Friday, February 13, 2026

Chúc Xuân Bính Ngọ 2026 - 304Đen

 Chúc Xuân Bính Ngọ 2026




Xuân Quê - Thuyên Huy

 Xuân Quê

 















Ngấp nghé ngoài song cửa

Xuân về từ hôm qua

Mai rộ đầy trước ngõ

Vàng rực ngàn cánh hoa

 

Bến đò ra chợ quận

Người hối người đi mau

Gái quê làng lúng túng

Mai làm duyên trên đầu

 

Sân chùa vang pháo nổ

Người thẹn thùng chờ người

Vang vang hồi chuông đổ

Đường làng rộn ràng vui

 

Mái tranh nghèo khói tỏa

Bếp lửa chiều Ba Mươi

Trẻ gọi nhau ngoài ngõ

Tấp nập đò ngược xuôi

 

Cầu tre mùng Một tết

Hối hả gái quê làng

Qua xóm bên cho kịp

Cùng ai đón xuân sang

 

Dập dìu đàn én lượn

Vàng Mai nắng lâng lâng

Qua rồi mùa gió chướng

Quê làng rộn tình xuân

 

Thuyên Huy

Chờ Xuân Giáp Thìn 2024

 

 

 

 

 

Chiếc Lá - Phượng Hồng & Lá Rụng Ngoài Song - Nguyễn Cang & Mãi Ở Trong Tôi - Diệp Văn

 Bài xướng:

CHIẾC LÁ

 


 

















Chiếc lá nghiêng chao giữa khoảng không

Như còn lưu luyến chốn trần hồng 

Bao lần thức trắng theo nồng hạ

Nhiều lúc ngủ vùi với rét đông

Mây  trắng trời xanh đầy khát vọng

Nắng vàng sương bạc hết chênh chông ...

Hoàng hôn chợt tím màu tê tái

Ráng đỏ chiều hôm nặng cõi lòng !

 

Phượng Hồng

 

Họa 1/.

LÁ RỤNG NGOÀI SONG

(thay vần Chông câu 6)

Thu vàng lá rụng rớt tầng không

 Gió thoảng ngoài hiên cuốn bụi hồng

Bát ngát chân mây trời cuối hạ

Bùi ngùi cổ độ buổi tàn đông

Quê nghèo mấy bận tràn giông bão

Bến cũ đôi lần ngập nước sông

Lá rụng, người đi, đời cách biệt

Làm sao cưỡng lại  cảnh đau lòng?

Nguyễn Cang ( Jan. 30, 2026)

Họa 2/.

MÃI Ở TRONG TÔI

Dáng cũ còn in giữa cỏi không

Bờ vai gọn nhỏ nét môi hồng

Thương chồng lẻ bóng, tù phương bắc.

Nhớ mẹ đơn thân, tựa cửa đông

Khắc khoải ngày đêm, buồn dạ ngóng

Âm thầm gánh chịu, gối đèn trông   

Mười năm, kiệt sức… Hoàng hôn tím

Chết lặng mình tôi… Giữ một lòng!

 Diêp Văn

 

 

 

Nước Mắt Chiều Ba Mươi - Thuyên Huy

 

NƯỚC MẮT CHIỀU BA MƯƠI

 

    Hình như cũng gần cả nửa năm, sau ngày từ Phước Long đổi về Vĩnh Long, công việc tương đối nhàn hạ, không đến nổi lo rầu, hồi hộp, ngó trước dòm sau, liếc qua liếc lại, mỗi lần từ Vĩnh Long về hay trên Sài Gòn xuống, xuống phà Mỹ Thuận chờ xe đò, qua sông, anh cứ đứng nhìn, nhìn mà thấy buồn buồn làm sao.

*



    Trên phà, chen lấn xe người, hai chị em, một trai chừng sáu bảy tuổi, ốm yếu, đội cái nón nĩ cũ rách tả tơi, một gái chừng lên mười, cũng mảnh khảnh gầy gò, bị cụt mất nửa cánh tay phải, một chân co rút lên đi cà nhắc, tóc xỏa dài, rối bời, mùi nước sông khét nắng, cả hai mặt mày sáng sủa, dễ nhìn, em dắt chị đi trước, tay cầm cái giỏ tre nhỏ như cái đục, lên đầu này rồi ngược lại đầu kia, đứa chị cố hát bài này bài kia, những bài cũ, cố cao giọng hầu lấn át tiếng máy phà xình xịch nổ, lạy ông đi qua bà đi lại, xin chút tiền bố thí.

*

    Bao lần rồi, cứ bao nhiêu đó bài hát quen “bạn ơi quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã đã đi xa rồi” hay “có người hỏi tôi tại sao hay ca bài ca sầu nhớ, hay ngắm trăng mờ hoàng hôn” hát đi hát lại, không biết học từ đâu nhưng con bé hát khá hay, mặc dù nghe tiếng mất tiếng còn.

    Lần nào cũng vậy, mỗi lần xuống phà chờ xe lên, là anh tìm tới bên hai chị em, giữa rừng người lố nhố ồn ào hơn cái chợ, cho chừng năm ba chục, hỏi han đôi ba câu, không biết người ta cho nhiều không, nhưng thấy hai đứa vòng tay, rươm rướm mắt cám ơn, nhìn hai chị em lếch thếch đi, anh bổng dưng muốn khóc.

*

   Một trưa cuối thu, trời thay mùa nhuốm lạnh, nắng tốt, người rầm rập xuống lên mua bán, không đầy một tháng nữa tới Tết, vì phải trở lên Sài Gòn có việc cần làm gấp cho chỗ làm, và vài ngày nghĩ phép, có lẽ ở trên đó vài tuần, chờ xe đò tới lượt qua phà chắc khoảng hơn tiếng rưỡi đồng hồ, quàng túi xách lên vai, anh bỏ xe đi nhanh xuống bến, nước sông lặng im, mấy đám lục bình đầy hoa tim tím cũng nằm im ngủ, phà bên bờ Cai Lậy vừa qua tới, tìm kiếm hai chị em, hỏi han vài câu, dẫn hai đứa lên tiệm cơm sát bờ đường lên xuống phà, ăn bữa cơm trưa làm quen thêm, hỏi tên.

*

    Anh ngồi cười nhìn, hai chị em rụt rè ăn, nhưng cười mà lòng nhói đau không ít. Kể chuyện cho anh nghe, đứa chị vừa thúc thít vừa quẹt nước mắt, quê ở bên Lấp Vò, ba làm trong hội đồng xã nào đó, nhà bị trúng đạn mọt-chê pháo kích của quân du kích trong đêm họ tấn công xã, chừng hơn một năm nay, ba má chết hết, còn lại hai chị em, nó bị thương, người ta chở hai chị em lên bệnh viện tỉnh, nó sống nhưng tàn tật, xã ấp chôn cất xong, người quen đưa hai chị em vào ở tại một cái chùa nhỏ, ngoại ô Sa Đéc, trên đường đi ra ngã ba Mỹ Thuận Vĩnh Long, sống với bà sư cô tuổi già, lum khụm, bữa cơm bữa cháo, tương chao rau củ.

*

    Mới chừng đó tuổi biết thương cho bà sư cô, nhọc nhằn nghèo khó, mấy ngày đầu, hai chị em dắt nhau ra đường, đón xe xin quá giang ra Mỹ Thuận, ca hát xin tiền bá tánh, được người đi qua người đi lại thương tình, những ngày sau hai chị em có được chút tiền, trả cho xe đi về mỗi ngày, là những chuyến xe quen thường ngày và biết chuyện hai chị em, nên trả mà chủ xe không lấy, đã vậy chuyến về còn cho hai chị em tiền nữa.  Hết chuyện, anh ngồi nghe, hai chị em rấm rứt khóc, đắng lòng anh cay xé mắt.

*

    Sau ngày đưa ông Táo tháng Chạp, anh trở xuống Vĩnh Long, xách thêm cái túi vải, đựng mấy bộ đồ mới cho con trai con gái, hai đôi dép săn - đan, mua ở tiệm giày da tận bên Khánh Hội, ngay khi về trên này, hôm ngồi ăn cơm với hai chị em hát ăn xin, làm quà Tết cho hai đứa.

*

   Hớn hở mang túi xách xuống phà, tìm đầu trên đầu dưới không thấy bóng dáng hai chị em, không có tiếng hát như trước, thấy cũng lạ, tìm gặp ông bác nhân viên lo sắp cho xe hàng xe đò xuống phà, hỏi có biết hai chị em đâu không, anh chết lặng. Bữa chiều đó, mưa to, giông gió như bão rớt, trời tối xầm, sấm chớp, chiếc xe lam thường ngày từ Mỹ Thuận về Sa Đéc, trên đó có hai chị em hát ăn xin, không may bị chiếc xe nhà binh GMC chạy quá nhanh ngược chiều, đụng lật nhào bể làm hai, văng xuống ruộng, năm sáu người chết, có hai chị em nó. Anh nghe mà tưởng chừng như trời đất quay cuồng, ngửa mặt lên, nắng chang chang đổ, muốn thét lên thật lớn “trời ơi”.

*

    Anh mở túi xách để quần áo, hai đôi dép săn – đan, chia ra bên trai bên gái trước hai tấm bia của hai nấm mộ nhỏ, còn mùi đất bùn, trần trụi, nằm sau chái hiên chùa một khoảnh sân, dưới bóng cây Ô Môi già thưa lá, đốt nhang lâm râm khóc, bà sư cô già đứng phía sau lưng, khóc theo. Chiều nay chiều Ba Mươi Tết.

 

Thuyên Huy

Nhớ những lần qua phà Mỹ Thuận trong những ngày ở Vĩnh Long.

Ngậm Ngùi - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 185_VƯỜN THƠ MỚI

 















Xướng:

Ngậm ngùi

Thăm thẳm trời chiều chiếc lá rơi
Nhớ dòng sông nhỏ dạ bồi hồi
Cuốn theo cát bụi mùa thu chết
Bỏ lại vườn thưa bọt nước trôi !
Thao thức đêm dài ngồi độc ẩm
Xót xa phận bạc khóc đầy vơi
Tà huy bóng ngã sầu ly biệt
Bến cũ trăng thề cũng nhạt thôi!!
Nguyễn Cang

Dec. 7, 2025


Họa 1:

Tiếng Mưa Rơi

Đêm về lặng lẽ tiếng mưa rơi
Kỷ niệm năm nao bổng khứ hồi
Khoảnh khắc tâm tư về hiện diện
Nỗi niềm phút chốc cũng buông trôi
Mơ hồ dĩ vãng thời thơ mộng
Hiện tại đong đầy cũng khó vơi
Có lẽ nhân sinh là thế ấy
Thôi thì quên hẳn chuyện xưa thôi
Hương Lệ Oanh VA
Jan, 22. 2026


Họa 2:


Đất khách

Nhớ ngày vượt biển lúc mưa rơi
Lìa xứ ra đi chẳng khứ hồi
Ngồi uống cà phê nhìn nắng sáng
Thương thầm thân phận kẻ bèo trôi
Ly hương không bạn càng hiu quạnh
Cuộc sống đổi đời tựa nước vơi
Chật vật bao năm nơi đất khách
Bình chân như vại cũng vui thôi

PTL

 

Họa 3:

 

Buồn xa xứ

Gió thu hiu hắt lá vàng rơi
Lữ khách tha phương dạ phản hồi
Chiến sĩ thương người xông trận tiến
Hận đời tiếc kẻ lững lờ trôi
Tìm đâu bè bạn ngồi tâm sự
Tri kỷ ngậm ngùi nhớ chẳng vơi
Non nước thân yêu giờ cách biệt
Xứ người đau xót thở dài thôi
THT

Họa 4:

Nào quên

Thu vàng lá đổ giữa chiều rơi
Vọng xót tình xưa mãi tưởng hồi
Dáng nhỏ bờ vai gầy tiễn biệt
Muôn tình ước lệ đẫm nào trôi
Ngàn thu độc ẩm chừng không nhạt
Lắm hạ đồng chung nghĩ chẳng vơi
Mộng tưởng thời gian liều thuốc giãi
Nhưng tình khắc dạ vẫn vầy thôi
Tâm Quã

Jan. 21, 2026

Họa 5:

Ngậm ngùi

Lá vàng khô cuống gió lay rơi

Nào biết về đâu kiếp tái hồi?

Rời rã chân đồi chờ đất trộn,

Bồng bềnh mặt nước kệ sông trôi.

Xưa mong nắng ấm khi thu muộn,

Nay chịu mưa vùi lúc hạ vơi.

Vạn vật tuần lưu sinh đến diệt,

Thuận vòng chuyển hóa máy trời thôi.

Minh Tâm

 

Họa 6: ( phụ bản bài họa của thi hữu Thảo Chương)

 

Tâm sự cuối chiều
Hấp hối cuối chiều bóng nắng rơi
Chuông chùa thoang thoảng vọng từng hồi

Âm u vực thẳm, sương mù phủ  

Lờ lững trời cao, mây xám trôi

Hũ rượu tràn trề gần sắp cạn

Tâm tình đầy ắp vẫn chưa vơi

Bàn cờ thế sự không màng tới

Thành bại, hơn thua, cũng vậy thôi
Thảo Chương

26-01-2026

 

Nghìn Trúng Xa Cách & Hoa Xuân - Nguyễn Thị Châu

 NGHÌN TRÙNG XA CÁCH

 


 
















Nghìn trùng xa cách là đây

Thiên thu nhỏ lệ đêm dài nhớ anh

Ngước nhìn lên tận trời xanh

Ngửa tay xin giọt nước lành trên cao

Xin anh hai tiếng đợi chờ

Bao nhiêu lá rụng bên bờ quạnh hiu

Đường trần nhiều lớp rong rêu

Chân đi nửa bước thêm nhiều đắng cay

Từ ngày xa cách đến nay

Mùa Xuân vẫn đến nhưng ai không về

Mai cười khúc khích đường quê

Đào khoe sắc thắm Cúc xoè mâm xôi

Tôi buồn vui với  tôi thôi

Thiên thu dài lắm, biết đời nào đây?

Gió Đông lạnh lắm người ơi!

Nàng Xuân sắp đến, nơi nơi rộn ràng

Ngoài kia bao sợi nắng vàng

Lung linh trước gió hỏi nàng chờ ai?

Nghìn trùng xa cách còn gì

Xuân nầy, Xuân nửa chờ ai? Hởi người…!!!

 

11-2-2026

Nguyễn thị Châu

 

HOA XUÂN

 
















Nắng ấm mùa Xuân đã trở về

Hoa lá bên đường lối xum xuê

Én dệt mùa Xuân trên mây trắng

Ánh sáng chan hoà khắp làng quê

 

Ai ru cơn gió ngoài đồng vắng

Chạnh lòng thiếu nữ mắt long lanh

Em hởi, em ơi, từ đâu tới?

Xuân hởi, Xuân ơi! Mái tóc xanh

 

Bâng khuâng tôi hỏi đến từ đâu?

Thẹn thùng, e thẹn em cúi đầu

Quê em ở tận miền Sa Đét

Em chỉ lên đây mới lần đầu

 

Theo cha buôn bán ba ngày Tết

Mời anh mua giúp mấy khóm Lan

Cô lấy cho tôi Lan Hồ Điệp

Miệng cười duyên dáng tôi lâng lâng

 

Nắng sớm nghiêng nghiêng hơi sương lạnh

Ngập ngừng đọng lại nét xinh xinh

Thương em Hồ Điệp từ hôm đó

Em đến rồi đi! Đêm ba mươi…!!!

 

11-2-2026

Nguyễn thị Châu

 

Tuesday, February 10, 2026

Gò Dầu Xuân Đến Chưa - Thuyên Huy

 Gò Dầu Xuân Đến Chưa

 












Em hỏi Gò Dầu xuân đến chưa

Quê tôi trời vừa kịp thay mùa

Nhánh sông bến chợ người vẫn đợi

Bên cầu cũng mấy chuyến đò đưa

 

Đường phố quận buồn theo nắng buông

Nhà em nơi đó muộn hơi sương

Gốc Mai đầu ngõ thiên thu cổ

Đong đưa cành hoa lẻ cuối đường

 

Lối nhỏ chiều hoang tím một trời

Chờ em tôi đếm giọt nắng rơi

Thèm nghe tiếng pháo giao thừa nổ

Áo mới quần thơm rộn rã vui

 

Ngập ngừng Xuân bẽn lẽn bên sông

Đò ngang e ấp chở trưa hồng

Thoảng theo hơi gió mùi hương cũ

Đón bước ai về giữa chợ đông

 

Khẻ bảo thầm nhau Xuân đến rồi

Nhặt cành Mai ghép chuyện lứa đôi

Trống lân giục tiếng chuông chùa đổ

Thẹn thùng mình gọi tiếng mình ơi

 

Thuyên Huy

Tháng 12 năm 2015

 

 

 

 

 

 

Mai Nở Rồi Ngoại Ơi - Thuyên Huy

 

 Mai Nở Rồi Ngoại Ơi

 

Chuyện viết bằng tưởng tượng để nhớ một thời trẻ thơ ở Long Thuận và chiếc tàu đò lớn Bến Cầu Cẫm Giang

 


    Buổi sáng, quanh sân nhà đã có chút nắng sớm, gài nút lại cái áo bà ba đen còn tốt, cái áo mà từ bao nhiêu năm qua, mỗi năm bà tư Hạnh chỉ mặc một lần trong ngày đi bán mấy chậu bông Vạn Thọ ở chợ xã ngày ba mươi tết. Đẩy cái  cửa bằng miếng tôn loại lợp mái nhà, bước ra sân, đám bông hực một màu vàng lóng lánh sương đêm thấy mà thương, bà bưng cái thúng rách năm sáu lổ nhỏ, đặt bên cạnh rồi ngồi xuống gốc cây khô để sát cái lu đựng nước mưa, gốc mai già cằn cỗi ở góc hiên, bông không thấy trổ từ mấy năm qua, nay lại chen nhau mà nở đầy cành, vàng tươi phơi phới, dù hôm nay mới ba mươi, nghỉ chút xíu, chờ anh ba Tựu, đẩy cái xe cút kít cây lớn chở nhang đèn lên chợ bán, đi ngang qua trên đường cái, cho bà quá giang chất theo chừng chục cái lon sửa bò làm chậu bông Vạn Thọ như thường lệ mỗi năm, bà tư lự nhìn ra ngoài xa, con vàm giáp ngã ba sông Vàm Cỏ giờ này nước lớn, sương mù còn giăng kín mít, âm u mờ mịt, dù phía bên ấp Bờ Vàm đã thấy mặt trời hé lên, bất giác bà tư thở dài, cũng ở đây, cũng ngoài đầu vàm, cũng sương mù tăm  tối, nhưng hôm đó mưa to gió lớn, chuyện của hơn mấy năm trước hiện rõ trước mắt mình, bà bật khóc.

    *

    Huệ, đứa con gái duy nhất của bà tư, mười một mười hai tuổi mới đi học nên học lên lớp ba lớp bốn rồi thôi, nhà nghèo, mẹ già, nay ốm mai đau, Huệ bỏ học, đi làm người ở cho ông bà chủ tiệm hàng xén trên chợ xã, cách ấp Bờ Vàm, đi bộ theo đường đất tắt ngang đám ruộng còi của ai đó chừng hai ba cây số, ông bà chủ cũng tốt bụng, thấy Huệ nhỏ nhẹ siêng năng, tháo vát và cảnh nghèo một mẹ một con tội nghiệp nên cho làm ban ngày thôi, chiều dọn dẹp xong được về nhà. Mùa gặt năm đó, sau ngày Huệ làm ở tiệm hàng xén được ba bốn năm, Huệ quen rồi phải lòng Đáng, người từ đâu dó trên Long Hoa, Trường Thọ xuống làm mướn phụ gặt trong làng, khi Đáng thay đám người đi chung tới mua mắm muối nước tương ở tiệm, Đáng cũng mồ côi cha mẹ, còn người chị lớn, không có chồng, tu tại gia, ăn chay trường , làm công quả trong tòa thánh, Đáng theo Huệ về nhà chào hỏi bà tư, bà thấy Đáng cũng dễ thương, tuy đen đúa nhưng ăn nói dạ thưa, từ tốn nên chẳng la rầy gì Huệ, không lâu sau ngày về trên nhà, Đáng đi cùng người chị xuống Long Giang xin hỏi cưới Huệ.

    Cưới xong, nói cưới cho ra cưới chứ có mấy ai là khách, có mâm cổ gì đâu, hai ba người lớn tuổi của nhà mấy miếng đất bên cạnh, vợ chồng chú năm Thân, trưởng ấp và ông bà chủ tiệm hàng xén chợ xã, ai cũng nghèo, người mang con cá con tôm, người mấy xấp bánh tráng, trái thơm trái dừa cũng đủ thương cháu thương con rồi, riêng ông bà chủ tiệm hàng xén, có chút giàu có nên cho hai vợ chồng cái mền bông, hai ba chục chén đủa cùng mấy cái nồi cái chảo và chút đỉnh tiền. Cưới xong, Huệ theo chồng về trên Trường Thọ, bà tư buồn lắm vì từ đây bà thui thủi một mình nhưng đành chịu, trước sau gì Huệ cũng lấy chồng, đi xa đi gần thì cũng đi, hai vợ chồng ở chung với bà chị, nhà cũng chỉ là mái tranh vách đất nhưng được cái là có cửa nẻo đàng hoàng, nằm cuối rìa ấp, bên con đường đất rộng cho xe hơi xe lôi máy chạy qua chạy lại, từ Núi Bà xuống từ Long Hoa lên.

*

    Đáng thôi không còn đi gặt lúa mướn ở xa nữa mà theo hai ba anh trạc tuổi trong xóm, theo xe be, làm nghề đốn gỗ, chặt cây trên Ka Tum, Thiện Ngôn gần miệt biên giới Miên, mỗi chuyến đi theo xe, hai ba ngày mới về nghỉ hai ba hôm rồi theo chuyến khác. Chừng năm sau, Huệ sinh thằng bé trai, Hảo, giống hệt ba nó, cả nhà tuy nghèo nhưng hạnh phúc không ít. Cuối năm thằng Hảo vừa hơn một tuổi, sau chuyến đi theo xe be, mấy ngày sau Đáng và mấy anh đi chung không thấy về như thường lệ, lo quá nhưng không biết làm sao, sáng tới chiều cứ ẳm con ra đường trông trông ngóng ngóng, chờ thêm bốn năm ngày nữa, thì những anh đi làm chuyến sau, ở ấp trong cho biết, lần đó, chiều đang sắp xếp về thì có một toán năm sáu người, mặc đồ thường, mang súng, bắt hết đám họ, luôn ông tài xế dẫn băng rừng về hướng biên giới, không biết họ là ai, chắc không phải là cướp, vì toán người này không lấy gì cả, chiếc xe be với ba thân cây lớn, cở hai người ôm còn nguyên, từ hôm đó tới hơn nửa năm sau, Đáng vẫn biệt vô âm tín, coi như không về nữa, khóc rồi nước mắt cũng cạn, Huệ xin phép bà chị đem con về lại Long Giang, thằng Hảo tròn hai tuổi.

    Nhà thấp trước hụt sau, mái nghiêng cửa hở, thằng Hảo chạy tới chạy lui, bập bẹ hai tiếng ngoại ngoại thấy vui làm sao, bà Tư quên cả công việc tát đìa, bắt cua bắt còng, cái việc mà bà đã lũi thũi làm để sống từ ngày Huệ theo chồng cho tới hôm nay, đi một chút ra đồng ra rạch thì nhớ thằng nhỏ, cứ muốn xách giỏ xách đục về, rồi thì bà ở nhà coi chừng cháu, trồng dưa trồng cải quanh nhà, Huệ thay mẹ chuyện ngoài đồng, sáng đi thật sớm để chiều về sớm với con, bà con chòm xóm đã thương đã mến từ ngày trước nên buổi chợ nào cũng bán hết, ai nấy ấp trên, xóm dưới đi ngang, ngoài đường cái cũng hỏi lớn vọng vô “thằng Hảo thằng Hảo”, vợ chồng ông chủ tiệm hàng xén chợ xã, cũng như ngày cưới của Huệ, thỉnh thoảng chở nhau bằng xe gắn máy xuống cho cái này cái nọ, hộp chao hộp tương, nước muối nước mắm.

*

    Đầu mùa mưa năm sau, năm thằng Hảo lên ba, biết nói tên mình và kêu rõ “ngoại ngoại má má”, một sáng trời âm u có vẻ muốn mưa như nhiều cơn mưa lớn từ mấy ngày qua, ngoài vàm, nước lên cao hơn thường ngày, loáng thoáng vài ba cái ghe câu đêm lờ mờ khi ẩn khi hiện, phía trong xa, miệt trời biên giới, mây đen từng mảng một, lắc lư đong đưa, không đi cũng không đến. Còn sớm, dân trong ấp chưa có mấy ai ra đồng hay lên chợ, nói sớm là trời sớm chứ hai mẹ con Huệ thức dậy trễ, bà tư đã lùi mấy củ khoai lang chín từ lâu chờ, thằng Hảo chạy ùa ra “ngoại ngoại”, bà kéo nó vào ngồi sát bên mình trên góc cái giường tre, bẻ khoai lang đút, thằng nhỏ cười ngặt nghẽo, Huệ lui cui sắp cái đục, cái giõ tre, chuẩn bị đi tát đìa như mọi ngày, ngoài đường cái đầu ấp đã có tiếng người gọi nhau.

    Bất chợt, thình lình, mây xám xịch kéo về xuống thấp, phủ cả một vùng mấy ấp bìa bờ vàm tối đen như mực, mưa cũng theo đó trút xuống như thác, gió nổi lên, giông kéo tới rít từng tiếng rợn người, bão tới, cơn bão từ hướng biên giới Miên đổ ập xuống, quét ngang làng, cùng một lúc nước sông Vàm Cỏ dâng cao, cuồn cuộn tràn lên, ngập lai láng cả vùng, sức nước sức gió thổi sập nhà cửa, cuốn trôi đi những gì mà nó chảy ngang qua, theo chiều ra sông cái, gió cứ rít, tiếng người cứ la cứ hét, một hai tiếng đồng hồ sau bão đi qua rồi, đất trời cứ gầm gừ như vậy cho gần tới trưa, vẫn còn mưa xối xả, lúc này dân trong làng trong ấp phía trên cao mới đổ xô gọi nhau đi tìm người tìm vật, tìm trâu tìm bò, kẻ chèo ghe người chèo xuồng, từng nhóm hò hét trên cả một vùng  biển nước nước mênh mông, không biết bờ biết bến, cứ chèo cứ bơi, gần như cả một ấp Bờ Vàm, chỗ bà tư Hạnh ở, không còn một căn nhà nào sót lại.




*

    Mưa dứt, nước tạm rút đi , mấy cây xoài hoang cao ngất dọc theo bờ vàm giờ mới thấy chút ngọn, chút lá, chiều xuống, trời ửng sáng lên chút đỉnh, ghe xuồng đi tìm người lục đục kéo về, mang theo một số người may mắn sống sót trong đó có bà tư Hạnh cùng với mười mấy xác chết trôi, họ tụ tập trên khoảng đất gò cao, trước nhà trụ sở ấp, ông trưởng ấp và mấy người lớn tuổi phụ kiểm lại dân trong ấp ai còn ai mất, tính ra thì đã nhận diện đủ, chỉ trừ hai mẹ con Huệ, bà tư Hạnh lạnh cóng, xanh xao như tàu lá nằm thoi thóp, quấn trong cái mền cũ, không nghe được người ta nói gì. Sau đó, tại nghĩa địa xã, ngoài những nấm mộ có người, dân ấp Bờ Vàm cũng đào sơ hai cái huyệt trống, một lớn một nhỏ, dựng bia đề tên Huệ, Hảo, hai ba ngày sau, người đi câu bên Long Chữ tìm được xác Huệ nằm kẹt ở một xẻo đầu con rạch cùn khô cạn nước, dân ấp Bờ Vàm nhờ chiếc xe lam quen trên chợ xã, đem Huệ về, chôn dưới cái mộ mà họ đã để trống không chờ, ông trưởng ấp cùng bà con quen phụ nhau cất lại cho bà tư Hạnh căn nhà tranh nhỏ trên miếng đất cũ, bà tư khóc cả mấy ngày, nhưng rồi cũng nguôi ngoai, bà lặng lẽ ra vào, cái bàn thờ người ta đóng giùm bằng cây tạp, cũng có cái ly bể cắm nhang nhưng hình hai mẹ con là hai tấm giấy học trò, được một cậu học trường trung học tỉnh, con nhà ai đó ở ấp trên, về nghỉ hè vẽ giùm, vì trong nhà bà tư có tiền đâu mà chụp hình, tuổi già theo ngày tháng đi qua, rồi một mình bà lầm lũi, tìm quên qua việc trồng bông Vạn Thọ bán mỗi năm khi tết đến.

    Cũng lúc giữa cơn bảo, mưa cuồng gió nổi, chiếc ghe tam bản của một cặp vợ chồng còn trẻ, chở mướn dừa khô từ Bến Cầu ra, trên đường về Cai Lậy, vừa ngang qua cũng bị sóng đánh trôi, gió cuốn theo giòng nước lũ, ghe lắc lư muốn chìm nhưng còn may, bị luồng nước xoáy ngang đẩy chiếc ghe kẹt vào giữa khúc rạch cùn đầy rể dừa nước dưới tàng ngọn đám cây cao, không ra không vô, cứ ở đó chòng chành, nhấp nhô xuống lên theo mặt nước mênh mông. Tối tăm mặt mũi, hai vợ chồng hì hục tát nước ra khỏi ghe, chưa kịp định thần, quay ra, chị vợ hớt hơ hớt hãi, gọi chồng, trố mắt chết trân nhìn, trên mảng lục bình lớn cở hơn nửa chiều dài chiếc ghe, rậm đặc đầy bông tím, cao khoảng tới nửa người, trôi tấp đụng vào ghe, có thằng bé chừng hai ba tuổi, nằm bất động, co quắp trên cái liếp tranh sũng nước, chị vụt bật đứng dậy, vội vã bước qua, kéo thằng nhỏ qua, lẹ ẳm nó lên, trở lại ghe đem vào trong khoang, mặt thằng bé trắng bệch, anh chồng chun vào, quơ cái mền cái áo treo lủng lẳng, chờ chị lấy hộp dầu cù là hiệu con cọp, xoa ngực, xoa bụng, chỗ nào không cần biết, anh quấn trùm nó, để nó nằm nghiêng người một bên, chị lấy tay vỗ nhè nhẹ vào lưng, hai vợ chồng nhìn nhau rồi nhìn ra biển nước mênh mông, lắc đầu ngơ ngẫn.

    Mưa ngưng rồi nhỏ dần, gió thôi thổi mạnh, nước không còn cuồn cuồn chảy xiết như trước, thằng bé tỉnh dậy cũng khá lâu, nó bập bẹ “má má”, chị lấy mớ cơm nguội trong nồi đất, nhay nhuyển từng miếng nhỏ, đói quá, nó ăn hết miếng này miếng kia, chị không kịp đút, nhìn nó ăn, chị thở dài. Anh chồng trèo lên mấy tàng cây cao, gở chỗ mắc kẹt đầu ghe ra, lấy sào chống ghe xoay  đầu ra sông cái, lần xô mảng lục bình xa ra, chạy lại sau bẻ bánh lái, ghe theo chiều nước chầm chậm xuôi dòng, ra khỏi đó cũng khá xa, anh chồng cho nổ máy chạy. Ghe chạy cũng khá lâu, sông khúc dưới này đứng im, xế chiều, trời miệt Thạnh Đức còn chút nắng, hai vợ chồng quyết định tấp vào bờ, neo ghe ngay cái cầu cây, trên là cái chùa Bến Đình cũ kỹ, mái ngói rêu phong, nằm lẻ loi, xa khu chợ xã. Tội nghiệp thằng nhỏ, hai vợ chồng, cũng kiếp nghèo, chở mướn, không nhà, sống trên ghe từ ngày lấy nhau, khi thì Hậu Giang, Kiến Phong Cao Lãnh, khi thì Bến Đáy Trà Vinh, Bến Tranh Cai Lậy, cuộc sống cũng bấp bênh, biết làm sao mà lo cho thằng nhỏ, cho nên hai vợ chồng quyết định, đem nó trao lại cho chùa, nhờ ở đây người ta liệu có cách giúp tốt hơn.

    Ông sư già, cùng bà bảy Diện, người từ giữ chùa cũng khá lớn tuổi, nhà trên chợ xã, ngồi nghe chuyện xong, ai nấy cũng sụt sùi nhìn thằng nhỏ, tội nghiệp nó ngó qua ngó lại, hết người này tới người kia, bà từ bỏ lên chánh điện, thấp nhang rồi trở lại chờ ông sư dặn gì đó. Hai vợ chồng từ giã, ông sư và bà từ ẳm thằng nhỏ theo tiễn tới dưới cầu, chiếc ghe tam bản tách bờ ra giữa dòng, chị vợ nhìn lên chùa, mắt đỏ hoe, ghe chạy một khoảng xa, tiếng chuông chùa lễ chiều vẫn còn ngân dài văng vẳng. Đêm đó, bà từ đem thằng nhỏ về nhà mình, tắm rửa, cho ăn cho uống xong, thằng nhỏ giờ miệng nói thêm hai tiếng “ngoại ngoại”, vỗ nó ngủ, dưới ánh đèn leo lét đêm bà gục gặc đầu “con ơi thôi con ở với bà luôn”.

    *

    Trời quá giữa trưa lâu rồi, chiếc tàu lớn chở khách từ Bến Cầu qua Cẫm Giang vẫn chưa qua tới, trời có nắng nhưng gió mát, đi tới đi lui chờ người quen từ bên đó qua cũng hơi sốt ruột, và cũng cảm thấy mỏi, ông sư già bước vào cái quán ngay trên đầu dốc, đường xuống bờ sông, ngồi nghỉ chân, bên cạnh, cùng cái bàn, một người đàn ông trạc trên dưới năm mươi đứng lên, chấp tay xá chào, ông sư già mĩm cười, hỏi qua hỏi lại vài câu, ông là người ở Long Giang, cũng đang chờ tàu về Bến Cầu, nghe Long Giang, ông sư già bất chợt nhớ chuyện lần bão lụt năm đó, năm mà hai vợ chồng có chiếc ghe tam bản chở dừa mướn, ẳm thằng bé ba tuổi lên chùa, giờ tính ra nó chắc cũng hơn sáu tuổi, ông kể cho người đàn ông nghe chuyện, vừa hết thì tàu lớn Bến Cầu qua tới, cả hai cùng đi xuống cầu, ông sư già đón người quen, người đàn ông trước khi xuống tàu ngược về Long Giang, quay hỏi lại lần nữa “thưa thầy, hồi nãy thầy nói thằng bé tên gì hả thầy?”.

    *

    Chợ xã trưa ba mươi, người trong làng cũng mua mua bán bán như tết mọi năm, bà tư Hạnh kéo cái khăn quấn đầu xuống, lau chút mồ hôi rịn trên trán, nhìn mấy chậu bông Vạn Thọ còn lại, bà gật đầu cười thầm “vậy bán cũng được gần hết rồi”, rồi sửa lại thế ngồi bệt trên tấm ni –lông, đếm số tiền vừa có được, chăm chú ngó qua phía xa bên kia, gần cửa nhà lồng chợ, chỗ bán nhang đèn của anh ba Tựu, con nít người lớn chen lấn chung quanh đông nghẹt, bà cứ như vậy khá lâu tới chừng quay lại, phía sau lưng, chú năm Thân, trưởng ấp, bà bảy Diện, bà từ giữ chùa Bến Đình và thằng Hảo trong bộ quần áo thơm mùi vải mới, với cái túi xách vải lớn, nằng nặng đứng chờ nhưng không ai nói gì từ nãy giờ. Thấy thằng nhỏ, bà tư bỗng dưng bật khóc, thằng Hảo cháu bà, nếu còn sống chắc cũng cở này, bà bảy Diện chắc hiểu nổi lòng người nên bật khóc theo, bà bảy kéo tay thằng Hảo ngồi xuống sát bên cạnh bà ngoại nó, cứ khóc mà không nói được lời nào, chú năm Thân, mắt cay xé, rưng rưng ngồi bệt trước mặt ba người, người đi chợ lại qua, thấy ông trưởng ấp tiếng hỏi tiếng chào rồi thôi, chú năm Thân chậm rãi kể lại, chuyện từ hôm gặp người đàn ông trên ấp trên, người đã gặp ông sư già ở bến tàu Cẫm Giang đến lần chú âm thầm đi Thạnh Đức gặp ông sư, bà bảy Diện và thằng nhỏ Hảo.

    Bà tư Hạnh, nâng niu đôi bàn tay thằng nhỏ, nghe mà tan nát cỏi lòng, thằng Hảo chắc đã hiểu được chuyện, nó quay qua ôm chầm lấy bà, gọi “ngoại ơi ngoại ơi”, rồi khóc theo. Chợ thưa dần, bà bảy Diện bùi ngùi chào từ giã, bà tư Hạnh chấp tay xá lạy mấy cái “cám ơn bà cám ơn bà”, chú năm Thân đứng chờ, đưa bà bảy ra bờ sông, quá giang chiếc ghe lớn chở lu khạp xuống Hậu Nghĩa về Thạnh Đức, bà ôm thằng Hảo, thật lâu mà không nói được tiếng nào, bà và chú năm Thân bỏ đi một khoảng xa, thằng Hảo ngó theo, khóc gọi “ngoại ơi ngoại ơi”, bà bảy Diện nghe, buồn lắm, nát lòng nhưng không lòng nào nhìn lại, cứ đi mà rấm rứt. Chợ tan, chậu bông Vạn Thọ còn bà tư đưa cho anh ba Tựu làm quà, hai bà cháu nắm tay nhau đi bộ theo đường lộ đất về, trời lưa thưa vài ba vạt nắng muộn, có tiếng trống tập múa lân trên đình sớm hơn mấy bữa trước.

    *

    Bà tư mồi miếng lửa trong cái lò làm bằng mấy cục gạch bể, đốt ba cây nhang, đưa tay run run rờ qua rờ lại tấm hình Huệ, lâm râm khấn gì đó, gở tờ giấy học trò hình thằng Hảo xuống, nhấc tấm hình Huệ nhích ra giữa bàn thờ rồi bước ra trước sân, ngoài đó thằng Hảo đang ngắm nghía gốc mai già đầy bông vàng hực, nó biết là bông mai vì đã thường quanh quẩn theo bà bảy Diện cắt tỉa lá cành cụm mai lớn dưới cổng chùa Bến Đình những ngày trước tết, nó quay lại phía gốc mai, tay thì chỉ miệng thì nói lớn “mai nở rồi ngoại ơi”, bà tư cười thật ra cười, cái cười mà từ hôm mưa bảo đó bà chưa hề có, bà kéo thằng Hảo lại, hai bà cháu ngồi xuống gốc cây khô để sát cái lu hứng nước mưa, xoa đầu nó “ừ năm nay mai nhà mình nở rồi con” rưng rưng muốn khóc.

 

Thuyên Huy