sau vụ lũ lụt năm nào, chín tỉnh bị lụt chết hết lúa mới cấy ông bắt các tỉnh bằng mọi cách phải phủ xanh hết các cánh đồng. Người ta biết không thể làm được, nó trái với quy luật thiên nhiên nhưng rồi lãnh đạo các huyện, các tỉnh ai cũng sợ, phải làm theo ý ông. Kết quả mấy chục tấn thóc giống thành cỏ dại. Dân đã đói càng đói thêm. Do đó có người nói Tố Hữu chỉ trồng mây trồng gió thôi, chứ trồng lúa dân không có cám mà ăn. Đó chỉ là nói sơ qua chuyện trồng lúa. Ông có nhớ chuyến sang Pháp theo lời mời của báo Nhân đạo không?
Có chứ. Một chuyến đi buồn nhưng đầy ấn tượng. Cậu biết gì trong chuyện này?

Khi bạn đưa ông ra cánh đồng lúa mì xanh tốt, bạn khoe, lúa chúng tôi tốt nhờ hai yếu tố, hai chữ S: Sol và Soleil (đất và mặt trời). Nhà thơ tươi cười. Các bạn có hai chữ S, trong khi ở Việt Nam chúng tôi có tới ba chữ S kia. Bạn nghe, cố đoán xem chữ S thứ ba kia là gì.
Có người thoáng nghĩ chữ S kia là Sang (máu). Nhưng chẳng lẽ người ta bón lúa bằng máu hay sao, dẫu là máu động vật. Chuyện kỳ quái nên không dám nói ra. Tất cả đành chờ nhà thơ giải thích. Nhà thơ chờ một lát dường như cố ý gây kịch tính rồi thủng thẳng nói: Ngoài Sol và Soleil chúng tôi còn có một chữ S quan trọng hơn đó là… Sosialisme! (Chủ nghĩa xã hội).

Có người nghi ngờ, có người ngạc nhiên vẻ thán phục. Họ không biết ở Việt Nam trong dân gian có giai thoại về bốn chữ này. Xã hội chủ nghĩa là “xuống hố cả nút”, “xấu hơn cả ngụy”, “xóa hết chữ nghĩa”, “xếp hàng cả ngày”, “xạo hết chỗ nói”… Ông đừng giận, chuyện dân gian mà. Đến bây giờ thì chắc ông đã thấm thía điều đó rồi. Tuy là chuyện dân gian nhưng nó lại là hiện thực. Đấy là chưa nói trong từ Sosialisme ở Việt Nam còn có cả máu nữa. Rất nhiều máu. Máu của nhân dân, của các đồng chí, của những người yêu nước. Ông lập ra cả một binh đoàn cầm bút suốt mấy thập niên “động viên” con em người ta ra trận, còn tính mạng mình và con em mình thì được bảo vệ chăm sóc chẳng khác các hoàng tử công chúa. Năm 79, khi kinh tế Việt Nam đang ở mức khốn cùng nhưng nhà thơ Tố Hữu yêu cầu các nhà văn phải “nhận ra nhịp đi của lịch sử để thấy dân tộc đang ở chóp đỉnh, chóp nón của thời đại”. Đúng là cái nhìn chỉ có ở những người ngồi trong biệt thự, được phục dịch không thiếu một thứ gì. Người ta cho lúc đó cái bụng chứ không phải cái đầu hay trái tim của nhà thơ nói. Thật ra phải nói đó là những cái chóp lộn ngược mới đúng. Rồi cũng từ Pari về, ông nói với bạn bè, đồng chí đồng nghiệp: “Tôi vừa đi sang Pháp về với một sự buồn và khinh bỉ. Nếu không gặp những người cộng sản bình thường, (dường như chỉ có dân Cộng sản mới chơi được với nhau thôi. Vì đó mới là lương tâm của thời đại) thì mất bao nhiêu (người nghe chẳng hiểu ông nói mất bao nhiêu là mất cái gì?) … Giờ là trắng trợn, thô lỗ. Thời của anti, trên cả anti. Không còn gì là giá trị nữa (Theo “Dĩ vãng phía trước” – Ngô Thảo) Những lời nói đó nếu bạn nghe chắc họ nghĩ Việt Nam đang như một Thiên đàng. Họ không biết rằng người Việt Nam (miền Bắc) đang ở chóp đỉnh của sự tàn bạo và dưới đáy của sự nghèo đói khốn cùng. Lẽ ra ông phải là nhà thơ siêu thực mới đúng. Có người nói nên đổi tên tập thơ “Máu và Hoa” là “Máu và Thơ” thì câu thơ của nhà thơ Xuân Sách viết về chân dung “Máu ở chiến trường, thơ ở đây” có lẽ đúng hơn. Thơ của Tố Hữu và máu của nhân dân. Thơ Tố Hữu được giảng dạy ở các trường từ tiểu học tới các lớp trên. Tiếp tục đầu độc những đầu óc còn non trẻ. Còn máu người dân nhuộm đỏ các chiến trường hoặc trộn lẫn với bùn đen.
Một lần khác ông nói với anh em văn nghệ sĩ: “Thực tế của ta bây giờ là rất đẹp, có thể nói là tuyệt diệu. “Cứ thế mà ghi chép, thậm chí sao chép cũng được!”. Người ta nghĩ Tố Hữu đứng trên mây mà nói chuyện đời, chuyện văn. Cứ như người lên đồng, mê sảng.

Khi viết bài thơ “Em ơi Ba Lan”, ông chỉ thấy mùa xuân với sương trắng nắng tràn trên đất bạn. Hiện thực một đằng, ông viết một nẻo:
Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
Ta đi nghe tiếng mùa xuân dậy
Một giọng thơ ngâm một tiếng đàn”.

Mọi thứ sao mà đẹp thế. Câu thơ giàu âm điệu và hình ảnh càng làm tăng thêm hình ảnh một đất nước Xã hội chủ nghĩa huy hoàng, hạnh phúc. Bài thơ đúng là mẫu mực của trường phái hiện thực xã hội chủ nghĩa. Không chê vào đâu được. Ông có biết con đường bạch dương trong thơ ông nó khác với hiện thực của đất nước Ba Lan không? Ở dưới những con đường bạch dương sương trắng nắng tràn đó ngập tràn xương máu của người dân Ba Lan hàng mấy thập kỷ đứng lên đòi dân chủ, tự do, đòi độc lập, đòi thoát khỏi bàn tay sắt của Liên Xô. Và mỗi lần như thế, hàng ngàn xe tăng Xô Viết đã tràn vào. Xe tăng thì không có chuyện chở hoa và bánh mì… Dưới bánh sắt của nó là máu của Nhân dân Ba Lan “anh em”. Có 20.000 người lính Ba Lan bị chôn sống trong cánh rừng Ba Lan thời Xitalin.
Nếu mọi người tin vào những câu thơ trên của nhà thơ chắc sẽ không bao giờ có chuyện cả khối Đông Âu Xã Hội Chủ Nghĩa sụp đổ…

Ông lãnh đạo văn nghệ suốt mấy chục năm trời, ông có biết vì sao Việt Nam không có tác phẩm đỉnh cao trong khi cuộc sống ngồn ngộn chất liệu. Có thể kể ra bao nhiêu rào cản, cấm kỵ đối với nhà văn, chỉ nói một cách đơn giản như nhà văn Nguyễn Minh Châu: “Ta không viết cái sự thực xảy ra mà viết cái ta muốn nó xảy ra”. Khi nhà thơ trẻ mới nổi lên Phạm Tiến Duật viết: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” thì được ca ngợi. Từ xưa tới nay đường ra trận có lúc nào, ngày nào, mùa nào là đẹp đâu, dầu đang là mùa xuân đi nữa. Nhưng nó là câu thơ viết đúng điều ta muốn nó xảy ra. Để “động viên” hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn người ra trận. Nhưng khi tác giả viết “Khói bom lên trời thành một cái vòng đen/ Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng… Có mất mát nào lớn bằng cái chết/ Khăn tang vòng tròn như một số không…”. Câu thơ cuối vào hạng tuyệt cú. Người đọc có thể nghĩ xa hơn một chút. Nó như một lời dự báo cho số phận của dân tộc.
Không ngờ bài thơ là một “tai họa” chứ không phải là “một tai nạn nghề nghiệp” bình thường giáng xuống đầu nhà thơ. Một khám phá tài tình, phải nói là giỏi thì bị đánh tơi bời, bao nhiêu hứa hẹn con đường thăng tiến của nhà thơ trẻ tài hoa bị xóa sổ, nhà thơ bị lên án… vì đã nói đúng điều đang xảy ra… Như vậy thì hỏi làm sao có tác phẩm đỉnh cao. Một đòi hỏi phi lý không thể nào có được khi một nền văn nghệ sinh ra để phục vụ Đảng, phục vụ chính trị, một đường lối chính trị đầy sai lầm, chưa nói là lạc đường, lạc lối.

Trong lúc đó ở Paris hào hoa thơ mộng, nhà thơ lớn Huy Cận viết: “Gì vui bằng những ngày đánh Mỹ”! Hãy đi hỏi từ em bé chăn trâu tới người nông dân cày cấy đánh Mỹ có vui không. Họ sẽ trả lời cho nhà thơ biết. Tôi dám chắc nhà thơ lớn chưa có một ngày ra trận! chẳng biết chiến tranh ghê tởm đến mức nào! Mà nghĩ cho cùng cũng phải. Ngồi ở Paris bên cốc cà phê bánh ngọt thì có thể đánh Mỹ muôn năm. Ngồi ở Paris làm thơ ca ngợi đánh Mỹ trong khi máu xương thanh niên và nhân dân ngập sông núi Việt Nam.
Xitalin từng khen nhà báo Ilja Erenburg, mỗi bài của nhà báo có sức mạnh như một binh đoàn. Nhà thơ Tố Hữu cũng có một dàn đồng ca, một binh đoàn với những tên tuổi lớn đã góp công đầu làm nên chiến thắng cùng với sự đau khổ, mất mát tột cùng của nhân dân. Nhưng với người nước ngoài họ chỉ thấy mặt “tích cực” qua dàn đồng ca với người nhạc trưởng sống trên mây. Có nhà thơ Cuba có câu nói nổi tiếng: “Nếu thế giới tạo ra được nhiều Việt Nam”. Và có người còn lãng mạn hơn: “Ước sao một sáng thức dậy trở thành người Việt Nam”.

Họ đâu biết, mỉa mai thay, chỉ mấy thập niên sau, hàng trăm, hàng ngàn người Việt giàu có đã đưa cả gia đình chạy ngược sang nước Mỹ vốn đối nghịch về lý tưởng. Họ đã từ giã cái lý tưởng cao cả xã hội chủ nghĩa mà cha, anh và bản thân họ đã suốt đời xả thân thờ phụng. Bây giờ chắc chắn không còn một ai trên thế giới ước mơ “tạo ra được nhiều Việt Nam” và ước sao một sáng thức dậy “trở thành người Việt Nam”. Quả là chuyện bi hài… xưa nay hiếm.
Nhân đây cũng xin nhắc lại câu thơ trong bài “Tạm biệt” như một lời di chúc. Chắc ông vừa mới viết. Một câu tưởng để đời: “Sống là cho mà chết cũng là cho”.

Hãy nói những thứ ông cho lúc còn sống. Là nhà thơ, ông đã cho người đọc những gì. Trước hết ông có một loạt mấy chục bài thơ ca ngợi, tôn cụ Hồ là cha già dân tộc lúc đó chỉ mới ngoài 50, tôn ông cụ lên làm bậc thánh. Vì được phong thánh quá sớm, ông cụ lãnh đủ những năm tháng bị đày đọa sau này. Ở đây cần mở dấu ngoặc, sau Nghị quyết 9, ông đã bỏ ông cụ mà rẽ ngang sang tập đoàn Lê Duẩn, Sáu Thọ lúc đó đang ở thế áp đảo. Một bước rẽ ngoặt ngoạn mục thường thấy ở những kẻ cơ hội coi đạo lý bằng không.
Ông còn có những bài thơ ca ngợi Mao và Xitalin những tên bạo chúa giết người không gớm tay. Ông khóc Xitalin với những câu:
“Thương cha thương mẹ thương chồng
Thương mình thương một thương ông thương mười”.
Một người có trái tim yêu ghét bình thường không ai có kiểu tình thương phi nhân như thế. Nếu là giả cũng không ai tin mà thật thì quá bậy. Nhưng tôi nghĩ lúc đó ông viết thật. Cũng có nhiều nhà thơ khóc: Trong số đó có những nhà thơ lớn, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tế Hanh… nhưng chắc hầu hết họ khóc giả, như những người khóc mướn trong một đám tang. “Khóc” để lấy điểm. Xét cho cùng họ đáng thương hơn là đáng trách. Còn ở ông thì không. “Nhà thơ lớn” đã khóc thật, đau thật.

Còn nhiều thứ ông “cho” khác nữa. Trong vụ Nhân văn giai phẩm ông đã ra tay tàn độc với anh em. Nặng thì bị đi tù, nhẹ hơn đi cải tạo. Hàng trăm, hàng ngàn văn nghệ sĩ, trí thức khốn khổ, khốn nạn dưới bàn tay sắt và trái tim lạnh lùng của ông. Và hàng ngàn, hàng vạn con cháu của họ hệ lụy theo. Cộng sản không có kiểu chu di tam tộc như thời phong kiến xưa, nhưng những hệ lụy của nó, con cháu, anh em họ gánh chịu thì thật khủng khiếp từ đời sống vật chất tới tính thần.
Thấy nhà thơ ngồi im, người đối thoại bèn dịu giọng. Xin lỗi, chuyện thật mất lòng, mong ông đừng giận. Đó là một phần những cái “cho” khi ông còn đang sống, đang trên ghế quyền uy. Còn chuyện ông bảo ông sẽ cho khi đã từ giã cõi trần ai này. Ngoài nắm tro tàn ra mọi người ai rồi cũng có từ người ăn mày cho tới vua quan. Thi nhân khi chết còn để lại sự nghiệp văn thơ. Ông nghĩ rằng thơ ông sẽ bất tử ư? Cái này còn chờ cỗ máy thời gian khắc nghiệt trả lời. Nhưng là nhà thơ chắc ông đã sớm nhận được dự báo. Văn thơ phục vụ chính trị sẽ chết trước hoặc chết ngay khi tác giả ra đi. Giải thưởng văn chương Hồ Chí Minh ông nhận được, nói như nhà văn Nguyễn Khải, e đó cũng chỉ là những tấm bia đặt lên mộ chí… Ông đừng buồn. Lỗi không phải ở tài năng ông. Lỗi ở cái lý tưởng ông đã đi theo, phụng sự suốt đời… phụng sự một cách quá ư đắc lực… Thậm chí vượt ra ngoài trái tim nhà thơ, vốn sinh ra để yêu cái đẹp, tôn thờ Chân Thiện Mỹ. Thi nhân không ai ác. Nếu Nero, Tần Thủy Hoàng là nhà thơ chắc chắn không có chuyện đốt cả kinh thành và chôn sống hàng ngàn học trò. Gần đây có cuộc gặp giữa ông với nhạc sĩ Phạm Duy, kẻ mấy lần chạy trốn khỏi Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa. Cuộc gặp gỡ thú vị giữa hai người với hai vị thế khác nhau. Giữa “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”. Nhưng ông có dám nói như nhạc sĩ Phạm Duy không: “Tôi có chết đâu, âm nhạc tôi vẫn sống mãi trong lòng dân tộc tôi”. Một câu nói đầy tự hào của một nhạc sĩ tài hoa có rất nhiều bài ca để đời về lòng yêu thương da diết đất nước.

Người khách trẻ chợt hỏi:
Ông có ý kiến gì về bức thư của ông Nguyễn Khắc Viện gửi ông không? (1)
Mãi một lát nhà thơ già mới nói, một câu trả lời khá bất ngờ.

Cậu có biết ông Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư nói về tay Nguyễn Khắc Viện thế nào không? “Nước này mà có hai thằng Nguyễn Khắc Viện thì tan nát mất”.
Người khách trẻ nở nụ cười tỉnh queo; tôi còn biết một câu thú vị hơn: May mà Đảng chỉ mới có một tay Linh chứ có hai thì phải có mấy hội nghị Thành Đô, và đất nước này sẽ ra sao chắc ông quá biết.

A, thằng này láo. Nhưng ông cố nén lại cơn giận như núi lửa sắp phun trào và chợt cảm thấy rùng mình… Ừ, dường như có một sự thật phũ phàng đâu đó…
Rồi không để nhà thơ hồi tỉnh. Người khách trẻ chợt hỏi:

Chắc ông biết ông Nguyễn Khắc Viện còn gửi một bức thư cho Trung ương Đảng (2).
Ông nghĩ sao về con người ấy. Chờ một lát không thấy nhà thơ trả lời người khách trẻ nói tiếp: Thôi, tôi không đẩy ông vào chỗ khó. Ông đã lún quá sâu vào ý thức hệ ông tôn thờ suốt đời. Tôi nghĩ ông Nguyễn Khắc Viện là một kẻ sĩ nhập cuộc. Một kẻ sĩ tử vì Đạo. Đạo tôi nói đây là Đạo yêu nước, đạo lý làm người. Ông biết rồi đó. Khi viết thư gửi cho Trung ương Đảng đề nghị giải tán Đảng… Ông ta biết mình phải làm gì. Ông chuẩn bị khăn gói, không phải để lên đường tìm một cuộc cách mạng khác hay hơn mà chuẩn bị vô tù. Theo tôi, đó là một hành vi dấn thân quá đẹp, cao thượng hiếm thấy trong giới trí thức xưa nay. Điều đó cũng đủ chứng minh ông ta đã biết cái lý tưởng mình dâng hiến gần trọn đời đến nay là như thế nào rồi. Mọi sự lầm lỡ đều có thể hối cải nếu ta còn chút ít thời gian. Chỉ còn 1/3 lá phổi, nhưng bù lại Thượng đế đã cho ông lòng dũng cảm, một trái tim yêu nước vĩ đại và một cái đầu sáng suốt biết tìm cho mình con đường phải đi vào lúc xế chiều của cuộc đời. Ông ấy không còn thời gian, không còn sức để tìm một cuộc cách mạng khác mà chỉ còn thời gian, còn sức để làm cuộc cách mạng cho đời mình.

Trong một bài thơ của ông có một câu đầy “ấn tượng”: “Miền Bắc Thiên đường của các con tôi”. Một cái nhìn phiến diện, qua cảnh sống của mình, gia đình mình, đánh giá mức sống của cả một nước, trong lúc nhân dân đang ngụp lặn trong cảnh đói nghèo…
Nếu ông có một cái nhìn khác, một tầm nhìn khác sáng suốt, khoa học hơn, ông sẽ không tiếp tục con đường sai lầm của mình cho tới tận cuối đời.
Có lúc nào đó ông hối tiếc mình tự đánh mất mình không? Và từng có một sự trải nghiệm đau đớn tinh thần về sự mất mát đó không?
Chủ nhà nhìn người khách trẻ vẻ lạ lùng:
Tại sao cậu lại nghĩ tôi tự đánh mất mình?
Không trả lời ngay câu hỏi của chủ nhà, chàng thanh niên suy nghĩ một lát rồi như tự nói với mình.
Giá đừng có cuộc gặp gỡ lịch sử quái đản đó thì hôm nay tôi vẫn là tôi, giá hồi đó ông chỉ làm thơ, hay làm bất cứ một nghề gì khác… Nhưng trong lịch sử cũng như cuộc đời không có chữ nếu. Tất cả đã an bài. Số mệnh đã đặt ông trên đường ray… chắc chẳng phải chờ tới lúc này ông mới thấm thía: Tàn cuộc rồi tất cả chỉ là mộng ảo…

Nhưng cậu là ai? Tôi phải biết tôi đang đối thoại với ai đây.
Xin đừng nôn nóng. Trước sau gì ông cũng sẽ biết tôi là ai, từ đâu tới. Trước khi trả lời câu hỏi của ông, tôi xin kể ông câu chuyện…

Chuyện chú khỉ cộc đuôi. Truyện viết cho trẻ con nhưng người lớn đọc cũng có cái thú riêng. Có một chú khỉ cộc đuôi đầu đàn thường dẫn cả đàn vào như hình với bóng. Ngày nọ, trên nương ngô bỗng xuất hiện các bù nhìn đầu đội nón, tay vung vẩy cành tre, mặt mày bôi xanh bôi đỏ như các quan văn quan võ phường tuồng. Mỗi lúc có gió cái roi vung tít lên. Bầy khỉ lớn nhỏ sợ hãi chạy dạt ra xa. Riêng cộc đuôi không sợ, chú mon men tới gần rồi nhảy phóc lên vai bù nhìn. Lột chiếc áo bù nhìn mặc cho mình. Chú lột tiếp chiếc mũ đội lên đầu. Chú nhảy xuống đất, sẵn còn mấy đĩa bột màu chú nhúng cả hai tay vào rồi bôi lên đầy mặt. Xong đâu đấy, chú nhặt chiếc roi vung vẫy, phóng như bay tới các bạn. Kìa cả bầy đang từ xa chờ chú. Cô bé yếm trắng vẫn đứng đầu hàng. Cộc đuôi vừa chạy, vừa hớn hở vừa vung tít chiếc roi. Ồ mà sao lạ thế? Chú càng chạy thì khoảng cách giữa chú và bầy đàn càng xa. Các bạn cứ lùi dần cho tới lúc cả bầy bỗng quay lưng chạy biến đi, chúng chen nhau, xô nhau lao như thác vỡ bờ. Tiếng kêu chí chóe vang lên cả góc rừng chiều. Cô bé yếm trắng lúc này lại chạy trước cả đàn. Cộc đuôi càng cố sức đuổi theo thì cả bầy ngày càng bỏ xa chú hơn… Cộc đuôi không nhớ rõ đã băng qua bao nhiêu khoảng rừng thưa rừng dày, lội qua bao nhiêu lạch cạn suối sâu, vượt qua bao nhiêu thác ghềnh, mãi tới lúc mặt trời khuất núi, chú chợt nhìn chung quanh không còn bóng dáng một ai nữa. Chú hiểu là không còn mong gặp lại bầy đàn. Chú phục xuống nằm khóc một mình.
Đêm. Quanh chú giờ này chỉ có cây rừng và núi đá lặng im với những tiếng động khi gần khi xa. Đâu phải những tiếng động của rừng cây êm ả như mọi khi, tiếng cành cây gãy, tiếng bước chân nhẹ nhàng của các chú thỏ có tật ăn khuya, tiếng côn trùng rí rích dưới lớp lá khô… những tiếng đêm quen thuộc. Không, mỗi tiếng động lớn nhỏ bây giờ đều kèm theo hình thù cái mõm sói với những chiếc răng nanh nhọn hoắt, những cặp chân đầy vuốt nhọn sắc từ trong bóng tối âm u bí ẩn, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng nhảy ra quắp lấy chú. Đói, khát, mệt và buồn, chú ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Trong giấc ngủ nặng nề đầy mộng mị, thỉnh thoảng chú lại giật mình đánh thót, tưởng chừng như mỗi gốc cây hiện nguyên hình một con ác thú. Chưa bao giờ chú thấy cô độc như lúc này…

Chú thức dậy rất sớm, khi tiếng chim rừng đầu tiên lảnh lót. Bốn bề vẫn im ắng như tờ. Mệt và khát, chú lần ra suối, những con suối rất đỗi quen thuộc chảy giữa các khe núi. Chú đứng trên bờ vục mõm xuống, bỗng giật mình lùi phắt lại. Dưới lòng suối trong veo hiện ra một hình thù kỳ dị đang trừng trừng nhìn chú. Một con vật vừa là chú vừa không phải chú. Một con khỉ mang râu đội mũ, mặt mày xanh đỏ dữ dằn, cứ như muốn chồm lên vồ người trên bờ. Hoảng quá, chú kêu rú lên chạy bán sống bán chết…” (3)
Ông thấy không. Chuyện vui và đáo để. Nhiều người một khi có chức trọng quyền cao sẽ thay đổi đến nỗi bạn bè không nhận ra mình và chính mình cũng không nhận ra mình.
Nhà thơ cố giấu tiếng thở dài: Vậy… anh là ai?

Ông không còn nhớ những năm 30, 35 thế kỷ trước, có chàng trai xứ Huế hàng ngày hay lui tới các hiệu sách: Nguyễn Chí Diểu, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn đọc cọp các sách của Mác – Engel – Lênin sao? Những năm tháng đó chủ nghĩa Mác rất đẹp, tưởng như là cứu tinh… Ông nhớ lại đi.
Người khách trẻ nói thêm, giọng buồn: Tôi nhớ gần đây trên mạng có một câu khá hay “Nếu Tố Hữu làm nghề cắt tóc thì thơ ông ta hay hơn”. Nhưng thôi, tất cả đã qua rồi. Cuốn biên niên sử cuộc đời của nhà – thơ – cách – mạng đã khép lại.

Nhà thơ đứng bật dậy, chẳng biết ông muốn chạy trốn khỏi mình hay tới bên chàng trai ông vừa chợt nhận ra. Nhưng người khách trẻ đã biến mất. Còn mình ông ngồi lại với bóng tối vây quanh mình. Phía trước là hư vô… và xa xa, xa nữa là con đường hầm. Cuối đường không phải tràn ngập ánh sáng mà là bóng đêm đen kịt, mờ ảo bóng những tên hung thần suốt đời ông tôn thờ, họ nhìn ông như kẻ xa lạ…
____

(1) Bức thư của Nguyễn Khắc Viện gửi Tố Hữu            
Ngày 30-11-1986
Kính gửi anh Tố Hữu
Hôm nay nhân xem lại vài bài dịch thơ anh trong Anthologie de la littérature vietnamiene (Tuyển tập Văn học Việt Nam), thấy không thể không gửi cho anh bức thư này.
Anh Tố Hữu ạ! Trước kia đọc thơ, dịch thơ anh cảm hứng đằm thắm bao nhiêu thì nay thấy ngán ngẩm bấy nhiêu. Anh bảo làm bí thư vẫn không bí thơ, chúng tôi thấy anh càng quyền cao chức trọng, đọc thơ anh càng thấy nhạt nhẽo.
Anh mà trở lại Trung ương, trở lại chức quyền, là chôn vùi luôn sự nghiệp thơ trong lòng nhân dân. Rút lui đi, anh Tố Hữu, cứu lấy nhà thơ Tố Hữu. Anh sẽ trở lại với cuộc sống bình dị của một nhà thơ, chan hòa với anh em, anh em chúng tôi lại đón anh với tấm lòng trân trọng quý mến. Xuân này anh sẽ chen vào đám đông đi chợ hoa, đi hội làng Gióng hay Đồng Kỵ chứ không tiền hô hậu ủng nữa.

Anh mà trở lại Trung ương, Bộ Chính trị, thì bài báo đối ngoại đầu năm tôi phải viết sẽ là bài “La mort d’un poète” (Cái chết của một nhà thơ). Chắc không được đăng, nhưng ít nhất cũng được truyền trong một số bạn.
Vài lời chân thành của một người đã từng yêu thơ của anh, và mong được mãi mãi giữ lấy tình cảm thắm thiết ấy.
Kính thư
Nguyễn Khắc Viện, 8 Nguyễn Chế Nghĩa, Hanoi

(2) Trước Đại hội 7, Nguyễn Khắc Viện đã gửi thư lên Trung ương, phân tích, khi tư bản hoang dã đầu tư ồ ạt vào nước ta thì chúng sẽ phá hoại môi trường, “nỗi thống khổ và thời gian không cho phép chúng ta trù trừ thỏa thuận được. Đảng nên tự giải tán, giao chức năng quản lý cho nhà nước làm chủ tập thể cho nhân dân”. Đảng sẽ trở thành Đảng đối lập với chính quyền (đã làm ăn với tư bản), đấu tranh để bảo vệ môi trường cho đất nước. Như thế Đảng sẽ sống mãi trong lòng dân tộc.
Những gì Đảng đã làm được trước đó cho dân tộc sẽ còn mãi mãi…
(Theo Nhà báo Lê Phú Khải)

(3) Trích trong  tập truyện “Chú khỉ cộc đuôi” – Văn Biển
Văn Biển
304Đen – Llttm - TD

No comments: