Bài Cho Người Dưới Mộ
Friday, March 6, 2026
Hỏi - Nguyễn Cang
HỎI
Trăm năm một thế kỷ u hoài
Nửa đời còn lại tìm tương lai
Tiếng thời gian vọng miền ký ức
Mang ưu tư gọi nắng tàn phai
Sao hôm nay thoảng mùi hương nhẹ
Mùi hoa bưởi hay tóc em thơm
Quê nghèo ngày cũ buồn cô lẽ
Ta đợi người góc phố chiều hôm
Ngoài trời chợt đổ cơn mưa nhỏ
Sương lạnh hoàng hôn chẳng thấy ai
Gác trọ quay về trong quạnh quẽ
Không gian nặng trĩu phủ hình hài
Sao người vội bỏ ta mà đi
Để cho héo hắt tuổi xuân thì
Sương khuya lạnh, sầu lên mấy nẻo
Mất nhau trong đời, hận biệt ly
Trông vời cố quốc trong hư ảo
Người ở nơi nào biệt tăm hơi
Độc ẩm đêm tàn ly rượu cạn
Mà nghe giông tố cuốn tơi bời
Ta như con đò không bến đỗ
Trôi giạt giữa đời, cạn ước mong
Thuyền tình dang dở không về nữa
Tâm trạng buồn thiu kẻ mục đồng
Ai về bến cũ cho ta nhắn
Người xưa giờ, bến đục hay trong?!!
Nguyễn Cang ( Feb. 24, 2026)
Trang Cuối Một Quyển Sách - Vương Hồng Sển
Trang Cuối Một Quyển Sách
Anh Thăng Long văn sĩ,
Cái thú của người uống nước trà
là một cái thú yên lặng, giản dị. Không cần đàn đúm. Không cần phải có các món
nhắm lỉnh kỉnh lôi thôi. Nó không làm người ta bốc cơn hào sảng lửa rơm. Nó làm
cho người ta chậm rãi thanh thản.
Tiếng còi tàu chạy bằng đầu máy
diesel đánh thức tôi dậy từ 3 giờ sáng. Pha một bình Thiết Quan Âm. Bước ra
ngoài hít thở chút không khí. Mùa Xuân đã về. Những ngày lạnh giá đã qua. Ban
đêm trong nhà không cần phải mở lò sưởi nữa.
Trước mặt tôi một tờ báo địa
phương, mấy tờ Việt ngữ do các bạn gởi lên cho. Tờ báo Xuân Ất Sửu có đăng lại
bài thơ Quách Tấn:
Trước tết mai là
hoa
Sau tết mai là củi
Trước bao nhiêu
nâng niu
Sau bấy nhiêu hất
hủi
Nâng niu mai chẳng
mừng
Hất hủi mai
không tủi...
Vị nước trà đắng ngọt thấm dần
làm tôi tỉnh táo. Còn bốn ngày nữa, lại một cái tết đến rồi. Ăn tết ở một nơi
không có ai để ý, đường phố xe cộ mọi người sinh hoạt bình thường làm mình lạc
lõng. Năm nay gia đình ở nhà đã ăn tết trước cả tháng càng làm cho mình lạc
lõng hơn.
Khu vườn bên cạnh nhà tôi xơ xác.
Hai ông bà già người Mỹ có vẻ yếu
mệt, không còn trồng trọt gì. Tuổi già lui cui trong nhà, không thấy con cháu lại
thăm bao giờ. Mọi năm vào tháng này đáng lẽ họ ra ngoài trồng lại cỏ, bắt dàn
cây. Vào dịp tết ta, khu vườn vẫn có nhiều hoa nở.
Vương Hồng Sển
(Trích
trang 277 trong sách “Ngọn Cỏ Bồng” do nhà xuất bản Người Việt phát hành năm
1985 tại Westminster, California, Hoa Kỳ).
Trăng Rằm Tháng Giêng & Sao Rơi - Nguyễn Thị Châu
TRĂNG RẰM THÁNG GIÊNG
Tháng giêng
trăn trở con thuyền trôi trôi
Bóng mây bay ở
chân trời
Lênh đênh sông
nước cuộc đời long đong
Nhìn đời lối rẻ
mênh mông
Dòng sông êm ả,
bóng trăng lặng thầm
Đêm nay là đêm
trăng rằm
Nhớ ai? Trăng lại
lặn nằm đáy sông
Nhìn theo con
nước xuôi dòng
Nỗi sầu ai đó?
Nghe lòng xót xa
Đêm nằm thương
nhớ người ta
Trăng rằm soi
sáng cho ta gặp chàng
Lung linh nước
biếc trăng vàng
Thuyền ai cặp bến?
Cho chàng đến đây
Trên trăng dưới
gió đong đầy
Bấy lâu xa vắng
hôm nay sum vầy
Những gì tưởng
nhớ hôm nay
Như trăng đã lặn,
mây bay cuối trời
Nước sông lặng
lẽ êm trôi
Con thuyền xa vắng
nổi trôi phương nào????
4-3-2026
Nguyễn thị Châu
Chợt thấy sao
rơi ở cuối trời
Màng đêm mờ mịt
thấy chơi vơi
Sương giăng lặng
lẽ chờ ai đến?
Bâng khuâng lại
nhớ áng mây trôi
Gởi chút hương
tình theo gió mới
Hương xưa năm ấy
có về chưa?
Nàng Xuân lạnh
lùng trong nỗi nhớ
Mây buồn lơ lững
kéo lưa thưa
Mùa Xuân còn lại
tháng ngày qua
Giọt buồn đọng
lại ở bên ta
Người đi để lại
nhiều trăn trở
Để tôi thao thức
với tình xa
Một ánh sao rơi
khơi nỗi nhớ
Ngày người nằm
xuống bỏ lại tôi
Một vì sao lạc
rơi đi mất
Đêm đen mờ nhạt
dưới chân trời…!!!
4-3-2026
Nguyễn thị Châu
Kiếm Hiệp Kim Dung Ở Chợ Lớn Qua Ngòi Bút Hàn Giang Nhạn - Vũ Thế Thành
Kiếm hiệp Kim Dung ở Chợ Lớn qua ngòi
bút Hàn Giang Nhạn
Hàn Giang Nhạn
bước vào lĩnh vực dịch kiếm hiệp từ giữa thập niên 50, cùng thời với các dịch
giả khác như Từ Khánh Phụng, Phan Cảnh Trung,… Riêng kiếm hiệp Kim Dung, ông dịch
7 bộ, trong đó 2 quyển: Tiếu Ngạo Giang Hồ và Lộc Đỉnh Ký đã đưa Hàn Giang Nhạn
trở thành dịch giả đầy “máu me” kiếm hiệp nhất.
Vũ Thế
Thành
Trước đó các bộ kiếm hiệp viết
feuilleton ở Hương Cảng, sau đó xuất bản thành sách. Các dịch giả Việt Nam mua
sách và dịch đăng từng ngày trên nhật báo. Chỉ đến hai bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ và
Lộc Đỉnh Ký, Hàn Giang Nhạn mua bản quyền của tờ Minh Báo, dịch feuilleton sát
nút, hôm trước báo đăng ở Hương Cảng, hôm sau vận chuyển máy bay, được dịch và
đăng ở Sài Gòn. Tiếu Ngạo Giang Hồ khởi đăng năm 1967, và kế đó là Lộc Đỉnh Ký,
với dịch giả duy nhất là Hàn Giang Nhạn. Khoảng 11 nhật báo ở Sài Gòn đặt mua
bài dịch hàng ngày, đủ thấy sức lan tỏa của kiếm hiệp Kim Dung thế nào. Riêng
Cô gái Đồ Long nổi tiếng đâu thập 60 có được dịch feuilleton, hôm trước Hương Cảng,
hôm sau Sài Gòn thì tôi không biết chắc.
Văn dịch của Từ Khánh Phụng và Phan Cảnh
Trung khá mẫu mực và nghiêm túc, chứ không nhuốm giang hồ như Hàn Giang Nhạn. Một
vài bài báo nói, Khi báo từ Hương Cảng vừa về tới Sài Gòn buổi sáng, Hàn Giang
Nhạn đi đi lại lại trong phòng và dịch ứng khẩu. Thư ký ghi chép luôn trên giấy
pelure mỏng, lót giấy than 10 bản. Mang về tòa soạn, biên tập qua loa rồi ra
nhà in luôn. Tác giả Kim Dung viết feuilleton đã ngẫu hứng, người dịch còn ngẫu
hứng hơn. Chữ nghĩa hình thành đột phá, không có thời gian suy nghĩ để trau chuốt
chữ nghĩa.
Danh tiếng của Hàn Giang Nhạn lên cao
một phần nhờ dịch độc quyền hai bộ này, nhưng phần lớn là do khả năng dịch ngẫu
hứng, rất “tay chơi” của ông. Nhiều câu dịch của ông như: Con mẹ nó, Cút con bà
mày đi, Đại công cáo thành”,… đã trở thành tiếng lóng ở thời bọn tôi.
Không khó để nhận ra, Hàn Giang
Nhạn thường để nguyên cụm từ Hán Việt (khi cần thiết), khiến người đọc có cảm
giác câu chuyện rất…Tàu., chẳng hạn “hồ ngôn loạn ngữ”, Ô hô ai tai”,..
Có khi ông dùng từ Hán Việt giọng văn
hơi cổ, ngày nay ít ai dùng, nhưng người đọc trong nước như tôi vẫn có thể hiểu
được.
Khi Lệnh Hồ Xung đang bị sư phụ “cấm
túc” trên đỉnh núi, tình cờ gặp sư tổ Phong Thanh Dương chỉ bảo kiếm pháp, thì
Điền Bá Quang xuất hiện, thỉnh thỉnh xuống núi theo lệnh của Bất Giới hòa thượng,
nhưng bị LHX đánh bại. “Hắn thấy ĐBQ bị đại đại bại rồi hộc máu tươi thì không
khỏi sinh lòng lân tuất” – Tôi hiểu lân tuất là lòng thương hại, thương xót.
Lại có những từ, chưa hẳn là Hán-Việt
được HGN đặt vào bối cảnh câu văn nghe rất lạ. Chẳng hạn, LHX trêu ghẹo Doanh
Doanh, nhưng lại ngụy biện, nói lái qua nghĩa khác. Doanh Doanh hiểu ý, nên mắng.
“ Ngươi nói 3 câu, hết hai câu là điên đảo rồi.
Hay có đoạn, Doanh Doanh dạo khúc nhạc,
nhưng tình ý bất ổn, dây đàn bị đứt mấy lần, bèn đổ thừa do LHX quấy nhiễu. LHX
thực ra ngồi yên như gỗ. Nghe thế nói thầm:” Cô ta nổi lòng hươu dạ vượn rồi
quay ra trách mình”.
Hai từ “điên đảo” và “lòng hươu dạ vượn”
dùng trong bối cảnh này nghe rất lạ, nhưng người đọc vẫn hiểu. Tôi không biết
nguyên văn chữ Hán thế nào, nhưng Hàn Giang Nhạn dịch thế này nghe lạ tai, hấp
dẫn và buồn cười.
Nội dung “Tiếu Ngạo giang hồ” phong
phú, ly kỳ, ít đùa giỡn, trừ những đoạn “Đào Cố lục tiên” hài hước, nhưng đôi
khi Kim Dung lạm dung quá đáng. Dù vậy trong truyện cũng có vài câu chửi thề nhẹ.
Trưởng môn phái Hành Sơn, Mạc Đại hơi phóng khoáng, ngầm ý xúi LHX lấy Doanh
Doanh của ma giáo, ông ta sẽ đi dự đám cưới… “ Còn mẹ nó, sợ cóc gì!” (câu chửi
thề này, mới đây nghe quen quen).
Nói về chửi thề thì Lộc Đỉnh Ký mới
thực sự là đỉnh cao, và Hàn Giang Nhạn dịch cũng rất táo bạo, chơi xả láng. Hãy
nghe Vi Tiểu Bảo thóa mạ Mao Thập Bát lúc ở Dương Châu:
“…Mẹ kiếp! ta là quân chó để thì
ngươi cũng là quân chó lộn giống. Con bà nó! Cả họ xa họ gần ông tổ tiên thập
bát đại nhà ngươi”
Vi Tiểu Bảo không chỉ chửi “Con bà
nó” mà còn rất nhiều biến thể hài hước khác mỗi khi gặp chuyện không vừa ý hoặc
khi đang nịnh bợ ai đó. Mang đậm chất bình dân Nam Bộ thập niên 60-70, rất hợp
với tính cách vô lại, hợm hĩnh của Vi Tiểu Bảo trong môi trường kỹ viện, trong
triều đình, hay giữa ba quân.
Có thể ngày nay người ta đọc bản nhuận
sắc, với bản dịch Việt ngữ, văn chương trau chuốt hơn, hợp lý hơn. Nhưng với thế
hệ bọn tôi, Hàn Giang Nhạn có thể không phải là người dịch chuẩn mực nhất,
nhưng ông không chỉ dịch chữ, mà còn “nhập vai” vào các nhân vật để nói.
Kiếm hiệp Kim Dung thuộc về giang hồ
Trung Hoa, nhưng qua Hàn Giang Nhạn, bản dịch khiến độc giả như thể đang ngồi
trong tửu quán ở Chợ Lớn, nghe giang hồ Kim Dung nói tiếng lóng Sài Gòn.
Vũ Thế Thành
Tuesday, March 3, 2026
Truyện Ngắn Vương Hồng Sễn - VHS
Trối Trăng, Tự Tình
Tôi đang bực tức và bất mãn, giận lấy mình, nhưng khó nói nên lời, đành gõ máy giấc trưa, gởi ấm ách cho xì ra hơi, xả xú bắp, lông lông đỡ tức.
Năm rồi, tôi ưng cho xuất bản hai
tập nhỏ, viết ứ đọng từ lâu, nhưng khi in thành sách, tôi đã bị sửa văn, thiến
của tôi bộn bàng, người sửa văn, vốn có học với tôi vài niên, nay có bằng Hán học,
và tuân lời ông ra vốn cho máy in chạy và có lịnh của bề trên, nên văn tôi bị
thiến. Tôi dùng chữ “văn” đây là tạm bợ, và nên nói lại, những gì tôi viết ra,
họ đốn không nương tay, duy tôi là thằng chơi đồ cổ, xin hỏi tỷ như khi chưng một
lục bình dịp tết, bình hoa vẫn có xen kẽ đôi lá lơ thơ cho dễ coi, rồi người mướn
tôi trưng bày, đã rút tỉa những hoa lá phụ, rằng cho thêm gọn thêm xinh, nhưng
về mặt mỹ thuật, xin cho tôi tỏ ý kiến rằng làm như vậy, bình hoa sẽ trơ trẽn,
nhứt là trái ý của tôi, vả lại theo như tôi hiểu và tỉ thí, văn pháp, người xuất
bản nào đụng chạm đến bao giờ.
Nói sơ sơ để tỷ ví, có nhiều câu
tôi cho là đắc thể, tôi rặn è è lâu hoắc hoặc đó là lời nói của những nhà có
kinh nghiệm đã rỉ tai tôi, và tôi cố ghi lại vào bản thảo, đều bị bôi bỏ, chê
là rườm rà, nhưng quên rằng đó là những cái mốc để đánh dấu thời đại, như giá
vàng, ngày mua, người bán, nay lượt bớt... khiến cho hiện nay, có một cuốn của
tôi được tái bản, nhưng bán rất chậm, vì khách chơi cổ ngoạn vẫn tìm sách cũ bản
của tôi và để ế bản của kỳ nhì (không phải tự tôi cho in) tuy trong ruột sách vẫn
y chang, duy ngoài bìa đã thay đổi và thay thế một cách ngu dốt nên sách bán
không chạy...
V.H.S.
(4-3-1993)
Trích từ trang 53 và 54 trong cuốn “Tạp Bút Năm Quí Dậu, 1993 – Di Cảo Vương Hồng Sển” do nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2012 tại Sài Gòn – Việt
Nam)
Tết Và Tôi
Tôi xin nói Tết và tôi. Thằng tôi
là đáng ghét, nhưng phải nói, và xin kể một chuyện không tốt, gọi xả xú bắp để
bước qua năm Dậu – con Gà:
Hôm ấy là hai mươi chín tháng chạp
thiếu, lối mười giờ khuya, thiên hạ đang rần rần mua vui buổi chợ đêm nơi Bến
Thành, và tôi đang thơ thẩn đưa một bạn gái về nhà đường Farinole, nay đổi gọi
Đặng Trần Côn.
Nàng là một bô-tê, vì chữ hoa
khôi chưa có. Tóc đỏ hoe hoe, ăn nói có duyên, nhà ở hẻm chẹt nầy, chuyên nấu
cơm tháng cho mấy thầy, và tôi chịu miệng, đầu tháng tới sẽ cho người xách
gào-mên (ngoài kia gọi cầu mền), lãnh phần đem về, nhưng bữa nay phải cho tôi
trước xem nhà, sau cho thử bất thình lình một dĩa lập-là cho rõ tài ngự thiện.
Hai đứa cặp kè đang đi cà rịch cà tang trên đường Lý Tự Trọng, pháo nổ điếc
tai, và trận mưa buổi chiều còn đọng nước... Bỗng Mười nói:
- Anh S., nước dơ quá,
ướt giày tôi hết.
Tôi đang xách tay một gói thịt
nguội, vừa mua đùm đề, nào ba-tê nào gà ướp lạnh, thêm một chay sâm banh hiệu
Veude Amiot giá chín cắc bạc, mình đang hai tay không rảnh mà “con nầy” làm
khó, chê dơ chê bẩn... Tôi vụt đáp: “Lưng đây nè! Lại đây, cõng cho! Mà phải chịu
khó xách dùm mấy món nầy!” Tôi nói nãy giờ còn dài quá chớ sự việc xảy ra ngắn
xủn! Qua khỏi vũng nước cũ vừa thấy cửa phố của Mười. Tôi đứng thẳng lưng, chờ
Tóc Đỏ bước xuống. Nhưng vẫn đánh đeo và ngâm giọng Bạch Vân, Hồng Vân gì gì
đó. Ngâm rằng: “Chuối cau năm nải một quày! Mặt mầy không đáng xách giày tao
đi!”
- Con nầy hỗn! Chưa
chi nó đã trèo đèo!
Tôi ểnh ngực cho rớt xuống, và miệng
hát giáo đầu giọng mở màn: “Nghe đây!”
- “Lưng vừa vắt L... mầy
hăm hở! Tay cầm xúc xích thung thăng!
Chốn chiến trường tớ vẫn nhát
gan! Nơi lộ vắng, thay hồ tay bốc!”
Rồi tôi bốc thiệt và bỏ ăn Tết, bỏ
chai rượu, bỏ gói thịt, về nhà rửa tay và mang tiếng ngày nay “học giả”, xin
đính chánh “giả chớ không thiệt”.
V.H.S.
(18-12-1992)
(Trích từ trang
21, 22 và 23 trong cuốn “Tạp Bút Năm Quí Dậu 1993 – Di Cảo Vương Hồng Sển” do
nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2012 tại Sài Gòn – Việt Nam)
Hỡi Người Dưới Thế Tình Là Vật Chi - Vũ Thế Thành
HỠI NGƯỜI DƯỚI THẾ TÌNH LÀ VẬT CHI?
Trong “Thần
Điêu Đại Hiệp”, nhân vật Lý Mạc Thu hận tình, trúng độc hoa tình, vừa chạy vào
biển lửa ở Tuyệt Tình Cốc, vừa ngâm:
Hỡi người
dưới thế tình là vật chi
Hẹn nhau
sanh tử cùng đi
Vũ Thế
Thành
Mấy chục năm trước đó, khi mới độ 16, Lý Mạc
Thu cùng tình nhân, Lục Triển Nguyên cưỡi ngựa rong ruổi, thề non hẹn biển.
Chuyện trăm năm không thành, Lục Triển Nguyên bội ước, lấy vợ. Lý Mạc Thu sinh
hận, biến thù hận thành sự tàn độc, chết chóc. Dù người tình và vợ đã mất, nàng
vẫn báo thù, giết hết toàn gia con cháu họ Lục, đầy tớ, heo gà chó cũng không
tha. Không chỉ thế, nàng giết người bừa bãi, không cần lý do, gây thù chuốc oán
khắp nơi.
Lý Mạc Thu là đệ tử đời thứ ba của phái Cổ Mộ
(cùng thế hệ với Tiểu Long Nữ – sư muội của cô). Phái Cổ Mộ do Lâm Triều Anh
sáng lập, thuộc chính phái. Võ công chính là Ngọc Nữ Tâm Kinh, Ngọc Phong
Châm, Băng Phách Ngân Châm (ám khí đặc trưng của phái), kiếm pháp nhẹ nhàng,
thanh thoát, khắc chế Toàn Chân giáo. Cổ Mộ có quy định khắc nghiệt, đệ tử
không được dính vào chuyện ái tình. Khi yêu Lục Triển Nguyên, Lý Mạc Thu vi phạm
giới luật nên bị trục xuất khỏi phái.
Không rõ Lý Mạc Thu học Ngũ độc thần chưởng ở
đâu (một loại võ công dùng độc dược để luyện chưởng). Võ công Cổ Mộ gốc vẫn còn
là kiếm pháp, phất trần, ngân châm, nhưng nàng đã dùng chúng theo cách độc ác,
tàn nhẫn, kết hợp độc chưởng, độc dược trở thành tà phái trong mắt giang hồ.
Trước khi ra tay, Lý Mạc Thu thường ngâm bài
thơ “Hỡi người dưới thế tình là vật chi, hẹn nhau sanh tử cùng đi” như là dấu
hiệu của sự tàn sát sắp đến.
Ban đầu tôi đọc bài thơ trên, tưởng là của Kim
Dung. Sau này mới biết- Không phải. Đó là hai câu mở đầu bài từ “Nhạn khâu” của
Nguyên Hiếu Vấn, thời Kim mạt.
Nguồn gốc bài từ thế này: Nguyên Hiếu Vấn trên
đường đi thi, gặp người thợ săn bắt được một con nhạn, giết nó. Con nhạn còn lại
thoát lưới kêu bi ai không chịu bay đi, cuối cùng lao đầu xuống đất tự vẫn theo
bạn tình. Nguyên Hiếu Vấn mua lại xác đôi chim nhạn, chôn bên sông Phần Thủy, gọi
là Nhạn Khâu (mồ chim nhạn). Cảm xúc trước cái chết của đôi chim, ông sáng tác
bài từ nổi tiếng “Nhạn Khâu”.
Hai câu thơ mà tôi trích dẫn ở trên, là hai
câu đầu trong bài từ “Nhạn Khâu”. Bài này khá dài, trong “Thần Điêu đại hiệp in
trước 75, được dịch thoát, có vần điệu, nên dễ nhớ, nhưng tôi chỉ nhớ được hai
câu. Gần 60 năm rồi còn gì.
Toàn bài từ đúng là giọng điệu tha thiết buồn
bã! Dưới đây bài từ Nhạn Khâu, được Lê Vĩnh Húy dịch nghĩa từ chữ Hán:
Hỏi thế gian tình là giống gì
Mà làm cho sống chết khôn nguôi?
Trời nam đất bắc, đôi lứa sát cánh cùng bay,
Đã chia nhau bao mùa ấm lạnh.
Càng vui sum họp càng sầu chia phôi
Mối si tình đó biết tìm đâu trên đời này?
Mịt mù tăm suốt vạn trùng mây cao tuyết cả
Cánh chim lẻ biết về đâu.
Bờ sông Phần năm xưa rộn rã tiếng trống tiếng
tiêu
Nay thành đám cỏ gai tịch mịch.
Bạn tình đã chết
Khúc Chiêu hồn nào giúp được gì
Hãy nghe kìa tiếng quỷ núi khóc trong mưa xiết
bao sầu thảm.
Khối tình chung làm trời cũng động lòng.
Bọn yến oanh rồi cũng thành đất vàng ngui
ngút.
Mối sầu này rồi sẽ truyền mãi
Để tao nhân mặc khách muôn đời sau tới khóc
thương bên nấm mộ
Còn “Lý Mạc Sầu” hay “Lý Mạc Thu” thì Lê Vĩnh
Húy đã giải thích: Trong bản gốc, trước và sau nhuận sắc vẫn là chữ Sầu, không
hiểu sao các dịch giả trước 75 lại phiên âm thành Mạc Thu. Thậm chí Húy còn giải
thích – Mạc Sầu nghĩa là “đừng buồn”. Không còn tranh cãi “Thu” hay “Sầu” đúng
sai gì nữa.
Chỉ có tôi là còn vấn vương “âm thanh dĩ vãng”
nên vẫn ngoan cố gọi là Lý Mạc Thu. Các bạn trẻ đọc bản dịch nhuận sắc cũng nên
hỷ xả cho. Dù sao, đó cũng là ký ức văn hóa của một thế hệ đọc
feuilleton, trong đó âm thanh, dù là phiên âm, cũng là một phần của ký ức.
Chưa hết, Lê Vĩnh Húy tự nhiên thòng thêm một
câu để giải thích hận tình máu lửa của Lý Mạc Thu: “Kim Dung không hề cho biết
Lý Mạc Sầu có thất thân với Lục Triển Nguyên không”. Rõ ràng y không nhét chữ
vào miệng Kim Dung, nhưng lại nhét ý tưởng mây mưa, tiền dâm vào đầu độc giả.
Tên Húy này đúng là bẩm sinh có máu… cuồng khẩu.
Hận tình, rồi hành xử cực đoan, với bàn tay
nhuốm máu của Lý Mạc Thu làm tôi liên tưởng đến một hận tình khác, cũng ở trong
Thần Điêu Đại Hiệp, cũng hành xử cực đoan, không nhuốm máu, nhưng lại tự hành hạ
chính mình. Đó là Lâm Triều Anh, sư tổ của Lý Mạc Thu.
Lâm Triều Anh yêu Vương Trùng Dương sâu đậm từ
thời trẻ. Khi ông còn là anh hùng chống Kim, hai người đã nhiều lần thư từ tâm
sự với nhau, “tình trong như đã mặt ngoài còn e”, cả hai chưa hề thổ lộ tình cảm
với nhau. Bà mong chờ hai người sẽ nên duyên khi đại nghiệp thành công.
Nhưng cuộc kháng chiến chống Kim ngày càng bất
lợi, Vương Trùng Dương u uất trước thời cuộc, lui về núi Chung Nam, xây mộ sống
(Hoạt Tử Nhân Mộ) trên núi Chung Nam để tu luyện, truyền bá tư tưởng, không để
chuyện riêng tư xen vào.
Không đi được tới hôn nhân như mong đợi, Lâm
Triều Anh – từ yêu đến hận – nhiều lần đến núi Chung Nam đòi tỉ thí với Vương
Trùng Dương. Cả hai bất phân thắng bại. Bà biết thừa là ông nhường nhịn, nên
nghĩ ông coi thường mình. Lần tỉ đấu cuối, bà ra điều kiện:
Nếu Vương Trùng Dương thua, ông phải:
- Nhường Hoạt
tử nhân mộ cho bà.
- Xuất gia, tu
theo đạo nào cũng được (chi mà ghen ác ôn dữ vậy nè!)
- Chưa hết,
ông phải lập đạo quán xuất gia ở núi Chung Nam, gần cổ mộ (ghen tuyệt tự
kiểu này thì người hùng VTD coi như hết léng phéng)
Nếu Lâm Triều Anh thua, bà sẽ tự sát trước mặt
ông (Con bà nó! Có cho châu báu, cha nội VTD cũng không dám thắng).
Lần này không tỉ đấu võ công nữa, mà thi nội lực,
dùng ngón tay viết chữ trên đá (là điều không thể). Vậy mà bà thắng. Dĩ nhiên
bà dùng thủ thuật, một tay sờ vào bia đá (bôi hóa chất làm mềm đá), tay kia “khắc”
nguyên bài thơ trên đá.
Vương Trùng Dương là thiên hạ đệ nhất võ công
thời đó, kể cả nội lực, biết thừa mánh khóe của bà, nhưng không dám hó hé. Đành
ríu rít dọn đồ ra khỏi Cổ mộ, và xây cung Trùng Dương gần đó để tu hành, lập ra
Toàn Chơn giáo phái.
Lâm Triều Anh dọn về Hoạt Tử Nhân, lập ra Cổ Mộ
phái. Cũng ở mặt cực đoan khác, bà lại lập ra môn quy, môn đệ không được lấy chồng,
không được dính líu vào tình ái. Bà chỉ có một môn đệ duy nhất, và cũng là a
hoàn theo hầu bà. A Hoàn này sau thu nhận hai môn đệ là Lý Mạc Thu và Tiểu Long
Nữ. Lý Mạc Thu, như đã nói bị trục xuất vì dính tới ái tình. Còn Tiểu Long Nữ
thì sau này “phá giới” lấy Dương Qua. Mối tình “vòng tay học trò” này tuyệt đẹp
và táo bạo với luân lý xã hội thời đó. Tôi sẽ nói vào dịp khác, không bàn ở
đây.
Trở lại với mối tình hận của sư tổ, đồ tôn của
nhà Cổ Mộ. Cả hai đều là phụ nữ thông minh. Cả hai đều thất tình vì không thể
nên duyên vợ chồng như mong đợi. Một bên vì nghĩa lớn, bên kia vì thay lòng,
nhưng cả hai đều đối diện với cách ứng xử cực đoan.
Nếu Lý Mạc Thu biến tình hận thành tàn ác,
không kiểm soát được, lan tỏa thành ác nghiệp giang hồ, để sau cùng chết vì độc
hoa tình, chết trong biển lửa tại Tuyệt Tình Cốc, mà vẫn chưa ngộ ra “tuyệt
tình”. Nàng chết vì biển lửa, hay chết vì lửa tình?
Còn Lâm Triều Anh, chỉ vì lòng kiêu hãnh, háo
thắng, đã không nhận ra chuyện đời đa dạng và phức tạp, không hiểu được nỗi
lòng người mình yêu, để rồi dẫn đến ngộ nhận với những ứng xử cực đoan, cố chấp.
Bà không chấp nhận thất bại, cả trong võ công lẫn tình cảm. Bà bắt ông phải xuất
gia, ở đâu đó quanh bà, nhưng ông thanh thản với đời sống tu đạo. Còn bà cũng gần
như đi tu, không giết ai, nhưng lại tự giam mình trong Cổ Mộ, chuyên nghiên cứu
võ công để khắc chế Toàn Chơn phái. Rồi để tình yêu hóa thành cô độc lạnh lẽo,
tự hành hạ nỗi đau của mình.
Tất cả cũng chỉ vì hận tình. Nếu Lý Mạc Thu hướng
nỗi đau ra ngoài và thiêu đốt thiên hạ, thì Lâm Triều Anh lại hướng nó vào
trong và thiêu đốt chính mình. Tình yêu không làm con người trở nên cực đoan,
nhưng chính cách con người giải quyết nỗi đau mới tạo ra bi kịch.
Tình yêu đúng là nhức đầu thiệt. Viết tới đây,
tôi cũng phải thở dài:
Hỡi người dưới thế tình là vật chi
Hẹn nhau sanh tử cùng đi…
Vũ Thế Thành
Chuyện Không Đáng Kể - Lê Việt Điểu
Chuyện Không Đáng Kể
Con
đường quanh co qua mấy gốc liễu, những cây sồi già, những tán lá rộng của hàng
cây bả đậu và đột ngột mở rộng. Khoảng trời xanh trưóc mặt cho người ta có cảm
giác thoáng mát, thoải mái. Bên phải con đường một ao nhỏ có hình dáng chiếc hồ
lô, một sân cỏ bao quanh có một vài chiếc bàn gỗ bên cạnh đó là nhũng lò nướng
BBQ quen thuộc.
Cuối công viên, nằm xéo bên phải có một căn nhà nhỏ sơn màu rêu pha một chút sắc
vàng. Cổng vào nhà làm bằng gỗ có giàn hoa leo, vào mùa hè những chùm hoa màu
tím than treo lơ lửng càng tạo vẻ trầm mặc cho ngôi nhà. Căn nhà nằm khuất dưới
bóng cây thông già cụt ngọn.
Hôm nay, bầu trời cuối năm vẫn đục màu chì, mây mù bao phủ những ngọn đồi ở
phía xa xa. Hai cửa sổ có màn che cùng màu với căn nhà, mở rộng, làn gió nhẹ
rung động các tấm màn. Con chó nhỏ nằm im trên chiếc xích đu đặt trước hiên nhà
dưới cửa sổ bên cánh trái căn nhà.
Đồng Khuyên nhìn rõ căn nhà từ bên kia bờ hồ khi chiếc xe taxi vừa thoát ra khỏi
mấy lùm cây. Xuống xe, trả tiền, Đồng Khuyên hồi hộp đặt bước chân đầu tiên lên
thảm cỏ công viên. Nàng sẽ ngạc nhiên, mở tròn đôi mắt ? Nàng sẽ bụm miệng ngăn
tiếng kêu thảng thốt? Nàng sung sướng chào đón cuộc gặp mặt bất ngờ? Nàng sẽ phản
ứng thế nào? Chàng sẽ nhào tới ôm nàng trong vòng tay hạnh phúc? Sẽ hôn nàng
say đắm? Nàng rụng rời, mềm nhủn, ú ớ đón nụ hôn trong cảm giác thích thú?
Bao nhiêu luồng tư tưởng nhảy múa trong đầu theo những bước chân càng lúc càng
gần hơn. Đồng Khuyên nhìn một lần nữa căn nhà. Ờ, chưa nhìn rõ số nhà, nhưng
chàng biết chắc đó là căn nhà chàng đang muốn tìm đến. Nàng đã nói về căn nhà của
nàng:
- Căn nhà có màu xanh rêu anh nhé. Ở ngoài có một cây thông...Cây thông cụt đầu
anh ạ.
- Tại sao lại chọn cây thông kỳ thế?
- Í, ai mà chọn. Ô...khi mua căn nhà nó đã có sẵn đó rồi mà. Anh mà thấy nó anh
sẽ thương lắm.
- Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Phải thế không em?
- Anh nầy. Bao giờ anh sẽ lên thăm em nè.
- Tết.
Có tiếng cười rúc rích:
- Tết Marốc hả?
- Cái gì? Tết này đó.
Có tiếng reo vui:
- Chắc! Ngày nào nè. Trước? Sau?
- Bí mật.
- Xí, thấy ghét.
Bây giờ chàng đang đứng trước nhà nàng, vài phút nữa chàng sẽ găïp nàng. Lòng Đồng
Khuyên như mở hội. Mùa Xuân chưa về mà lòng chàng đã nở hoa.
Sân cỏ mới cắt còn nồng ngai ngái. Cỏ mới cắt có mùi rất đặc biệt. Không thơm
mùi hoa dại, không nồng sặt sụa như đống lá ủ mục; nó có mùi hơi ngai ngái cay
nồng ấm áp và thoảng thoảng mùi thơm của cỏ, cái mùi trong gió khi ta chạy qua
cánh đồng cỏ hoang.
Đồng Khuyên đăït những bước chân nhẹ nhàng làm như chàng không muốn kinh động
không gian còn đang ngái ngủ trong một buổi sáng chúa nhật không có nắng. Đang
là cuối mùa Đông và sắp bước sang Xuân và đây đó vết tích mùa Đông còn vương
vãi với những xác xơ của cây của cỏ bị vùi dập trong những trận mưa tuyết bất
ngờ. Đồng Khuyên kiểng chân nhìn ra phía xa, mờ mờ trong màn sương đục.
- Nếu anh đứng trước sân nhà em...Ô, không phải...đứng trên mô đất cao của công
viên trước nhà em và anh chỉ cần nhón chân lên một chút anh sẽ nhìn thấy vịnh
Victoria nằm phục dưới chân anh.
Nghe nàng tả cảnh, lòng Đồng Khuyên càng nao nức. Bây giờ chàng đang đứng đây.
Chàng nhón gót mong tìm được cảm giác "Vịnh Victoria nằm dưới chân
anh." Nàng quên nói cho chàng biết từ đây chỉ nhìn được Vịnh Victoria vào
mùa nắng hoặc những ngày đẹp trời mà thôi. Trong những ngày sương mù vịnh
Victoria chỉ là động Thiên Thai của chàng Từ Thức thuở xưa. Bây giờ, ánh nắng
đang cố ngoi ngóp trong đống chăn bông nõn nà, những luồng sáng xuyên mây như cố
vùng vẩy thoát khỏi một cơn ngủ nướng. Mây ửng sắc hồng, màu hồng đôi má của cô
gái đương xuân xứ hoa Anh Đào Đà Lạt. Đồng Khuyên nhớ về Đà Lạt với xóm Da Thiện,
với chợ Hòa Bình, với cây cầu đá đi ngang qua con đường đến Chợ. Nhũng bậc đá
leo lên chợ tràn đầy kỉ niệm một thời. Đừng từ trên cao nhìn qua bên kia thung
lũng, nóc chuông giáo đường chìm ngập trong sương, dưới thung lũng, thấp thoáng
trong sương mù, những luống rau cải mơn mở còn ngậm nước, những cô gái quảy đôi
gàu tưới thoăn thoắt bước đi giữa hai luống rau đôi tay nhuần nhuyển nghiêng
thùng đổ nước. Những cô gái đầu đội nón lá, trùm kín gương mặt ửng hồng sau tấm
khăn lông chống lạnh. Những đôi má hồng như trái mận khó quên trong lòng các
chàng trai Sài Gòn (đa tình) sau lần viếng thăm thành phố sương mù.
Đồng Khuyên đứng đây, một thành phố sương mù, có nhiều đồi thông rất Đà Lạt. Vịnh
Victoria dưới kia ẩn hiện một chút nhớ thương về bờ hồ Hồ Xuân Hương. Nhưng người
con gái nơi đây, nơi thành phố vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, không phải là người thôn nữ
gánh nước tưới rau có đôi má hồng đào. Nàng đến từ Hà Nội phố. Xứ sở của 36 phố
phường.
- Anh à, 36 phố phường là của các nhà văn, nhà thơ còn đối với em. Hà Nội là những
ngỏ cụt, nhà thấp lè tè, mưa bên kia đổ nước xuống nhà bên đây. Là những ngày
ba mẹ đã ra đi, em còn ở lại sống với ngoại. Hà Nội trong mắt ai? Anh đã xem cuốn
phim phóng sự nầy chưa? Hay lắm. Hãy nên xem một lần để thấy Hà Nội bây giờ.
- Ừ, thì "Hà Nội trong mắt em" nhé. Chàng cười rất nhẹ, miệng thổi
phù phù vào điện thoại.
- Anh tinh nghịch quá đi. Nàng cười rúc rích.
- Anh sẽ về, em ơi anh sẽ về...chàng ca nho nhỏ...về thăm ngôi nhà thân thiết với
hàng thông xanh...
- Thôi đi ông tướng. Ca hát cái gì ông ổng như người thợ rèn thổi ống bể thế hở.
Nàng cười to sảng khoái khi hạ được chàng.
- Okay. Tỉ số 2/1 nhé. Đợi đó.
Những câu chuyện không đầu đuôi vẫn tiếp diễn hàng đêm trong "Private
Room." Người con gái nói về Hà Nội của nàng, và chàng nói về cánh đồng nước
nổi của chàng. Nước sông Hồng bắt kịp nước Cửu Long. Phù sa màu cám pha trộn đỏ
ối nước sông Hồng, cho cây vông vang ra kịp nụ. Nước sông Thương có 6 cửa chảy
xuôi một dòng, và Vàm Cỏ có chia Đông Tây nhưng vẫn bắt kịp nhau ở đất Gò Công
Đông cùng xuôi ra biển. Nàng kể huyên thuyên về chùa Quán Sứ, về đền Ngọc Sơn,
chàng liên tu bất tận về Miễu Bà Chúa Xứ, Núi Oâng Cấm, Thạch Động Hà Tiên.
- Nè, em có biết nàng công chúa con vua Hùng Vương bị chằng tinh bắt về thạch động
không?
- Biết. Sao cơ?
- Thạch Sanh nhìn thấy chim đại bàng bắt cóc nàng công chúa bay ngang qua làng,
chàng liền theo dấu chim và cứu nàng ra khỏi thạch động đem nàng về với vua
cha. Thạch động đó bây giờ còn vết tích tại Hà Tiên, Rạch Giá.
- Chuyện đó em có đọc, nhưng anh ăn gian. Thạch Động nào ở Hà Tiên? Giọng nàng
nghi ngờ.
- Em chưa biết hả. Thạch Động ở Hà Tiên có cái động ăn thông ra biển. Ngày xưa
ngưòi ta nói thả xuống đó một trái dừa thì vài ba ngày sau nó đã trôi ra bải biển
đó em à.
- Hổng tin.
Giọng nàng phụng phịu và chàng biết chắc chắn hai má nàng sẽ phồng lên nủng nịu.
- Hổng tin thì thôi.
- Vậy anh có biết Hồ Hoàn Kiếm không nè?
- Dễ ẹt. Con nít học lớp ba cũng biết.
- Ờ, nhưng anh đã đăït chân đến đó chưa? Đã thấy mặt hồ in bóng những tàng cây
liểu ven bờ. Có nhìn thấy cây sấu có rể lồi lên mặt đất bò ngổn ngang như đàn rắn
chưa? Biết chắc là chưa mà.
Nàng cứ thao thao về những địa danh lịch sử. Và nàng chìm trong nhớ thương
không vơi. Cứ thế chàng và nàng kể cho nhau nghe về hai đầu đất nước. Cho đến một
hôm chàng kể ra một câu chuyện (chàng đã nghe hoặc đọc được ở đâu đó trên báo
chí) một câu chuyện thật ra không nên kể.
- Anh này. Trong quê anh có chuyện gì làm anh nhớ nhất trước khi anh cất bước
ra đi?
- Em thì sao?
- Em ấy à? Đã kể anh nghe hết rồi đấy.
- Anh à? Chuyện làm anh nhớ nhất hả? Nó không phải xảy ra ở bên nhà, nhưng nó ở
bên nầy?
- Kỳ há. Anh kể nghe đi.
- Cũng không hẳn là hoàn toàn ở bên này. Nhưng nó kết thúc ở bên nầy.
- Thế à? Chuyện vui hay buồn?
- Câu chuyện thật bình thường, tầm thường nữa là khác. Câu chuyện về một buổi
chiều mưa ở San Francisco.
- A, em biết rồi. Anh ngồi ở trong quán café nhìn mưa nhớ Sài Gòn hả?
- Em chỉ được giỏi cái tài đoán mò. Nó không hẳn vậy, nhưng cũng có khung cảnh
như vậy. Nhưng có một điều không phải là anh đâu nha. Một câu chuyện anh nghe kể
hay đọc đâu đó trên báo?
- Thôi được rồi kể đi. Nàng nôn nóng thúc giục.
- Ừ. Nghe nghen...câu chuyện như thế nầy.
Buổi chiều ở SF vào mùa này thường có những trận mưa phùn kéo dài. Những cơn
mưa trơn trợt những con đường dốc đứng trong thành phố. Tôi thường hay ra quan
Kiến Giang đầu ngõ uống café vào những lúc như thế nầy. Chiều hôm nay vẫn như
thường lệ, con ngõ vắng sũng nước trong cơn mưa. Tôi ngồi im ở một góc quán nhấm
nháp ly café sữa nóng nhìn màn mưa kéo dài qua các cột đèn, qua các hàng quán
và nhớ Sài Gòn da diết. Trong quán có một vài ba người khách đang ăn uống, bỗng
có tiếng một phụ nữ vang lên từ sau lưng:
- Ông là người Việt Nam.
- Dạ thưa vâng. Có chi không ạ. Tôi vừa quay lại nhìn người vừa hỏi, đáp lời.
- Tôi có thể ngồi chung bàn với ông không? Người đàn bà trùm kín trong lơp áo dạ,
khăn choàng cổ.
- Vâng xin bà cứ tự nhiên.
Người đàn bà ngồi xuống bên cạnh, tôi để ý và nhận ra người đàn bà vào trạc tứ
tuần, không có nét gì đặc biệt ngoài mái tóc dài lòa xòa trên đôi vai gầy và phảng
phất nét đẹp của thời con gái còn sót lại. Tôi cứ ngở bà muốn ngồi chung bàn để
có bạn nói chuyện. Nhưng không. Tôi lầm. Người phụ nữ ngồi im lặng, cúi gầm mặt
xuống ly nước, không nói một lời nào sau câu xin phép ngồi chung bàn lúc ban đầu.
Tôi cũng chẳng quan tâm làm gì. Ở xứ nầy chuyện một người phụ nữ đẹp ngồi chung
là chuyện thường xảy ra. Và cũng có thể sau đó là một màn mời mọc nhau đi
"dinner" và chuyện gì nối tiếp sau đó "Có trời mới biết."
Sau phút chờ đợi người đàn bà ngồi xuống chiếc ghế đối diện, không nghe thấy bà
ta nói năng gì cho nên tôi cũng chẳng quan tâm đến nữa. Cho đến khi cơn mưa vừa
dứt cũng là lúc người đàn bà đứng lên bước ra cửa tôi mới ngạc nhiên về thái độ
hơi kỳ quặc của bà ta. Ra đi không một lời cáo từ. Từ chỗ ngạc nhiên dẫn tôi đến
sự lưu ý. Tôi nhìn theo cho đến khi bà khuất dạng sau một góc đường.
- Này, ông Kiến Giang. Bà vừa rồi là ai thế. Tôi hỏi ông chủ quán khi ông ta đi
ngang qua bàn tôi.
- Bà nào? Ông hỏi thế bố tôi cũng không trả lời được.
- Thì người đàn bà ngồi chung với tôi vừa bước ra đó.
- À. Người bận áo dạ màu đen đó hả.
Tôi ngước mắt chờ đợi câu trả lời.
- Oái cái ông này. Bà điên đó mà. Ở đây ai mà không biết bà ta.
- Điên à? Tôi không dấu nỗi ngạc nhiên. Điên! Ông không nói đùa đấy chứ.
- Tôi đùa với ông làm gì? Người chủ quán quay lưng bước đi. Ông không tin tôi
à? Thì ông cứ đến đây vài lần rồi khắc biết. Ông sẽ được nhìn thấy bà ta
"chuổng cời" chạy nhông nhông ngoài phố.
Câu chuyện về người đàn bà nhanh chóng rơi vào quên lãng trong cuộc sống quá
nhiều lo toan ở đây. Và chắc hẳn là tôi đã quên nếu không có một buổi chiều
kia, tôi nhìn thấy tận mắt người đàn bà hôm trước, không mảnh vãi che thân chạy
băng ngang qua đưòng cũng trong cơn mưa tầm tả. Dòng xe cộ ngừng hẳn để tránh
gây ra tai nạn. Một chiếc xe cảnh sát chạy trờ tới, và rất thành thuộc trong động
tác, người cảnh sát viên to lớn như hộ pháp đã bước xuống xe với một chiếc mền
nhào tới vồ lấy người đàn bà và nhấc bổng lên như con gà bắt con ngóe. ông ta
nâng hẳn người đàn bà khỏi mặt đất, mặc cho bà ta chòi đạp và la ú ớ những tiếng
vô nghĩa. Sau đó người cảnh sát viên đã ôm người đàn bà đến một căn chung cư gần
đó và tấn bà ta vào một căn buồng.
- Người đàn có chồng con gì không ông chủ. Tôi hỏi ông chủ Kiến Giang sau khi
nhìn trọn hoạt cảnh gần như quen thuộc với dân chúng khu phố nầy.
- Ai mà vô công rỗi nghề đi tìm hiểu làm gì? Ông chủ quán hờ hửng trả lời và trở
lại với công việc thường ngày của ông ta.
Không hiểu vì một lý do nào đó, câu chuyện về người đàn bà điên cứ xoắn tít lấy
tôi không rời. Tôi định trong bụng là sẽ hỏi nơi ông chủ quán. Sau nhiều lần bắt
chuyện, ông chủ quán, và nhiều người khách rất thờ ơ với câu chuyện của người
đàn bà điên. Có nhiều khi tôi bị nhìn với ánh mắt ngạc nhiên
- Ông thật vô công rỗi nghề. Ông Kiến Giang đã nói với tôi như thế khi biết tôi
tìm hiểu câu chuyện về người đàn bà điên.
Tôi không bỏ cuộc, và sau bao nhiêu chắp nối những điều vụn văït trong những
khi nói chuyện với các khách hàng trong quán tôi có được một câu chuyện tương đối
hoàn chỉnh như thế nầy. Người đàn bà trước năm 1975 là một người thiếu nữ có sắc
và có học. Tuổi hoa niên của nàng như bao nhiêu cô gái Sài Gòn khác, lớn lên
trong an bình, ngập tràn trong yêu đương với những mối tình lãng mạn. Cho đến một
ngày vào đầu năm 1974, nàng đã yêu tha thiết một người bạn học chung trường.
Chàng chưa kịp đại đăng khoa với "võng anh đi trước vòng nàng theo
sau" tình tứ lãng mạn thì "chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt" đã
phải "xếp bút nghiêng theo việc đao cung." Chàng vào quân trường vào
một chiều Sài Gòn có mưa phùn lất phất. Mùa Xuân năm 75 chàng vừa ra trường kịp
lúc theo chân các bạn đồng khóa buớc vào cửa "cải tạo" Nàng ở nhà sắc
son chờ đợi và tiếp tế cho chàng, mặc dù hai người chưa có danh phận vợ chồng.
Nhà nàng đã ra đi trong những ngày lộn xộn của Sài Gòn. Nàng quyết ở lại cùng
chàng chia nhau ngọt bùi. Mối tình thật đẹp. Vài năm sau, nàng đã lo lót được
cho chàng ra tù và chuẩn bị cùng nàng vượt biên xây tổ ấm ở nước ngoài. Ngày
chàng ngơ ngác trở về thì mọi chuyện đã có nhiều thay đổi. Chàng như lạc lõng
giữa Đô Thành hoa lệ ngày xưa. Nhìn người xưa chỉ còn lại đôi nét của thời hoa
mộng ẩn khuất đâu đó trên mái tóc dải dầu, trên đôi má rám nắng.
Gia cảnh nàng không giàu có, nhà chàng cũng suy sụp hơn xưa. Nhưng tại sao nàng
có tiền để lo lót cho chàng ra tù và chuẩn bị chuyến vượt biên? Chàng mang nỗi thắc
mắc trong lòng cho đến một đêm hai đứa năm chờ trên bãi biển đợi
"taxi" vào rước ra "cá lớn" chàng không chịu đựng được nữa.
- Trước khi chúng ta ra đi. Anh có một nỗi thắc mắc mang hoài trong lòng chưa
giải đáp được. Trước khi từ giả quê hương em có thể nói cho anh biết được
không? Em lấy đâu ra được 2 lạng vàng lo cho anh "ra trại" và tiền của
đâu cho chuyền đi nầy?
- Em biết nỗi khoăùc khoải thắc mắc của anh. Em sẽ kể một khi nào thuận tiện.
Hôm nay anh hỏi, thì, em xin được thưa thật để giải tỏa một lần cho xong. Anh
biết đó, em là con gái mới lớn, chưa lập gia đình, và ba mẹ thì đã ra đi. Em
làm gì có tiền thăm nuôi và lo lót cho anh. Em có theo người ta buôn bán nhưng
làm sao có đủ. Của ba má để lại bán lần hồi cũng hết em chẳng còn gì để bán.
- Vậy tiền đâu em có? Người con trai gằn giọng.
- Em đã bán...Anh nghĩ coi. Em còn cái gì quý giá để bán lo cho chúng ta?...Em
thú thật...em... em đã bán đời con gái để đổi lấy hạnh phúc cho chúng ta về
sau.
Người thanh niên nghe như đất trời quay cuồng và sụp đổ. Anh thảng thốt kêu lên
như không tin ở tai mình:
- Em đã bán...đã bán đi cái đời con gái của em?
Người con gái cuối đầu. Người thanh niên chết lặng. Trời trồng; trong khi đó
chiếc "taxi" đã rọi đèn làm hiệu, mọi người âm thầm rời chỗ ẩn náu để
lên ghe. Người con gái vỗ vai người con trai nhắc nhở:
- Chúng ta đi anh. Tàu đã đến rồi.
Chiếc tàu đã rời bến, lặng lẻ xẻ nước hướng ra biển đông, tại bãi đáp vẫn còn
hai bóng người đứng lại. Người con trai nhất định không đi. Người con gái
thương chồng không thể bỏ lại.
Vài ngày sau, tại nhà, người đàn ông đã tự tử để lại một bức thư ngắn gọn có nội
dung như sau "Anh xin lỗi đã làm cho em trễ chuyến tàu. Em ơi, anh đi làm
gì khi không có em bên anh. Anh ra đi là muốn mang em theo cùng, mang theo một
trời hạnh phúc bên em. Nhưng làm sao anh quên được chuyện gì đã xảy ra. Vĩnh biệt
em... Người tình bất hạnh."
Và sau đó người đàn bà đã vượt biên đến được Hoa Kỳ, sau nhiều tháng ngày lang
thang một vài nơi , bà đã định cư tại SF và đó là người đàn bà điên.
Tôi định bụng sẽ gặp bà để nói chuyện. Sáng nay, một buổi sáng không được tốt
trời. Cơn mưa đã đổ ập xuống thành phố từ tinh mơ. Tôi rời nhà ra quán tìm chút
hơi ấm với hương vị ngan ngát mùi café. Đến ngã tư đường có đám đông đang vây
quanh một vụ tai nạn xe hơi, tôi ghé mắt trông vào. Người đàn bà trần truồng nằm
dưới mưa. Mọi người chỉ trỏ. Bà điên.
Tôi thẩn thờ rời đám đông đi thẳng đến quán Kiến Giang. Hôm nay quán vắng
khách. Ông chủ quán ngồi sau quày tính tiền đang gõ máy lách cách. Tôi bước vào,
ông nhướng mắt nhìn lên và thản nhiên cuối xuống chiếc máy tính tiếp tục làm việc.
Người hầu bàn mang ra một ly café. Tôi chưa uống vội. Hương café tràn ngập căn
phòng ấm cúng, ngoài trời cơn mưa vẫn tiếp tục bay qua cửa kính. Tôi thẩn thờ đến
bên ông chủ đang ngồi sau bàn tính.
- Ông ạ.
Người chủ quán ngước lên chờ.
- Bà điên vừa mới bị đụng xe ngoài kia ông ạ.
- Tưởng chuyện gì.
Nhìn thấy thái độ không mấy ngạc nhiên hay vồn vả biểu đồng tình của ông chủ
Quán (dù cho đó là hành động làm dáng). Tôi quay lại bàn ngồi và nhìn ra ngoài
trời, cơn mưa vẫn chưa ngớt hạt.
Bỗng có tiếng động sau lưng. Ông chủ bước đến gần vỗ vai tôi.
- Ông hay lo nghĩ những chuyện vớ vẩn. Chuyện người đàn bà điên bị xe đụng có
gì đáng quan tâm lắm đâu. Chuyện đó bình thường thôi. Ở đây còn có nhiều chuyện
đáng quan tâm hơn sao ông không nói.
Ông chủ thản nhiên cười và quay đi. Nhìn gương mặt ông không tỏ lộ một chút gì
gọi là xúc động-dù giả dối. Gương mặt bình thản đến độ lạnh lùng. Gương mặt nó
không đểu nhưng chai lì làm sao. Tôi chợt rùng mình."
Đó là câu chuyện anh muốn kể cho em nghe. Nàng im lặng...mọi sự nhạt nhòa...
Mọi tiếng động đều im bặt chỉ còn một tiếng thét thật to của thằng bé đang năm
trên giuờng bệnh. Đồng Khuyên giật mình trở về với căn phòng bệnh viện và đứa
bé chàng phải trông coi trong đêm nay.







