Tuesday, August 22, 2017

Đêm Trên Thung Lũng - Nguyễn Mộng Giác




Đêm trên thung lŨNG
 

 
 
Xin cảm tạ Mai Phương và Trần Viễn Phương về những kinh nghiệm sống ghi trên báo Đời.
Xin cảm tạ những người bạn đã từng tham dự vào trận Hạ Lào, và đã cung cấp cho tôi những chi tiết quí giá của cuộc giao tranh.

LỜI KHAI CỦA BINH NHẤT CỦA.

Tôi tên là Nguyễn Của, binh nhất, số quân 69/506.632. Lý lịch chi tiết của tôi, quí vị dễ dàng tra cứu trong quân bạ. Tôi xin lấy danh dự một người lính chiến, hằng ngày chạm mặt với cái chết, xin lấy tình yêu của Trần thị Lan người tôi nguyện thương yêu suốt đời, và tính mệnh đứa con trai hai tuổi (thằng bé Nguyễn Trần Cải) để thề rằng tôi viết ra đây toàn sự thật :

… Tiểu đoàn chúng tôi hôm ấy được bỏ xuống một ngọn đồi trọc. Phía đông dốc thoai thoải còn ba phía kia dốc khá đứng, xuôi tuột xuống một thung lũng xanh già. Có lẽ mưa gió liên miên tháng năm đã xoi mòn đỉnh núi cao, mang đất cát mầu mỡ về miền hạ lưu, nên sườn đồi chỉ toàn một loại cây cằn thấp bé. Đã quen với công việc, chúng tôi lo hệ thống phòng thủ. Một toán lo đào những giao thông hào chi chít ngang dọc ngoằn ngoèo. Một toán lo di tản đạn dược để phòng bị pháo kích. Bấy giờ khoảng một giờ trưa. Trung đội tôi yểm trợ cho một trung đội khác đi chặt cây lớn làm xà ngang cho mái hầm. Phải chọn loại cây lớn nhất có thể tìm được, vì những cây đà nầy phải chịu đựng hàng thước đất dày. Có như vậy mới chịu nổi xuyên pháo 122 ly của cộng quân. Xa đỉnh đồi độ năm trăm thước, chúng tôi đã gặp dấu vết của địch. Đầu tiên là những ngọn cây đọt cỏ ngọt dấu dao, nhựa thơm còn ướt. Chen vào những đọt héo, vài đọt lá xanh. Dấu chân người dậm nát một khoảng đất lầy mầu cỏ úa, thường thường nấp sau một khóm lá tươi. Xa hơn chút nữa, một khoảng đường mới đắp còn in dấu vết xe vận tải. Bánh xe lún khá sâu trên nền đất cứng, chứng tỏ trọng tải nhiều. Một người bạn của tôi hớt hải chạy từ phía trước lại :

– Có dấu xe gì lạ lắm. Không phải bánh cao su. Lại đây xem.

Chúng tôi cẩn thận tiến lên, tay trỏ đặt sẵn trên lảy cò. Người bạn đi đầu len lỏi khéo léo giữa các nhánh cây sà thấp. Đến nơi, nhìn vết in trên đất, tôi biết chắc là vết tăng.

Tôi bảo :

– Không biết bộ chỉ huy biết chưa ? Địch dùng xe tăng ở chiến trường nầy.

Tin ấy làm cho các sĩ quan trầm ngâm. Những ngày sau việc bố phòng càng cẩn thận hơn. Giao thông hào đào thêm xuống đến triền đồi. Bãi mìn và bom lửa dày đặt. Số người xuất trại ít hơn, chỉ đi khi thật cần thiết. Tiểu đoàn lo gấp rút múc nước dự trử, chấm các tọa độ khả nghi trong trường hợp địch tấn công. Pháo của ta bắt đầu nổ quanh đồi khi dấu hiệu địch được các toán viễn thám phát giác không xa đơn vị mấy. Đôi khi sau một loạt pháo, có nhiều tiếng nổ phụ. Đôi khi là một cột khói đen đùn đùn vươn lên cao, nhập vào sắc mây ám.

Mức độ pháo kích và oanh tạc càng tăng khi dấu hiệu địch càng hiện gần. Không khí trong trại căng thẳng, khẩn trương. Tiếng bom B 52 ầm ầm liên hồi, vang vọng qua mấy chặng thung lũng như một trận giông chưa bao giờ có từ thủa khai thiên. Cobra khạc đạn giống như tiếng heo bị chọc tiết. Phản lực F4 gầm gừ, mỗi lần rú xé mây là một lần chớp lửa để dội tiếng ầm về đỉnh đồi, tung bay cát bụi lên những người lính đăm chiêu.

Tình trạng trên kéo dài suốt tuần lễ. Đến đầu tuần thứ nhì thì pháo của ta nổ ngay dưới chân đồi. Phản lực như cắm sâu xuống lòng hào, và chúng tôi vừa thấy chớp sáng đã nghe tiếng nổ xé.

Hôm ấy suốt ngày tạm yên, nghĩa là còn có thể đứng trong giao thông hào nhai gạo sấy và ruốc. Đến chín giờ tối, địch bắt đầu tấn công lên phía chúng tôi tử thủ. Bốn phương tám hướng đều có pháo địch rót về, nào 82 ly, nào sơn pháo 57 ly, đại liên 32 ly… Chúng tôi không có thì giờ ngóc đầu lên nổi. Nhưng qua khe mũ sắt và bờ hầm, ném nhìn xuống phía thung lũng đen, ánh lửa đom đóm chớp lòe. Tiếng địch xung phong từ dưới vọng lên, từng đợt tràn qua bãi mìn và lựu đạn bẩy. Mạn đông thoai thoải nên áp lực địch mạnh nhất. Chúng tôi ghìm cây súng bắn liên miên không cần nhắm ra phía trước. Một vài người bị đạn, rên la phía sau lưng. Một số đã nằm yên trong poncho. Tiếng xung phong của địch càng gần. Lệnh trên cho hệ thống mìn nổ. Claymore hướng xuống phía dưới, bật cháy các bom lửa. Ánh bom soi rõ từng đám địch lố nhố chạy lên, mỗi tên đều cầm thủ pháo. Từng xác ngã gục dưới ánh lửa đêm thủ pháo nổ tại chỗ.

Cobra và phản lực dập tắt dần các đợt xung phong và pháo kích. Trực thăng võ trang bắn như mưa bão xuống sau lưng địch, ngay dưới chân đồi. Mỗi lần bom đạn lóe sáng là một lần chiếu hắt ánh sáng xanh lên mặt mọi người, tô đậm không biết bao nhiêu đụn khói cuồn cuộn. Mãi đến gần khuya, áp lực của địch mới nhẹ dần. Tiếng súng thưa thớt. Bấy giờ chúng tôi mới cảm thấy đói cồn cào, húp vội mấy lon trái cây hộp hay nhai cơm sấy. Tiếng thương binh rên la rõ hơn, ma quái nhọc nhằn trong đêm rừng. Tôi vẫn đứng trong phòng tuyến chăm chăm nhìn xuống khoảng đêm phía trước. Mấy người bạn đến đọc tên những đứa đã vĩnh viễn nằm xuống, trong đó có trung sĩ Hạ, thượng sĩ Chất. Trung đội tôi có bảy người bị thương khá nặng, trừ năm người chết, số còn lại tiếp tục đứng chỗ cũ. Không ai nói với ai lời nào, gục đầu vào tường giao thông hào bập điếu thuốc. Bên ngoài trời rả rích mưa. Tôi nhớ nhà da diết. Em lo lấy quần áo vào kịp không hở Lan ? Có nhớ đắp mền lên ngực con không đấy ? Chúng tôi mệt quá không ngủ được, ở trong trạng thái lơ lửng giữa mê và tỉnh. Hạ sĩ Bền đập vai tôi :

– Tao nghe nói họ bỏ mình lên đây để nhử Việt cộng. Như cột dê bắt cọp đó.

Tôi ậm ừ, giả vờ ngủ gật. Bền bỏ lại chỗ cũ.

Tình trạng chiên đấu đẫm máu giống vậy kéo dằng dai hai ngày hai đêm. Chúng tôi vừa chợp mắt là đạn pháo kích lại dồn dập đánh thức dậy. Khi nào có trực thăng hay phản lực, B52, chúng tôi mới có thể tạm dừng bắn nghỉ ngơi chút ít để hút điếu thuốc thoa chút dầu nhai nắm cơm.

Sang tuần thứ ba có lệnh Đại Bàng cho rút quân sang cứ điểm bên cạnh. Sĩ quan đại đội trưởng họp trên bộ chỉ huy tiểu đoàn. Binh sĩ trông ngóng tin tức, lo âu về phương tiện di chuyển. Trung úy Hân về cho biết đại đội phải chận hậu cho các đại đội khác lui binh.

Đại đội một xuống đồi trước, thận trọng mở đường. Hai đại đội còn lại chia nhau khiêng poncho xác, băng ca thương binh nặng, cõng hoặc dìu các thương binh nhẹ. Ba lô quần áo và đồ đạc cồng kềnh bị quăng cả lại. Hầu hết anh em không nói gì, nhưng nhìn theo ngậm ngùi, băn khoăn. Cứ điểm mới cách đồi chỉ 3 cây số đường chim bay. Khi ba đại đội trước rút binh an toàn , phản lực và trực thăng võ trang sẽ yểm trợ, cho chúng tôi rút tiếp.

Tình trạng đại đội chúng tôi về sau quí vị đã xem báo và nghe đài phát thanh tường thuật nhiều lần. Đại khái là áp lực địch mạnh hơn, thời tiết lại xấu khiến không quân khó yểm trợ hữu hiệu. Do đó, chúng tôi không thể rút kịp theo tiểu đoàn như dự tính. Chúng tôi bị vây chặt, trong khi vòng phòng thủ không kiên cố như lúc đầu.

Đạn đủ loại của địch tiếp tục nổ trên đầu chúng tôi. Để ngăn chặn các đợt tấn công của địch, chúng tôi chỉ còn một bãi mìn mỏng và vũ khí cá nhân, đại liên. May mắn trong hai ngày kế tiếp B52 hoạt động mạnh và Cobra xạ kích hữu hiệu. Tuy vậy không lực chỉ có thể ngăn phủ đầu các toan tính xung phong tràn ngập đỉnh đồi, không thể làm tắt các họng pháo. Địch theo dõi chúng tôi bằng viễn kính. Bất cứ lúc nào chúng tôi nhô người lên khỏi giao thông hào là ít nhất có hai loạt đạn nhắm tới. Chúng tôi chỉ còn hy vọng ở trực thăng. Thương binh được băng bó sơ sài, nằm rên la lăn lộn trên đất vì băng ca đã đem đi hết. bạn tôi bị tươm cả đùi, cắn răng chịu đựng trong khi nước mắt sống chảy ròng ròng. Một vài người bạn bị lòi ruột băng không kỹ, ruột phồng căng khi thở. Hầu hết chúng tôi đều thất thần vì nhọc và mất ngủ, đó là chưa kể sự căng thẳng do tiếng la hét của các bạn bị thương.

Trung úy Hân lâu lâu dùng vô tuyến xin trực thăng tải thương. Sáng thứ ba hai chiếc bay đến sà vội vã, vừa đáp xuống một chiếc bị bắn cháy, một chiếc bốc đứng vụt lên. Lửa tỏa trên bãi đáp, hai phi công chạy nhanh vào giao thông hào, một xạ thủ bị kẹt trong phi cơ, một xạ thủ bị thương nằm trân giữa bãi. Chúng tôi biết hai hoa tiêu là Đại úy Hường và Trung úy Luyến. Đại úy hăng hái nói chuyện với trung úy Hân, rồi giật ống liên hợp gọi tới tấp. Cuối cùng ông ta bỏ mạnh ống xuống, ngồi thừ nhìn mông lung.

Chiều thứ ba hai chiếc Cobra và ba chiếc F4 đến oanh kích tàn nhẫn vùng quanh đồi. Một trực thăng tải thương nhân cơ hội từ trên cao chúi xuống đáp an toàn trên bãi. Có lẽ trực thăng đã báo trước cho trung úy Hân nên từ giao thông hào bên phải hai lính dù khiêng một thương binh chạy nhanh ra. Hai lính khác vừa khiêng một thương binh nữa ló ra khỏi hầm thì hàng tràng đạn pháo kích rơi dày trên bãi. Khói mù tỏa che lấp mấy người lính. Trực thăng vụt lên cao. Chúng tôi lo cho số phận họ may không ai việc gì chỉ trầy trụa sơ sài vì lăn trên sỏi cát. Trực thăng bay luôn không trở lại.

Tối thứ ba, chúng tôi nghe thấy lẫn trong tiếng súng lẻ tẻ có một thứ âm thanh khác lạ. Không hẳn là tiếng máy phi cơ. Cũng không hẳn là tiếng xe Molotova vận tải. Không ai nhận ra tiếng gì. Sáng hôm sau vừa tinh sương, trung úy Hân tập họp cho toàn thể anh em biết hai điều : một là có thể hôm nay địch tấn công đồi, hai là Đại Bàng cho biết không lực sẽ can thiệp mạnh để trực thăng có thể đáp xuống di chuyển hết thương binh, hoặc nếu được, toàn thể đại đội về.

Mọi người có vẻ mừng, hăng hái đi lo chuẩn bị chiến đấu. Đạn chất cao quanh hai cây đại liên. Trong các hào sâu bên trong, chỉ còn vài tiếng rên nhỏ, những thương binh nặng đều mê man không la hét nữa.

Cả hai điều trung úy báo trước đều đúng. Khoảng tám giờ, xe tăng địch rầm rập xuất hiện, quay súng lên chúng tôi. Rồi cứ lừ lừ tiến lên. Chúng tôi dùng súng chống chiến xa thụt xuống, nhiều quả trúng đích, nhưng xe tăng vẫn tiến. Địch tự thị núp sau xe xông lên đồi. Vừa lúc đó phản lực cơ, và trực thăng ào ạt bay đến, lồng lộn dữ dội. Tôi cảm phục tài ba các phi công F4. Napalm đốt cháy số lớn xe tăng địch và thả bom chận đứng các đợt sóng người núp sau xe.

Địch có lẽ đã núng, rút bớt vào thung lũng xanh đen. Áp lực pháo cũng dịu bớt. Tin vô tuyến báo cho biết sẽ có một trực thăng đáp xuống đồi. Đôi mắt mọi người rạng rỡ. Trung úy Hân ra lệnh cho toán tải thương sẵn sàng, bắt mọi người xuống hết dưới công sự để ngừa pháo kích lúc trực thăng đến. Phản lực vẫn nhào lộn trên khoảng rừng ngã đen thẫm, bom nổ chát chúa và khói vươn lên trùng trùng lớp lớp.

Chiếc phi cơ tải thương hạ thẳng xuống, máy quạt sàn sạt bốc bụi, một phi công chạy nhanh vào hào chúng tôi gọi to :

– Hường đâu ? Tao đến vớt mầy về. Còn chỗ cho vài thương binh.

Trung úy Hân chạy ra, kéo phi công vào hào trong. Hai người có vẻ tranh luận gay go, tay chân múa may. Một lúc sau trung úy ra lệnh bốn đứa chúng tôi khiêng thương binh ra bãi đáp, theo thứ tự ưu tiên xếp sẵn. Viên phi công mặt mày có vẻ bất mãn, đứng nói chuyện với phi hành đoàn trực thăng rơi hôm trước. Khi toán tải thương chúng tôi chuyển được đến người thứ chín thì pháo địch lại rơi dày trên bãi. Chúng tôi lăn mình núp dưới thân trực thăng, quên rằng đây là mục tiêu ngon lành của địch. Lúc ấy tôi không chú ý sự việc chung quanh diễn tiến ra sao. Tôi không hiểu viên phi công chạy ra lúc nào, và ba người bạn làm gì. Riêng tôi, đột nhiên tôi da diết nhớ vợ nhớ con. Tôi thèm được xa hẳn cái chốn hiểm nguy này, thèm được ôm Lan thật chặt, thèm nựng đôi má thơm của bé Cải. Khi trực thăng bốc lên tôi ôm đại cái càng. Hai người kia cũng làm vậy, một người khác chới với giữa bãi khói. Trực thăng lên vút khiến lưng tôi bị kéo mạnh về phía trước. Tôi gắng lấy hết sức ôm chặt. Vừa qua khỏi địa phận đồi, trực thăng bỗng nhiên nghiêng trái, quặt phải, nghếch lên, chúc xuống. Mỗi lần như vậy, sức giằng rứt tôi ra khỏi thân phi cơ. Gió lạnh cóng, hai tay và chân tê cứng. Tôi hãi hùng nghĩ đến cảnh rơi từ đám mây nầy…

Trực thăng quật mạnh sang trái, một người rú lên rồi rơi mất. Tôi chỉ nghe tiếng rú một thoáng, rồi gió tạt đi, đứt đoạn. Trực thăng rướn mạnh lên cao, một tiếng rú khác.

Lúc về đến bãi đáp hậu cứ, tôi không tin mình còn sống. Tôi đã gục đầu, ngồi ngay bên trực thăng và khóc nức nở…

2. LỜI KHAI CỦA TRUNG ÚY THỤC

Vâng, nếu quí vị giở lại quân bạ của tôi, trung úy phi công Lê Trịnh Thục quí vị sẽ thấy Hường là người bạn thân nhất của tôi. Trong khoảng hồ sơ đòi mỗi tân binh ghi rõ ba người bạn biết mình nhiều nhất, tôi đã ghi tên Nguyễn Hường lên hàng đầu. Không cần suy nghĩ. Hai người kia chỉ cốt lấp hai khoảng trống.

Chúng tôi cùng học chung với nhau từ thủa còn mài đũng quần trên băng trường trung học Chu văn An. Quê tôi ở Qui Nhơn, còn Hường người Bắc. Tôi chuyển từ trường Võ Tánh vào, dân ngụ. Còn Hường học Chu văn An từ mấy năm trước. Tính Hường lém lỉnh, hoạt bát, hơi xạo một chút, giống y mẫu người Bắc theo thành kiến dân Trung chúng tôi thường phác họa. Hường lại là dân cựu, nên biết hết các ngõ ngách tập tục của trường. Riêng tôi, đây là lần đầu bước chân vào thủ đô hoa lệ, hòn ngọc viễn đông. Lúc mới xách cái va li kẽm bước xuống nhà ga Sài Gòn, tôi bắt chóng mặt vì cảnh xe cộ ngược xuôi tấp nập và tiếng ồn ào. Tôi cảm thấy bơ vơ hơn, không biết phải ngủ đâu đêm nay. Ba tôi cho địa chỉ chú tám Bình, ở miệt Phú Nhuận. Tôi kêu taxi, họ từ chối không đi xa. Chịu đựng những lời hỗn láo thô tục của bác cyclo máy mãi cả giờ đồng hồ, tôi mới tìm ra địa chỉ nằm sâu trong hẽm ngoắt ngoéo, để người chủ nhà mở cửa cho biết chú Tám đã dọn đi nơi khác từ lâu. Chắc bấy giờ hình dáng tôi thảm não lắm, nên bác cyclo đổi thái độ, nổi từ tâm, rủ tôi về ở tạm đằng nhà ở bến Vân Đồn.

Bác tên Chín Đen, nhà cất trên vũng lầy ven sông dưới hãng thuốc lá. Khi nước rút, rác rưới bùn lầy tỏa mùi hôi thối, khiến tôi muốn ngạt thở. Lúc nước lên, không khí mát mẻ trong sạch hơn. Tôi điều đình với bác Chín gái, xin kê cái ghế bố ngủ ở chái ngoài mé sông, móc ngược cái xe đạp lên mái lá, kê sách lên giường ngồi bệt trên sàn gỗ để học, bác ăn gì tui ăn nấy. Giá tiền mỗi tháng là bảy trăm đồng.

Bác gái bằng lòng. Ngay hôm đầu, bác Chín hỏi :

– Biết nhậu không cháu ?

Tôi lắc đầu. Bác chê :

– Dở ẹt. Thời buổi nầy, trai vô tửu như kỳ vô phong.

Rồi kê tai tôi dặn nhỏ :

– Cháu ở nhà coi giùm, con mẽ có đi đánh bạc về mét bác.

Đến Chu văn An tôi cũng gặp những may mắn tương tự. Ngày đầu đến trường, tôi ngơ ngác không hiểu văn phòng nhận đơn chuyển trường ở đâu. Thấy một học sinh có vẻ khả ái tươi cười, đứng hút thuốc, nói chuyện huyên thiên với một đám ba bốn người bạn tôi rụt rè đến hỏi :

– Thưa anh, làm ơn chỉ giùm văn phòng nhận đơn ở chỗ nào ?

Cả bọn ngưng nói chuyện, chăm chăm nhìn tôi. Có lẽ bấy giờ tôi có vẻ quê mùa lắm. Người học sinh tôi vừa hỏi đứng ngay ngắn, nghiêm nghị vòng tay lễ phép :

– Thưa em, văn phòng ở lầu hai, ngay phòng đầu tiên bên trái đấy ạ.

Cả bọn ma cũ cười khả ố. Thấy vẻ bất mãn của tôi, Hường đâm ra hối, ân cần dẫn tôi lên văn phòng, đem giấy tờ vào đưa thẳng cho thầy giám học quen, và trong vòng mười lăm phút trở ra cho tôi biết hai đứa sẽ học đệ nhất B sáu, thời khóa biểu thế nầy thế nầy…

Chúng tôi ngồi ở cuối lớp, thuộc xóm nhà lá. Lý do : Hường hay nghịch sợ ngồi đầu bàn giáo sư dễ để ý, còn tôi mang đầy mặc cảm dân ngụ. Có lẽ còn một lý do khác nữa, lý do kỹ thuật : tôi dốt toán nhưng khá sinh ngữ triết lý, còn Hường dốt sinh ngữ lười nhai triết nhưng lại cừ khôi về toán. Đó là chưa kể thứ tình bạn bè càng ngày càng gắn chặt cuộc đời hai đứa. Cuối năm ấy, cả hai đều thi hỏng khóa đầu, tôi vì làm không ra bài toán và Hường vì đã nguệch ngoạc những dòng triết lý bí hiểm đến độ giám khảo cho rằng thí sinh cố ý hỗn xược phỉ báng thứ khoa học của tất cả mọi loại khoa học. Tôi qua nhà Hường học suốt mấy tháng hè, khóa hai cả hai đứa đều đậu bình thứ. Đậu xong, các trường cao đẳng chuyên nghiệp đều đã thi tuyển, nên chúng tôi không biết làm gì hơn là vác hồ sơ ghi danh MPC. Bất cứ ở đâu, Hường luôn luôn đóng vai trò anh cả : chen chúc cả buổi để xin đơn ở khoa học, lấn đến đứt hết nút áo mồ hôi mồ kê để nộp lệ phí trên viện, đi sớm thật sớm để giành chỗ ngồi trong giảng đường. Cả hai chúng tôi đều cảm thấy bơ vơ, như bị đánh lừa, khi bước chân vào Đại học. Tôi vốn không khá toán lắm, lên Đại học lại càng vất vả. Hường dốt sinh ngữ, đọc mãi một tờ “cua” tiếng Pháp chỉ hiểu lờ mờ, huống hồ là nghe một giảng sư người Việt giảng tiếng Pháp cho sinh viên Việt. Cuối năm, chúng tôi không cần đi coi bảng cũng biết kết quả.

Năm sau tôi chạy qua Dự bị Văn khoa còn Hường sợ sinh ngữ trôi giạt về trường Luật. Tuy vậy chúng tôi vẫn thường gặp nhau, nhiều hôm bỏ học la cà trên phố, lang thang suốt ngày không biết làm gì, hút liên miên hết điếu thuốc này sang điếu khác. Đó là thời kỳ Hường đổi tính, hết cả hăm hở và hoạt bát. Hường đâm mê thi ca, triết lý, ông ổng ngâm mãi mấy câu của Nguyễn Trãi :

…Đã buồn vì ngọn mưa rào.
Lại đau vì nỗi ào ào gió đông.
Hoa trôi nước chảy xuôi dòng.
Chiếc thuyền hờ hững trên sông một mình.

Cuối niên khóa, Hường lại hỏng Luật I, còn tôi tuy đậu dự bị nhưng quá thất vọng về mọi thứ văn chương trường ốc. Do đó, chúng tôi mới rủ nhau vào không quân.

Mất đi một thiên thần hộ mệnh, tôi vất vả nhiều trong binh nghiệp, chuyên ở những chỗ xấu và bị cấp trên trù. Hường lên đại úy, tôi vẫn trung úy. Hường khá bằng lòng với đời sống nhà binh. Hường viết thư cho tôi :

– Mày biết không. Tao vừa khám phá ra một thứ triết lý. Trên đời, chỉ có hai loại người thực sự hạnh phúc : tu sĩ và quân nhân. Cứ cuối đầu tuân theo thánh ý và lệnh thượng cấp, không thắc mắc băn khoăn gì hết. Cuộc sống trở nên đơn giản trong sáng. Mày nên noi gương tao.

Có lẽ, Hường đã tìm ra chân lý thật. Trong các bức thư gửi tôi, giọng Hường yêu đời. Hường tha thiết yêu một thiếu nữ miền Nam, và dành cả một bức thư dài tám trang để tả cho tôi thấy hết vẻ đẹp đôi môi giai nhân khi nói : Ngộ quá héng.

Tôi mong được như Hường. Nhưng không thể!

Cuộc chiến ngoắc ngoéo xếp đặt cho tôi gặp lại Hường trong cuộc hành quân nầy. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cảm động quá không biết nên nói gì. Hường yêu đời nên trẻ hẳn, từ cử chỉ lời nói y phục đều ngay ngắn thứ tự, cái thứ tự của người có vợ. Tôi bị chê già trước tuổi. Chúng tôi ở chung với nhau một phòng trong căn cứ, và cố xếp đặt để bay chung trong một phi đội.

Khung cảnh ở đây làm chúng tôi khó chịu. Thiếu hẳn màu xanh, mà dư nỗi trống trải đìu hiu. Sự rộn rịp chát chúa. Bãi đáp luôn luôn ngùn ngụt cát bụi, hơi không khí nóng bỏng, khét lẹt. Trực thăng lểu nghểu trên khắp bãi đáp. Phi công Mỹ có vẻ uể oải, chưa có kinh nghiệm nhiều trên chiến trường nầy. Cả chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi đã quen với những cánh đồng bát ngát chằng chịt mương rạch, từ trên cao có thể nhìn thấu được suốt hai ba tỉnh kế cận. Chúng tôi đã thuộc lòng từng con sông nước đục, từng nhánh lạch nhỏ cong queo như những cộng rêu héo trên thảm xanh non, từng cụm cây mọc là trên mặt nước thường là ổ ngụy trang của các khẩu 37 ly, từng khoảng cỏ cao lá lã quị xuống run rẩy mỗi lần đổ quân.

Ở chiến trường nầy, mọi sự hoàn toàn đổi khác. Núi lúc nào cũng muốn vươn lên ôm lấy hai càng, và vực sâu luôn luôn chờ đợi. Từ buồn lái nhìn xuống, một bên là những thung lũng xanh già mây giăng ngút ngàn chỉ hé lộ những đáy sâu thăm thẳm, quay nhìn bên kia sườn núi án ngữ ngay trước mặt, sừng sững vòi vọi, rõ ràng từng cành cây khóm lá. Trực thăng phải bay nghiêng nghiêng trườn lên cao cao mãi, và tầm mắt không thể nào trải dài trên một khoảng rộng bao la, đàng giới hạn giữa hai đỉnh núi.

Chúng tôi phải kiên nhẫn len lỏi theo các sườn núi quanh co, cố gắng cua qua quẹo lại lượn lờ ven khoảng mây để khỏi va vào đỉnh cao hay rơi xuống vực sâu. Lúc chiến trường chưa sôi động, tôi và Hường cứ đều đều chuyển quân và vũ khí như vậy từ hậu cứ đến các cứ điểm trấn thủ, từ bảy giờ sáng cho đến chiều tối.

Nhưng càng ngày hỏa lực địch càng mạnh, các phi vụ trở nên khó khăn. Chúng tôi vừa xuất hiện là đạn địch bắn lên như mưa : 37 ly, 50 ly, 23 ly. Bay cao trở thành nguy hiểm, nên chúng tôi áp dụng chiến thuật bay thật thấp ngay trên ngọn cây rừng, lướt sát theo các dốc núi. Thà để thân tàu lỗ chỗ dấu đạn AK còn hơn giơ bụng nhận đạn 37 ly. Với lối bay giỡn mặt với vũ trụ đó, nếu không lanh tay lẹ mắt như một nhà ảo thuật, chúng tôi đã tự đè bẹp thân xác vào vách đá núi. Vừa vụt qua một khóm kiến lửa nguy hiểm, chúng tôi chúi đầu vào một khoảng mây mù. Chưa kịp định kiến, sườn núi đen đã lù lù trước mặt…

Tuy thế, khó nhất là lúc đáp xuống. Pháo địch đã điều chỉnh sẵn tọa độ bãi đáp. Vừa hạ xuống, đạn địch chụp lên tơi bời.

Trung úy Hiển ở phòng bên cạnh tản thương, vừa đáp xuống, khiêng được một thương binh lên thì địch pháo kích dữ dội. Phải bay nhanh lên nhờ Gunship làm im súng địch rồi mới hạ trở lại. Chờ mãi không được, Hiển chỉ chở được một binh dù cụt chân về đây. Tôi dài dòng nói đến những khó khăn của không quân, để quí ông thấy chúng tôi cần những phi công kinh nghiệm biết chừng nào.

Bây giờ xin nói đến điểm các ông muốn hỏi.

Hôm ấy là thứ ba. Tôi và Hường có phận sự đến đồi 17 tải thương. Chúng tôi bàn định cách bay. Từ hậu cứ đến đó, phải bay sát trên ngọn cây để tránh các ổ phòng không đặt trên các đỉnh núi. Nhưng đến cứ điểm 17, làm thế nào xuống được an toàn và bay an toàn? Hường đề nghị đáp theo lối cũ. Chúng tôi đồng ý với nhau qua vô tuyến, rồi liên lạc với Cobra xin oanh kích thật gắt để tụi nó lo núp không pháo kích lúc hạ cánh lúc hạ cánh. Chúng tôi kéo cho trực thăng vút lên cao, rồi Hường cho nhào thẳng xuống trước. Pháo địch từ trước đến giờ im tiếng, tự nhiên nổ ran. Tôi thấy trực thăng của Hường có vẻ lắc lư chòng chành. Hường họi tôi :

– Tao bị rồi. gãy đuôi.

Trực thăng của Hường bốc cháy khi rơi trên bãi. Bóng Hường và Luyến chạy vụt bên dưới, tiến tới phía mấy mô đất đỏ. Lửa dưới trực thăng bỗng chớp sáng bùng lớn lên, khói đen bốc dần lên gần. Không còn cách nào nữa. Tôi gọi phi cơ trinh sát :

– Sao tụi nó bắn dữ quá vậy? Tôi xuống được không?

OV 10 bảo thời tiết xấu, Mỹ chỉ yểm trợ ít phi cơ võ trang, không đủ làm nghẹn hết mọi họng pháo. Hôm đó, tôi đành quay về. Vậy là Hường kẹt lại đồi 17.

Chiều hôm ấy về phòng, quân bưu có mang đến hai lá thư của vợ Hường. Tôi sợ căn phòng trống trải, bỏ ra phố. Tôi gọi rượu nốc hết hết ly này đến ly khác. Hình như tôi có đập lộn với mấy thằng Mỹ đòi độc quyền gái. Hình như tôi bị quân cảnh xúc đem về đồn. Tôi nói hình như vì sáng hôm sau thấy mình vẫn còn trong trại, soi gương chỉ thấy vài vết bầm trên mặt. Hai lá thư của vợ Hường làm tôi nôn nao. Tôi chạy ra bộ chỉ huy, tình nguyện trở lại đồi 17. Lời tôi yêu cầu phù hợp với kế hoạch tải thương tiếp vận ngày thứ tư, sẽ có hai chiếc đáp xuống đồi 17. Tôi một chiếc. Trung úy Lạng một chiếc. Đại úy Tín đi với OV 10 của Mỹ hướng dẫn Coibra và phản lực oanh kích. Hôm ấy thời tiết tốt, không lực Mỹ yểm trợ tối đa. Phản lực sẽ xới nát vùng thung lũng chung quanh, vãi đạn tàn nhẫn để xạ thủ địch không có thì giờ câu pháo vào bãi đáp. Trong lúc ấy, tôi và Lạng sẽ hạ xuống đem thương binh và Hường Luyến về. Lúc ra đi Trung tá dặn :

– Cậu rán đem tụi nó về, cử cậu đi vụ nầy là phải nhất. Đừng để cho chim kẹt dí dưới đất.

Gần đến 17, Lạng bị bắn rát, máy trục trặc phải lết rán đến đồi 19. Chỉ còn có tôi đến 17.

Như lần trước, tôi kéo trực thăng vút lên cao, rồi tắt hết tay ga cho phi cơ rơi như chiếc lá, đến gần sát mặt đất mới điều khiển cho phi cơ vào bãi đáp. F4 nhào lộn chung quanh. Thấy đáp được dễ dàng, lại không bị pháo kích, tôi ngạc nhiên. Tín vừa báo cho biết nên cẩn thận, địch vừa dùng xe tăng cảm tử xung phong lên đồi nửa giờ trước. Thực vậy, vì bận lo đáp tôi chỉ thấy những cột khói nghi ngút dưới thung lũng, quên suy luận xem có gì vừa xảy ra.

Mặc kệ, tôi để cho trực thăng sẵn sàng, nhảy xuống sân chạy vào giao thông hào. Tôi hớt hải gọi Hường. Tên chỉ huy dù chạy lại kéo vào hào trung ương. Vừa lúc ấy Hường và Luyến cũng đến. Hường mừng :

– Mày đến được thật tài. Tụi tao về chuyến này chứ ?

– Ừ, còn chỗ tải thương. Vợ mày mới gửi thư ra.

– Trời, sao không mang cho tao?

– Chiều về đọc. Rõ lẩm cẩm. Nhanh lên.

Bấy giờ viên trung úy dù mới nói, giọng lạnh như dao chém :

– Các ông ở lại đây. Phải dành ưu tiên cho thương binh.

Tôi cãi lại :

– Lệnh của không đoàn là cho các hoa tiêu về. Sau mới đến thương binh.

– Tôi chỉ huy ở đây. Chính tôi mới có quyền quyết định. Các ông mạnh khỏe. Phải nhường chỗ cho những người cần cấp cứu. Họ sắp chết nếu không được giải phẫu, tiếp huyết.

Hường và Luyến không nói. Tôi bảo :

– Chính vì cần tản thương gấp nên phải cho hoa tiêu về trước. Chúng tôi cần những hoa tiêu giỏi để tránh được hỏa lực địch._

Viên chỉ huy dằn giọng :

– Không có thời giờ cãi vã nữa. Địch vừa định xung phong lên đây. Các ông còn có thể cầm súng chiến đấu. Các ông không thể bỏ về. Anh em dù sẽ bảo là các ông trốn.

Bây giờ Hường mới nói :

– Thôi, chờ chuyến sau đi Thục. Trung úy cho toán tải thương làm việc nhanh nhanh lên. Mai mốt nhớ mang thư cho tao.

Tôi lớ ngớ không biết phải làm thế nào. Toán tải thương đã khiêng thương binh ra gần đủ. Tôi chạy ra sân không nhìn lại phía sau. Bấy giờ súng địch tự nhiên nổ ran. Có quả đạn rơi ngay phía trước buồng lái. Không chần chờ gì nữa, tôi leo lên cho ngay trực thăng bốc thẳng khỏi vòng nguy hiểm. Tôi không còn đủ bình tĩnh nhìn về phía giao thông hào, cũng không đủ bình tĩnh để ghi nhận sự kiện lạ : Tự nhiên F4 bỏ đi hết để địch có thể pháo kích bãi đáp trở lại.

Trong trường hợp nguy hiểm như bấy giờ, tất cả mọi phi công đều áp dụng một lối bay độc nhất : tránh theo một phi đạo nhất định. Tôi cho trực thăng vừa bay thẳng tới trước, vừa nghếch đầu chếch lên không, vừa quặt mạnh về phía trái. Cho nên trực thăng phải chòng chành.

Nhờ ơn trời, tôi đã mang được chín thương binh về hậu cứ bình yên. Xin lỗi, mười chứ không phải chín, vì khi đáp xuống, tôi mới biết có người đeo cứng dưới hai càng.

3. LỜI KHAI CỦA ĐẠI ÚY TÍN

Tôi hoàn toàn không biết gì về trung úy Thục, ngoài phi vụ yểm trợ tản thương hôm ấy. Cho nên tôi chỉ khai những việc xảy ra từ sáng thứ tư mà thôi.

Tôi được lệnh trình diện gấp tại phòng thuyết trình hành quân. Lúc tôi vào, hầu như tất cả những người cần thiết đều đủ mặt. Tôi ngồi bên cạnh trung úy Thục. Dáng người cao lớn, vạm vỡ, nước da nâu, tóc cắt kiểu bàn chải. Đôi mắt của trung úy làm tôi chú ý nhất. Sâu, sáng, buồn,cái vẻ khổ não u uất như thường xuyên hiện ra ở đó.

Đôi mắt đặc biệt nầy làm tôi có cảm tình ngay với ông từ lúc đầu. Chúng chứng tỏ sự xúc động vô cùng của ông trước hình ảnh chiến cuộc diễn đều hằng ngày trên bãi đáp. Chúng tôi vẫn thường gọi đó là hai chuyến khứ hồi : chuyến khứ mang anh em từ Nam ra : mạnh khỏe, hăng hái, tươi cười, băng năng bô hô như gà mắc đẻ; chuyến hồi mang anh em từ phương Tây về : hốc hác mệt mỏi, dãy dụa rên la trên băng ca hay nằm yên trong poncho.

Tôi càng cảm phục trung úy Thục hơn khi biết ông tự nguyện xung phong thi hành phi xuất nầy. Chúng tôi ở hậu cứ, được đọc nhiều nhật báo tuần báo tiếng Việt, tiếng Mỹ, nên biết tình hình hiện không thuận lợi mấy. Đồi 17 đang bị nặng, đại đội tử thủ đang kêu cứu và chưa biết sẽ bị tràn ngập lúc nào. Đồi 19 đang bị đe dọa. Thời tiết lại xấu. Phi công Mỹ có vẻ e ngại thi hành những phi vụ quá sức hiểm nghèo, nhất là sau lúc họ vẽ nguệch ngoạc khẩu hiệu “Peace now. Make love nót war” trên hông trực thăng.

Kế hoạch hành quân khá tỉ mỉ, chắc chắn thành công. Tôi ngồi OV 10 của Mỹ để hướng dẫn F4 và phi cơ trực thăng võ trang oanh kích. Nếu cần, có thể gọi pháo binh yểm trợ. Mục tiêu hành quân là ngăn chận cuộc tấn công chiếm đồi 17 của địch, cứu thoát phi hành đoàn bị kẹt hôm trước và tải thương. Qua một vài câu ngắn tôi biết một đại úy bị kẹt trên đồi 17 là bạn thân của Thục. Tôi cảm phục ông hơn.

Chiếc OV 10 lượn qua chao lại như con diều trên không phần đồi 17. Tôi ghi nhận các mục tiêu có thể ẩn dấu xe tăng và trọng pháo địch, quan sát mọi phương để dự đoán hướng tấn công. Mạn đông nguy hiểm nhất vì dốc thoai thoải. Sâu phía dưới cây cối um tùm, lại thêm mấy quả đồi rậm nhìn thằng vào bãi đáp. Tôi gọi F4 thả bom các chỗ khả nghi. Lúc 8 giờ, địch dưới đất bắt đầu tấn công. Các chiếc PT 76 lừ đừ bò khỏi rừng rậm leo lên sườn đồi. Hoa tiêu Mỹ chúi đầu bắn một hỏa tiển khói ngay bên cạnh chiếc xe tăng. F4 nhào xuống, napalm trúng ngay mục tiêu. Khói lửa tỏa mù bên dưới. Địch chạy túa ra chung quanh, giạt xuống chân đồi. Mấy chiếc F4 khác dùng bom bươm bướm thả phủ xuống đàn kiến di động tơi tả, hoặc cày nát đỉnh đồi thấp và khoảng thung lũng rậm.

Hỏa lực ào ạt khủng khiếp ấy làm địch im tiếng súng. Bấy giờ trực thăng trung úy Thục cũng vừa đến. Tôi gọi cho Thục :

– Cậu coi chừng. Tụi nó vừa tấn công xong. Pháo của địch còn mạnh lắm.

Thục cảm ơn, hỏi ý kiến về an ninh bãi đáp. Tôi bảo :

– Các ổ pháo trên hai ngọn đồi thấp vừa im tiếng. Không biết đã thực sự nghẹn chưa. Tốt hơn hết, cậu đáp theo kiểu lá vàng rơi.

Thực đồng ý, bắt đầu cho chúi xuống. Tôi điều khiển các chiếc F4 và Cobra bắn rát hơn vào phía thung lũng và hai đỉnh đồi đối diện. Thục đáp an toàn. Không thấy có pháo địch, chỉ còn những tiếng bom nổ dòn và các đụn khói dâng cao đây đó trên thảm xanh đậm của rừng.

Bỗng trên tầng số cấp cứu có tiếng một phi công Hoa Kỳ :

– Tôi bị rồi. Phi cơ sắp cháy. Tôi nhảy dù đây.

Nhìn sang phía phải, một chiếc F4 bốc khói đằng đuôi, và hai chiếc dù trắng đỏ vừa nở. Tôi gọi cho mấy chiếc F4 :

– Coi chừng hai đỉnh đồi, có thể pháo địch chưa im hẳn đâu. Làm ơn oanh kích rát hơn nữa.

Nhưng lần lượt tất cả mấy chiếc phản lực bay về phía hai cái dù. Hốt hoảng, tôi nói với viên hoa tiêu OV 10 :

– Thôi, để tụi F4 lo. Mầy với tao ở lại điều khiển Cobra.

Chiếc OV 10 bỗng nâng hẳn lên nghiêng mình bay theo mấy chiếc F4. Tôi nói với viên hoa tiêu :

– Làm ơn quay lại đi. Địch có thể tấn công trở lại. Làm ơn chút.

Tôi ràn rụa nước mắt. Nhìn ngoái lại đằng sau, pháo địch bắt đầu nổ trắng trong khi trực thăng của Thục nghiêng ngã chòng chành lánh xa. Đúng như các ông hỏi, dưới bụng trực thăng có mấy người ôm cứng hai càng.

Chúng tôi về căn cứ khoảng bốn giờ. Thục đã về trước đó ít lâu. Anh em trong căn cứ bàn tán xôn xao về những tiếng kêu cứu vô vọng cuối cùng của đồi 17, về cái chết chắc chắn của Hường trên ngọn đồi bị tràn ngập, về giọng nức nở của người lính ôm càng trực thăng về được đến đây. Tại câu lạc bộ, tôi gặp Thục đang ôm đầu ủ rũ, mắt đỏ sưng.

Thục nói bâng quơ :

– Không biết nó chết hay nó bị bắt.

Tôi im lặng, hiểu rõ Thục đang nói đến ai. Đột nhiên Thục hỏi tôi :

– Giá sử anh ở trong trường hợp nầy, anh xử trí ra sao :

Anh đang lái một chiếc xe đầy nhóc anh em bạn bè. Xe chạy ngon trớn. Đột nhiên anh thấy trước xe có một thằng bé chạy ra giữa lộ. Phanh gắt, xe sẽ lật. Lái tránh sang mé đường chín mươi phần trăm chắc chắn là xe sẽ xuống hố. Anh sẽ làm gì ?

– Cán bừa. Vì không thể tránh được nữa.

Thục nói :

– Tôi ước được như anh. Tôi đã rồ ga cán bừa, nhưng ngay sau đó, lại hối hận tự hỏi sao không đưa chân dậm thắng. Biết đâu trong mười phần trăm còn lại, đứa bé sẽ sống.

Hôm sau, Thục len lỏi ngược xuôi hỏi dò tên hai người lính rơi trực thăng. Thục hỏi kỹ cả gia cảnh họ. Cả ngày và suốt đêm ấy, Thục không về trại.Tôi chỉ biết có bấy nhiêu, và viết hết bấy nhiêu.
Nguyễn Mộng Giác
Bách Khoa số 348, 1-7-1971
(Qui Nhơn, tháng 4-71.)


304Đen – Llttm - OVV

 
 

Tuesday, August 15, 2017

Xứ Lạ Gặp Lại Người - Thuyên Huy


Xứ Lạ Gặp Lại Người

Nhớ ngày gặp lại HM, người bỏ tôi đi trên sân ga Mường Mán

 












Gặp lại người một chiều nơi xứ lạ
Trời ở đây vừa mới chớm tàn thu
Cây khẳng khiu bên đường trơ trụi lá
Góc sân ga hoàng hôn nấn ná chờ

 
Người vẫn vậy cũng vai gầy tóc xỏa
Như thuở mình xuống phố hẹn hò nhau
Con tàu chiều sắp về ngang đâu đó
Thoáng bâng khuâng nhắc lại chuyện buổi đầu

 
Lâu lắm rồi không ai về chốn cũ
Thềm vườn xưa chắc đã phủ màu rêu
Ngỏ trúc già thôi người chờ mưa đổ
Bốn cửa thưa chợ muộn vắng tiêu điều*

 
Người đi rồi tôi cũng đời lận đận
Bao nhiêu năm không gặp chắc người vui
Tôi với người hết rồi hờn với giận
Có còn chăng man mác chút ngậm ngùi

 
Người lên tàu thêm một lần tôi tiễn
Không còn gì để phải phụ lòng nhau
Cũng như sông ngàn đời xuôi về biển
Người về thôi tôi đành lỡ chuyến tàu

 
Thuyên Huy
*chợ Long Hoa Bốn Cửa – Tây Ninh

Cưới Vợ Gái Miệt Vườn - Thái Quốc Mưu



Cưới Vợ Gái Miệt Vườn

 

 

Hồi học lớp đệ tứ (lớp 9 bây giờ), tôi có đọc đâu đó truyện ngắn tựa là "Lấy vợ miền quê", của tác giả nào tôi quên. Tôi rất khoái truyện ngắn nầy và định bụng lớn lên mình cũng “lấy vợ miền quê” như tác giả kia.

Nói thì hơi xấu hổ, vừa đậu Tú Tài phần hai, lúc đó tôi mới 18 tuổi tây, tức 19 tuổi ta, mà tôi đã ... "muốn vợ"! Con trai mà “muốn" chuyện gì thì thường vòi vĩnh với mẹ, như chiếc xe đạp, đồng hồ, quần áo mới, kể cả chiếc solex cáu cạnh tôi đang chạy, mà chỉ hàng “thiếu gia”... ở tỉnh như tôi mới có.

Những thứ đó tôi đều manh dạn nói với mẹ, và lần nào cũng vậy, mẹ tôi không cần suy nghĩ mà “ô kê” liền. Còn cái vụ "muốn vợ" nầy, tôi có miệng mà chẳng thốt nên lời!
Tôi định bụng lúc nào mẹ vui và khi chỉ có hai mẹ con ở nhà thì tôi "tâm sự" liền. Mẹ lúc nào lại không vui ! Vả lại tôi là con một trong gia dình, chỉ cần ba tôi đi uống cà phê hay đi đâu đó thì có biết bao nhiêu dịp … may!
Thế mà khi thấy mẹ ngồi, tôi vừa xề lại thì bao dũng khí đã tiêu tan! Bao lần như vậy, dường như bà để ý, giọng ngọt ngào cố hữu:

- Gì đó con trai cưng? Muốn gì nữa phải hô ..ôn?

Lúc đó tôi chỉ cần một “gờ-ram” dũng khí, thêm một tiếng "vợ" sau tiếng "muốn" của me tôi thì đòn cân cục diện đâu lại vào đấy rồi.
Đàng nầy tôi lại nhút nhát, rụt rè! – Điều nầy, vốn không phải là bản tính của tôi:

- Dạ... có "muốn" gì đâu mẹ!

Trả lời xong tôi thấy ấm ức, giận mình sao quá yếu gan! Thì may thay, vợ chồng anh hai Trân tới chơi. Anh với tôi là con chú bác ruột . Hai Trân là con trai trưởng của bác hai, còn cha tôi đến thứ chín, nên ảnh nhỏ hơn cha tôi chẳng bao nhiêu.
Anh rất vui tính, cởi mở, lẹ làng, sốt sắng. Cái gì cũng chịu hoạch toẹt, không chịu úp úp mở mở, nên có khi hơi lố . Vậy mà tôi lại quý mến anh ở điểm nầy nhất, mới lạ! Chưa chào hỏi mẹ tôi, anh nhìn tôi bôm bốp:

- Đậu (Tú Tài ) rồi hả mậy? Là người lớn rồi, cưới vợ được rồi đó nghen!

Thuở đó đậu Tú Tài cũng oai lắm, kiếm việc làm dễ như chơi. Trong thân tộc có người đậu tú tài là niềm hãnh diện chung. Nghe anh nói, tôi khoái chí tử, nhưng cũng làm bộ:

- Mới bây lớn mà có vợ gì anh ơi!

- Sao lại “bây lớn"? Hồi tao cỡ mầy là con cu biết gáy rồi. Mầy hỏi chú chín....

Chị hai thúc mạnh vào hông chồng:

- Nói bậy không hà! Thím chín kìa!.. Chú nó còn nhỏ...

- Nhỏ nhỏ cái gì? Cỡ tuổi nó tôi có con rồi!

Tôi mỉm cười, thấy thích anh lạ! Anh hai quay sang mẹ tôi:

- Thím chín! Em lớn rồi nghen thím. “Nam đại bất hôn như liệt mã vô cương” đó thím. Em nó đẹp trai, học giỏi, nhà giàu, mà thím không chịu cưới vợ cho nó là có ngày có người bồng cháu nội về cho thím nuôi đó!

Chị hai nạt:

- Nói bậy không hà! Cái tật không bỏ!

Anh hai nói chuyện thường chêm vào mấy câu chữ nho, những lần đó tôi cũng bực mình, vì có câu tôi cũng không hiểu nghĩa rõ ràng.
Câu anh vừa nói tôi hiểu, xem ra nó cũng hay đó chứ! Còn chị hai, là người phụ nữ nết na, đẹp lại hiền, hay kìm chế chồng những khi anh quá trớn. Đặc biệt lần nầy tôi lại thấy chị hơi … quá trớn!
Mẹ mỉm cười:

- Biết nó chịu không mà cưới?

Tim tôi đập thình thịch. Không ngờ diễn tiến lại thuận lợi như vậy. Mẹ nói thế tức là nếu tôi "chịu" thì mẹ cưới chứ gì? Ôi con đường... cưới vợ sao mà hạnh thông như vậy! Anh hai quyết liệt:

- Sao lại hổng chịu thím? Hỏng lẽ nó muốn vợ nó lại la làng lên sao?

Hồi trước con muốn vợ, con cũng đâu dám nói cho má con mà phải nhờ chú chín mở hơi giùm. Thím quên rồi sao?
Quay qua tôi, anh dịu giọng:

- Nè cưng, anh hai hỏi thiệt nghen, cưng có muốn cưới vợ không?

Phải nói là nhờ anh hai mà lòng tôi tràn dũng khí. Tôi quyết không bỏ lỡ cơ hội. Chỉ cần tôi nói một tiếng "muốn" là bài toán có đáp số ngay, và bao nhiêu đè nén trong lòng bấy lâu chắc chắn giờ đây tan biến!
Nhưng như vậy xem phàm phu quá ! Tôi cười cười, đợi cho mọi người chờ một lát, thần khẩu xui tôi phát ra một câu quá tuyệt vời:

- Thì hồi trước anh hai sao thì giờ em vậy thôi !

Mọi người cười rần và mang ý nghĩa khác nhau. Tôi cười cho ... đỡ mắc cở. Chị hai cười xòa góp phần vui; anh hai cười ngất, cười sặc sụa của người thích chí; còn mẹ thì cười hiền hòa, sung sướng, lấy tay áo chậm hai khóe mắt rưng rưng. Tôi thấy thương mẹ vô cùng, sà vào lòng mẹ. Dù là một cậu tú, nhưng với mẹ, tôi vẫn thường thích mẹ vuốt ve như thuở lên ba. Mẹ vò tóc tôi, nói với anh chị hai:

- Bây thấy hôn? Nó làm còn như nhỏ lắm vậy!
Mẹ hỏi tôi:

- Bộ con có để ý bạn gái nào ở trường hả?
Tôi lắc đầu. Mẹ bảo:

- Vậy thì mẹ biết ai mà cưới cho con?

Anh hai nhanh nhẩu:

- Thì làm mai! Hồi trước chú chín cũng vậy, con cũng vậy. Có ai thương yêu ai trước đâu? (liếc sang chị hai) Chừng về ở chung cũng khoái thấy mồ ...
Anh phủi bàn tay chị hai định nhéo vào hông anh:

- Vậy chớ hỏng phải sao?
Rồi quay sang tôi, anh lại ngọt ngào và xôm tụ:

- Nè, bây giờ em chưa quen ai phải không? E hèm! Hồi trước anh cũng vậy thôi. Có sao? Nhưng em phải cho thím chín và anh chị hai đây biết mẫu người em ưng thế nào thì ở đây mới kiếm cho em được chứ ! Thí dụ, hồi trước anh ra tiêu chuẩn là phải vừa đẹp, vừa hiền, vừa có chút học vấn.
Em thấy hôn, chị hai đúng boong tiêu chuẩn đó, Anh thấy là khoái liền.
Hề hề…!
Tôi thấy mặt chị hai đỏ lên vì sung sướng:

- Nói không biết mắc cở....
Sẵn đà, tôi tiếp:

- Mà phải ở miệt vườn nữa em mới chịu.
Anh hai có vẻ cụt hứng, còn mẹ thì có vẻ vui:

- Phải đó à bây, con gái ở vườn nó nết na, thùy mị, giỏi giang.
Anh hai cười , lại xông xáo:

- Trúng tủ bả rồi! Mà cũng dễ thôi! Thím bán tạp hóa lớn, mối mang miệt vườn biết bao nhiêu, nhờ họ mối lái giùm.
Chị hai:

- Sao hăng hái dữ! Mai mốt anh hai chịu lạy đó nghen!

- Tất nhiên! tất nhiên!

Thói thường người ta tin tưởng vào những gì mình hy vọng, và sợ mất những gì mình có. Mẹ đã xong rồi, còn ba thì sao? Ba thường hay chìu ý mẹ , dù đôi khi ý mẹ có đôi chút ông chẳng hài lòng, nhưng đó là những việc nhỏ đời thường, còn đây là "hôn nhân đại sự", liệu ba có còn chìu mẹ hay không?

Ngày hôm sau, tôi thấy ba có vẻ khác khác - vậy là mẹ nói với ba rồi!
Ba ít nói, có chiều nghĩ ngợi. Khi giáp mặt tôi, ba mỉm cười khó hiểu. Phúc hay là họa đây!
Rồi ngày tôi chờ đợi cũng đến.
“Phái đoàn” gồm ba mẹ, anh chị hai và tất nhiên có vai chánh là tôi. Thật khó tả được bao cảm xúc bồn chồn lo lắng, hồi hộp, đủ thứ lộn xộn trong lòng tôi. Mẹ tôi cứ dặn dò đủ mọi việc, hết chuyện nọ tới chuyện kia, đến nỗi khó mà nhớ hết; còn anh hai thì cứ lải nhải bên tai "bình tỉnh, bình tỉnh, đừng có run". Nhà ông nhạc tôi (tạm gọi vậy) ở xã Ngũ Hiệp, cách thành phố Mỹ Tho 30 cây số về hướng tây. Chợ Ngũ Hiệp nằm bên kia sông, muốn qua phải nhờ một phà nhỏ.

Từ chợ, theo lời bà mai, chúng tôi phải đi bộ thêm gần ngàn mét nữa. Nghe vậy anh hai nói với tôi:

- Như vậy là "vườn trong vườn" rồi phải không cưng? Tiêu chuẩn một đạt hai trăm phần trăm rồi hén!
Chị hai cau mặt:

- Cái ông nầy lúc nào cũng đùa được.

Thật vậy, đây là vùng trù phú đất đai, cây lành trái ngọt. không biết cơ man nào là cây trái , quả mọng trĩu cành! Cam, bưởi, sa bô, dừa, vú sữa, nhãn, chôm chôm... nhất là sầu riêng cây nào cây nấy chân tay đeo đầy nghẹt quả, theo gió thơm lừng. Bà mai chỉ tay về căn nhà ngói kiểu xưa (kiểu "chữ đinh") nói:

- Nhà đó đó.
Tất cả dừng lại “hội ý”. Mẹ khẩn trương thấy rõ, lại dặn dò:

- Nhớ những gì mẹ dặn nghen con!”

- Dạ!

Anh hai cũng thì thào:

- Nhà cất kiểu nầy mà gặp ông già củ tỏi thì mệt lắm à nghen!
Chị hai nạt nhỏ:

- Ông lo cái miệng ông đó. Vô đó nói bậy đi!

Bà mai vô trước, mẹ sửa lại áo quần tôi chưa xong thì có người ra mời vào. Giờ phút nầy tôi càng thấy tình mẫu tử bao la như thế nào. Mẹ hồi hộp như sắp bước vào nơi hang hùm nọc rắn không bằng, lại điệp khúc "Nhớ nghe con!" phát ra!
Vừa vào cổng, tôi bị hốt hồn vì hơn hai chục cặp mắt, đủ hạng tuổi, nhiều nhất là trẻ em chăm chú vào tôi, một bà trạc tuổi mẹ có lẽ thông cảm được điều ấy, bèn rầy đám nhỏ:

- Nè, mấy đứa làm gì tụ tập lại đây dữ vậy? Có đi hết không?

Đám trẻ tản đi vài bước rồi bẽn lẽn đứng nhìn. Phòng khách được bài trí hai bàn. Bàn giữa gồm ba mẹ tôi, bà mai, ông bà nhạc và hai vị cao niên. Bàn bên có anh chị hai tôi và bốn người bên gái cùng trang lứa.
Phần tôi nghe lời mẹ là không được ngồi, mà đứng sau ghế cha mẹ, hai tay xếp lại để dưới bụng (nếu đã mời trà xong), tư thế y như lính hầu ở phủ huyện, hay các thái giám ở cung đình hầu hạ đức vua!

Theo cách nói chuyện … lại có dịp đứng trước nhạc phụ mẫu; tôi biết ông bà là người cởi mở, dễ tính. Câu chuyện của hai "sui" càng lâu càng khởi sắc tốt đẹp. Dần dà khách khí không còn, mà như đã quen nhau từ trước vậy.
Bỗng Ông nhạc gọi:

- Con hai đâu, châm trà mới đi con!

Một tiếng "dạ" thảnh thót không kém Điêu Thuyền thời Tam Quốc từ nhà dưới vọng lên làm tim tôi rộn ràng. “Phái đoàn” nhà trai ai cũng hồi hộp chờ đợi. Bởi ai cũng biết , bảo “châm trà” chẳng qua là lời nói khéo cho con mình ra chào để nhà trai “coi mắt” đó thôi!

Mẹ quay lại nhìn tôi mỉm cười, thầm bảo ”hãy xem kỹ vì thời gian không lâu”. Tôi chưa kip mỉm cười với mẹ thì rèm hoa lay động, một kiều nữ vận bộ bà ba, không phấn không son , mà má như phấn , môi như hồng.Tóc dài phủ long gọn gàng bởi chiếc kẹp vàng có đính bông hồng chói lọi. Thoạt trông, tôi giật nẩy người, đến nỗi bố vợ nhìn thấy. Đợi giai nhân châm trà xong, ông vội bảo:

- À quên nữa, cháu qua bên ngồi uống nước, hay cứ ra ngoài dạo cho thoải mái.

Mẹ lại quay ra tôi, nhướng mày, thầm bảo “hãy đi đi con”, vì thực ra, ông nhạc cũng ngầm ý cho tôi và vợ tôi gặp nhau để “tìm hiểu”, dù thời lượng ít oi, nhưng nếu tri túc ắt tiện túc mà thôi! Mọi sự đều được người lớn sắp xếp có bài có bản và, có màn có lớp hẳn hoi!

Không khí bên ngoài thực thoải mái. Nhiều loại cây trái lớn nhỏ thi nhau che rợp ánh mặt trời làm mát rượi cả một không gian rộng. Vài tia sáng yếu ớt cố gắng chen vào đất tạo thành những đốm trắng lưa thưa đây đó tựa rải hoa. Mùi sầu riêng thơm lừng. Hàng sa-pô thẳng tắp trái nặng sai oằn. Mấy nhánh ổi cho trái bóng láng no tròn, rục mềm rơi rụng tứ tung, tỏa hương thơm bát ngát. Chim hót líu lo, bướm vờn thẳng cánh.

Đàn ong tranh nhau hút mật của trăm ngàn hoa đủ sắc đủ màu. Rõ ràng là vùng đất lành thừa mứa cây lành trái ngọt. Bên sau một giọng êm đềm:

- Biết người ta ưng hay không mà dám đi hỏi vậy?

Tôi quay lại, thì ra là vợ tôi, (tạm gọi vậy), mà cũng là Vi, người đã làm tôi kinh ngạc đến đánh thót cả người khi nãy ! Vi là bạn học cùng lớp với tôi hồi năm đệ tứ. Hồi đó lớp đệ tứ được xem là cái “mốc” của sự chia tay.
Bởi con trai, nếu thi rớt thì cha mẹ thường cho nghỉ để học nghề, còn thi đậu (cấp bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp) thì cũng mỗi người một hướng đi: Vào sư phạm hoặc ngành nghề nào đó, hoặc học tiếp ba năm nữa để lấy Tú Tài rồi lên đai học.

Con gái thì ít người được học đến chốn đến nơi. Rớt hay đậu cũng thường bị cha mẹ cho nghỉ mà lo phụ việc nhà, viện lẽ con gái “học cao” khó có chồng! Vi cũng nằm trong số phận nầy. Bởi vậy cuối năm đệ tứ, chúng tôi thường trao nhau lưu bút, mọi người đều nắn nót tuồng chữ cho trang mình thường tặng cả ảnh, dán vào giữa trang viết, dưới đề:

"Thương nhau mới tặng ảnh nầy,
Để làm kỷ niệm những ngày bên nhau
Dù cho ảnh có phai màu,
Cũng đừng xé bỏ mà đau lòng người!”

Không biết bốn câu thơ ấy là của tác giả nào, sáng tác tự bao giờ, mà đến nay, thỉnh thoảng tôi lại thấy sau bức ảnh ”tặng nhau” của các em cũng có đề như vậy.
Hơi lạc đề, nhưng nói thêm cho vui: Hồi đó tôi cũng có quyển lưu bút, tất nhiên khi ai nhận thì cũng nắn nót từng chữ và giữ sạch sẽ như nói ở trên. Khi tôi đưa cho thằng Nhứt, ngày sau nó trả (thường thì vậy), nó viết vào trang đôi mấy chữ tổ bố: “Lưu niệm làm cái xê ( C ) bình phương gì?" , rồi láu cá ký tên giáp cả hai trang giấy!

Tôi xem giận run. Cự nó. Nó cười: “Để sau nầy mầy nhớ tao”. Tôi nghe cũng xìu lòng. Quả thật, đến giờ, nó là người tôi nhớ nhất.
Và đến ngày cuối, chúng tôi tổ chức tiệc liên hoan cuối khóa tại lớp.
Văn nghệ xung quanh các bài hát về “mùa chia tay”, “tạm biệt”, “nỗi buồn hoa phượng” ... Tôi có sở trường ngâm thơ, ngâm hai bài thơ Đường luật, bài đầu của thầy H.C, giáo sư sử địa , bài nầy tôi chỉ nhớ hai câu cuối:

“Rồi đây nếu chẳng sau mùa phượng,
Tất cũng mai kia ở chợ đời!”

Và bài họa của tôi:

"Việc cũ, ngàn sau vẫn đổi dời.
Chút tình tâm huyết nói sao vơi?
Luyến lưu kẻ ở đôi dòng lệ,
Tiếc nhớ người đi một góc trời
Chín tháng vui buồn trong một lớp,
Vài giây ly biệt rẽ ngàn khơi,
Đường mây một kẻ hanh thông bước,
Một kẻ lang thang giữa chợ đời!
(Thơ Kha Tiệm Ly)

Đám con gái mắt đỏ hoe, có đứa khóc thành tiếng. Chúng tôi lai tặng quà lưu niệm cho các bạn “nghỉ luôn”. Tôi tặng Vi cái kẹp tóc bằng vàng 14 (tôi là... “thiếu gia” mà ! Vàng hồi đó rẻ lắm, đàn bà con gái chẳng thấy ai đeo, có đeo thì cũng sơ sài, đeo nhiều mắc cở, bị coi là “quê”; không thấy ai đeo cục cục như giờ. Vi tặng lại cho tôi cây bút Pilot nắp vàng, loại cao cấp nhất thời ấy.

- Sao không trả lời?
Vi nghiêm trang như thuở nào, tôi hơi chột dạ:

- Thật lòng tôi không ngờ mình đi hỏi cưới Vi. Đã bao năm rồi, vả lại lúc đó mình còn nhỏ cả mà!

- Bộ mấy năm qua không nhớ chút gì về Vi sao?

- Vẫn nhớ về người bạn nhỏ hiền lành, nhiều nước mắt.
Vi vừa đưa tay rút cây viết trên túi áo tôi, vừa nói:

- Xin lỗi nghe, cho Vi mượn.
Rồi xoay cán viết, nhìn những dòng chữ khắc trên ấy, Vi có vẻ xúc động:

- Vẫn còn giữ của Vi à?
Tôi không đáp, nhìn hai rèm mi chơm chớp, tôi thấy Vi đẹp não nùng. Tôi nắm lấy tay Vi:

- Không ngờ lại gặp lại Vi. Chẳng phải không có duyên số hay sao? Vi đồng ý nhé!
Vi tủm tỉm cười:

- Nếu em không ưng thì sao?

- Thì anh về, nhưng xin gởi trái tim anh lại.
Lại cười:

- Rõ là thi sĩ ! Em đã đồng ý từ khi bà mai nói chuyện với ba mẹ, đâu phải đến bây giờ.

- Không biết mặt làm sao ưng?
Vi kéo mái tóc về phía trước ngực:

- Khờ quá đi! Mọi người ở đây ai không biết con trai một của tiệm tạp hóa Vạn Phát, chứ em thì rành lắm. Vị “công tử” ấy còn tặng cho em chiếc kẹp xinh đẹp nầy nữa phải không?
Trên đường về, mẹ luôn miệng với ba:

- Con nhỏ xem nết na và lịch sự ghê ông há?".
Rồi lo ngại:

- Hổng biết nó có ưng thằng con trai cưng tôi không nữa?”
Nãy giờ tôi lặng thinh, nhớ lại những lời nói của Vi mà thấy lòng hân hoan lạ. Nhưng thấy mẹ cứ lo lắng mãi, tôi mói nói:

- Chắc ăn rồi mẹ ơi! Mẹ đừng lo!
Mẹ nghi ngờ. Anh hai nói:

- Hồi nãy ngoài vườn tụi nó nói chuyện, chỉ cần khi về, đá lông nheo một cái là kể như xong. Thím lo gì!
Ba châm vào:

- Hồi trước bả cũng vậy, sao bả mau quên quá!
Không biết mẹ đánh hay phủi bụi cho ba:

- Cha già mất nết !

Thế là chậm lắm khoảng một tuần, mươi ngày tôi đều đến tham nhạc gia, nhạc mẫu. Ba mẹ vợ tôi đều nhân hậu, nghiêm khắc với con cái nhưng xem chừng ”dễ” với thằng rể tương lai.
Trước khi đi, ba tôi dặn :

- Con đến đó thấy cái gì làm được thì làm, chứ đừng lấy mắt ngó là không được! Ngày xưa trước khi cưới, phải làm rể ba năm: Chẻ củi, vác lúa, cày bừa, làm đủ thứ nặng nhọc, chứ chẳng phải chơi đâu!

Nhưng tôi biết cái gì mà làm, mà phụ? Lần đầu đến, tôi thấy ba vợ tôi đang chài cá, thấy tôi sựng rựng, ông hiểu ý, nói:

- Con đứng chơi, ba vãi vài chài nữa ba vô.

Thế coi sao được! Đợi mỗi khi ba kéo chài lên, tôi phụ gỡ cá, mà có được đâu! Tôi đụng tới con nào thì con ấy giãy rồn rột, rách cả tay, có khi phóng lại xuống mương; trong lúc ông bỏ vào giỏ lia lịa như bỏ đá vào vậy!
Một lần thì thấy ông đang chiết nhánh cây, cái nầy tôi càng mù tịt, nhưng cũng có việc làm là ... đưa dây cho ba tôi cột “bầu”; cái công việc không cần người phụ tá!
Ba vợ tôi rất điệu đời, ông thường bảo vợ tôi dắt tôi ra vườn xem có “cái gì nó thích thì hái nó ăn”. Tôi biết ba tạo điều kiện cho chúng tôi chuyện trò. Ông dư hiểu, bởi nói tiếng là thăm cha mẹ vợ, nhưng chủ yếu của chàng rể tương lai nào cũng là thăm... vợ cho đở nhớ mà thôi.

Nếu không, tại sao mỗi lần đến thăm mà cha mẹ vợ đi vắng thì chàng rể lại hớn hở trong lòng!?

Vườn nhà vợ tôi đủ loại cây nên có trái quanh năm, chúng chen chúc nhau , nên chỉ cách hơn mười thước là không thấy dáng người. Tôi có cảm tưởng như hoàng tử gặp công chúa trong rừng vậy! Đến hàng dừa tơ, quày ôm trĩu trái màu vàng rực, sai oằn đụng tới mép mương, Vi đưa tôi dao,
bảo:

- Chặt dừa uống nhé!

- Trái nào đây?

- Thì tùy chọn

Khổ sở lắm tôi mới đem được hai trái dừa rời quày được. Dùng dao chặt phần đầu có cuống. Dao bén ngót mà tôi phạt năm bảy nhát liền mà vỏ dừa chỉ dập dập, trầy trầy, tung mấy miếng dăm! Vi cười khoe hai hàm răng đều như hạt bắp:

- Để nô tì giúp cho, thưa công tử!

Giành lấy dao, Vi chỉ phập ba nhát nhẹ nhàng mà vỏ dừa tách ra từng mảng lớn, nhát thứ tư, nhẹ hơn, chạm vào gáo, Vi thuần thục lách nhẹ lưỡi dao, để lộ phần “cơm” trắng bóc mịn màng, bao quanh phần nước sóng sánh trong veo! Một tay đưa dừa cho tôi, tay kia chỉ chỉ vào trái dừa bảo:

- Chặt dừa phải chặt đầu lớn nầy nầy, Lưỡi dao phải để hơi xiên. Ai đời ở trên bổ xuống ... 90 độ. Làm sao đứt được?

Lợi dụng tôi nắm lấy cổ tay tròn trịa mịn màng của Vi, ghé mũi xuống hít một hơi dài. Vi vẫn để yên nhưng bặm môi:

- Có thấy con dao ở đây không thì bảo?

Rồi cùng cười, tôi hít mũi chọc:

- Còn ngọt hơn cả nước dừa!

Đến địa phận chuyên canh sầu riêng. Ôi! hàng hàng thẳng tắp. Không biết cơ man nào là trái đậu trên cành! Toòng teng nhỏ to đủ cỡ , lủng la, lủng lẳng tầng thấp tầng cao, xem vô cùng ngoạn mục. Tôi hỏi:

- Nghe nói sầu riêng chỉ rụng về đêm, phải không?

- Sao lạ vậy?

- Thì ... trời khiến để đừng bể đầu người!
Vi cười ngoặt ngoẽo:

- Sao trái dừa vẫn rụng ban ngày? Bộ trái dừa không làm bể được đầu người ? Chủ vườn nòi vậy để cho mấy thằng ăn trộm không dám lẻn vào đó thôi!
Rồi chỉ về phía trước :

- Có hai trái rụng kìa! Anh lại lượm đi! Coi chừng nó "bịch" một cái là hết có vợ đo.o..ó !

Tôi nhìn lên, thấy hàng trăm trái lòng thòng, gai tua tủa, giống như những quả chùy của các võ tướng ngày xưa. Nói dại, nếu nó mà"phịch" xuống một cái như lời Vi nói thì dù không bể đầu, thì mặt mũi chắc cũng khó coi! Dợm chạy đi, bỗng luồng gió quái ác từ đâu lùa tới, bèn chột dạ, tôi dừng lại. Vi cười ngất:

- Coi vậy mà cũng sợ mất vợ hén!
Tôi chữa thẹn:

- Vậy chớ vợ như Tây Thi thì chết sao đành !
Má Vi càng đỏ thêm, nắm tay lại giá giá vào tôi:

- Cái tật nịnh.......
Tôi vừa dặt hai trái sầu riêng xuống thì Vi bảo:

- Tách ra đi!

Nói đoạn lại bờ rào tìm hái những nhánh bông , tôi lui cui lấy dao chặt phình phịch vào đầu lớn trái sầu riêng, dao cũng để xiên một góc mà xem ra vỏ sầu riêng còn dai hơn cả vỏ dừa. Thật tình, sầu riêng tôi ăn có hàng trăm nhưng mỗi lần đều được mẹ bóc sẵn bỏ vào tủ lạnh, nên có biết gì đâu!

Tôi lật qua, lật lại, chợt nhớ tới cái vỏ sầu riêng mẹ bóc xong đâu có trầy trụa, hay mất một góc đàng đầu trái, mà xem ra nó còn nguyên vẹn giống như một chiếc xuồng! Tôi sửa lại rồi dùng dao bổ theo chiều dọc, cũng chẳng ăn thua ! Mệt, tôi định gọi cầu cứu, thì Vi đã đứng sát bên tôi bụm miệng cười tự lúc nào ...

Rõ ràng là Vi biết tôi không làm được mà cố chọc chơi ! Bèn ngồi xuống, lấy dao, vừa làm vừa dạy đời:

- Hồi nãy em bảo công tử “tách” ra chứ có bảo “chặt” đâu mà làm như bửa củi vậy? Đây nè, chỗ nầy lúc nào cũng có một khe hở. Chỉ cần để mũi dao vào đây rồi dùng đòn bẩy Ạc-Shi-Met là xong. Làm rể kiểu nầy mất vợ như chơi.
Tôi bá lấy cổ Vi:

- Giỏi quá, để anh thưởng cho một cái.
Vi nhắm mắt, lắc đầu quầy quậy:

- H..ô..ông..!
Đợi khi tôi “chụt” xong, Vi mới mở mắt ra, chỉ tay vào vỏ sầu riêng, nói:

- Cái vỏ sầu riêng nầy mà vô mặt thì còn hơn té thùng đinh nữa đó!

Lần nào cũng có chuyện tương tự như vậy, thử hỏi sao tôi không khoái về thăm ... ông bà nhạc?
Gần tới ngày cưới, tội nghiệp Vi gầy thấy rõ. Sau nầy tôi mới biết, là con gái trưởng trong gia đình, Vi lo lắng sắp xếp mọi thứ, lại nghĩ tới ngày theo chồng, xa mẹ bỏ em nên đủ thứ tình cảm ray rứt trong lòng. Vậy mà trò chuyện với tôi một hồi, mặt hoa lại rạng rỡ, nói nhỏ cho tôi vừa nghe, như một chuyện gì quan trong lắm:

- Làm rể mà lỏng nhỏng không động móng tay, cứ đeo sát con gái người ta hoài không sợ bà con họ nói sao?

Ba vợ tôi thường bảo tôi: “Con ở chợ không quen việc ở vườn. Con cứ về thăm, khỏi làm gì hết, đừng ngại, cứ coi như ở nhà con”.
Tôi đem lời nầy nói cho vợ nghe, rồi châm thêm:

- Vậy chứ anh có việc gì để làm?

- Em chỉ cho. Gần tới ngày cưới rồi, phải có củi để nấu chứ! Hay là anh chịu khó ra chẻ một mớ ....

- Ở đâu?
Vi chỉ tay về một hàng củi được chất ngay ngắn từng ô một, dài chừng ... vài chục mét, khúc nào khúc nấy cở bắp đùi ... voi. Tôi chột dạ:

- Chẻ hết sao?
Vi làm mặt nghiêm:

- Ừa!... thì tới đâu hay tới đó! Ngày còn dài mà!....

Tôi xách búa đi mà tác phong rời rã như Hạng Võ tại bến Ô Giang! Nhưng muốn ăn phải lăn vào bếp, muốn cưới được vợ thì phải bửa củi, cày bừa … Thì ra lời ba tôi nói chẳng sai, bằng chứng là tôi cũng không ngoại lệ !

Tôi cởi áo sơ mi máng trên cành bưởi, còn lại chiếc áo thun ba lỗ trắng tinh, vốn là mô đen của con nhà giàu mới có áo lót bên trong. Dù là “công tử”, nhưng tôi thường tập tạ nên bắp thịt coi cũng ngon lành.
Tôi đếm thầm: Một, hai, “phập!”; một, hai “phập!” Có cái “phập” làm củi vỡ ra, có cái “phập” thì búa lại dính khắn vào củi, gỡ ra cũng tróc vảy trầy vi ! Khi độ mệt đã choáng váng mặt mày, nhưng còn đủ để nhận được tiếng ông nhạc ở sau lưng :

- Bây làm cái gì vậy?

Tôi quay lại chào ông bà vừa đi xóm về, rồi trả lời với giọng điệu của người vừa lập nên công trạng:

- Dạ, vợ con biểu chẻ củi để khi đám cưới có mà xài !

- Thôi, thôi! Bây “bị” nó rồi! Đi vô! Đi vô uống nước con!

- Dạ, để con chẻ thêm một mớ nữa, ba!

- Củi nầy ba để bán cho lò bánh mì, đâu cần chẻ! Còn củi dùng cho đám cưới thì để trong nhà kho kia, có xài mười đám cũng không hết!
Bà nhạc lắc đầu:

- Cái con nhỏ nầy …
Vào nhà bà nhạc rầy Vi:

- Chồng của mầy nó không quen làm việc nặng. Xúi dại rủi nó trợt chân trợt cẳng thì sao ?

Bà nhạc dùng tiếng “chồng mầy” tôi thấy ấm áp lạ lùng ! Còn vợ tôi thì chúm chím cười, còn liếc qua tôi với ánh mắt còn bén hơn ... lưỡi búa , lại chu đôi môi đỏ au chế nhạo.
Thế là bao mệt mỏi trong tôi biến mất tiêu!
Phải nói trong đời thường, về sự thông minh, lúc nào vợ cũng hơn tôi một phép. Khi về làm dâu vợ tôi đã chứng minh đầy đủ điều đó. Ngoài sự hiếu thảo với cha mẹ chồng, vợ tôi còn nhiều đức tính như nhân hậu, cần kiệm ...

Thuở đó, ở thành phố “nhà giàu” mới có tủ lạnh (ti vi chưa có), còn dưới quê thì tuyệt đối không, bởi có điện đâu mà xài ! Nên những ngày đầu, tủ lạnh đối với vợ tôi là một phát minh khoa học lớn lao, nó đủ công năng, nên có cái gì cũng “thồn” vô trong đó. Có lần mẹ tôi mở tủ lạnh, rồi nói với vợ tôi:

- Tô mắm nêm nầy, con đừng có để vào đây, nếu không tất cả cái gì trong nầy đều có mùi mắm nêm hết.
Chỉ chờ có dịp nầy, tôi cười hí hí:

- Trái cây mà có mùi mắm nêm ăn càng ngon chứ sao mẹ?

Mẹ cười, còn vợ tôi cứ đem cái sở trường là bắn nửa mắt vào tôi.
Tôi khoái chí, nói theo kiểu đá banh thì “gỡ” được một, nhưng dường như chỉ có một mà thôi !
Khi con chúng tôi đã lớn, tuổi có thể về quê thăm ngoại một mình, thế mà một tối cả nhà xem ti vi, không phải nhằm đoạn hài mà vợ tôi cười ngất. Con hỏi, “sao tự nhiên mẹ cười?” Một lát vợ tôi mới trả lời được:

- Mẹ thấy bộ tướng ông thái giám đứng khúm núm kia giống"mấy thằng cha“ lần đầu coi mắt vợ quá!” Hi! Hi!

Biết bị xỏ ngọt nhưng tôi biết gì hơn ngoài làm...thinh ! May sao đến chương trình quảng cáo, quảng cáo tủ lạnh, tôi nói tỉnh bơ:

- Tủ lanh đời mới coi bộ tốt à nghen! Nó tự khử mùi, dù “mấy con mẹ” ở vườn có để mắm nêm vô đó cũng không sợ hôi. Ha! Ha!...

Tức thì vành tai tôi bị kéo ra cả thước, tiếp theo là một giọng tru tréo, muốn nổi da gà:

- Trời..u.u..i! Chuyện cũ nhắc hoài ! Nhắc hoài !

Vậy đó, “chuyện xưa” thì vợ tội nhắc được, còn “chuyện cũ” tôi nhắc thì như bị muốn nhai xương!
Có vợ miệt vườn, miệt quê là vậy đó !


Thái Quốc Mưu

 

Mùa Mưa - Chàng Hiu 374



Mùa Mưa

 


 
Một năm  một  lần…
đất trời xoay tua đổi cảnh: cây xanh, ra bông, rụng lá, tuyết rơi.
Người xưa, đặt ra một năm có 12 tháng…

Rồi thấy “có lý” bởi…
chuyện xoay tua đổi cảnh ứng với bốn mùa trong năm và vậy là một mùa có ba tháng.
Và nhân loại thấy… trúng, cho nên xài luôn, hỏng đổi, tới bi giờ!
Rỏ lại, thì thế giới một năm có bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông.
Còn Việt Nam?

… Hồi xưa cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm…cho biết như vầy:
           Thu ăn măng trúc Đông ăn giá.
           Xuân tắm hồ sen Hạ tắm ao…
Còn ở Miền Nam Việt Nam, một năm “có hai mùa rõ rệt” đó là mùa nắng màu mưa.
Nghĩa là mùa nắng là Mùa Nắng, còn mùa mưa là Mùa Mưa!!!
Nhưng rồi, trong mùa mưa… trời cũng nắng và trong mùa nắng…trời vẫn cứ mưa!
Nói vậy, có nghĩa là miền Nam Việt Nam… mát mẻ quanh năm lá cây tươi tốt.
Trong mưa có nắng… để phơi quần áo (?!)
Trong nắng có mưa để… ở truồng tắm mưa…(?!)

Qua tháng 4 âm lịch, khi thời tiết “dịu bớt”, lúc có mưa lai rai là vô Mùa Mưa.
Bà con có kinh nghiệm lâu năm về thời tiết nắng mưa như sau:
Mặc dù xài Âm Lịch hàng ngày như đám cưới, đám giổ… bà con cũng biết rõ về ngày Tây, để nếu gặp Năm Nhuần…
Khi thấy tới Mùa Mưa mà trời vẫn nắng thì… bắt qua Ngày Tây để biết trời hạn và hạn bao lâu thì mưa:
Bà con để ý…”như vầy”.

Và bao giờ cũng vậy:
Nếu mưa thuận gió hòa thì tới ngày 5 tháng 5 dương lịch là mùa mưa bắt đầu.
Nghĩa là bắt đầu có mưa dào dả… mưa liên tu…
Nếu tới “ngày đó” ít mưa, hay mưa hỏng lớn, thì…yên chí lớn là…thế nào tới ngày 25 tháng 5 dương lịch thì “thế nào” cũng vô mùa mưa luôn…
Và sự thật đúng y như vậy…


Cho nên bà con hỏng lo…cấy trật mùa, chỉ có…cấy trể mà thôi.
Nhưng trước khi “mùa mưa tới”…
Thì đất trời cũng “ra hiệu” chớ không “âm thầm”…ra tay bao giờ…

Khoảng cuối tháng tư âm lịch, trời nắng nóng hầm hập…
Nhưng có… triệu chứng trời sẽ mưa… tới nơi rồi, như sau đây:
Ban đêm nhìn lên trời, thấy mây “có quầng tròn” quanh mặt trăng…
Những củ khoai giống cất trong nhà như khoai mở khoai từ… tự nhiên lú mộng.
Ngoài thiên nhiên, trong hàng rào, gốc nho rừng đã rụi dây từ lâu, nay… phát thinh dưới đất khô cháy thò lên hai ba tược nhỏ màu nâu… coi bộ rất sung!
Đặt biệt có loại củ như củ hành trắng tên tỏi lơi, mọc lòng vòng quanh hàng rào…
Trời đang nắng… thấy mồ, tự nhiên dưới đất nó lú ngòng, trên ngòng là 4 nụ vàng cam, khi tỏi lơi nở bông đầy xóm, bông tàn là trời ”phải” mưa, quả đúng như vậy.

Trời báo mưa như vậy… chưa đủ, trời còn “báo thêm” mùa mưa năm may… có gió lớn hay không nửa đó, báo “điềm” như sau:

Đầu mưa, nếu thấy chim dòng dọc lót ổ tòn ten trên đám cau trước nhà…


[Nói thêm về “nguyên tắc” trồng cây xung quanh nhà theo phong thủy của ông bà xưa truyền lại, như sau:

Mít đàng sau.
Cau đàng trước. (nhà)
Sói ngâu bể nước.
Gốc lựu đầu hè.
Thiên lý ngoài hiên.
Hàng lài trước ngỏ.
Cây khế gốc vườn.
Khóm trúc bờ ao.
Liễu rủ bờ hồ.
Bụi chuối bên hông.(nhà)

Chuối già, kỵ trồng trước nhà… vv…

Những câu trên là kinh… nhật tụng khi muốn trồng cây quanh nhà…]
…Dòng dọc thường lót ổ… tòn ten trên lá cau.
Nếu chim treo ổ ở ngọn lá sát thân cau, thì năm đó trời sẽ có dông lớn…
Còn nếu… trời ít dông, chim treo ổ ở đầu chót lá cau, mà hỏng lo gió giật rớt ổ.
Con chim…trời sanh, nó “biết hết ráo”!!!



Do đó, bà con cứ dòm ổ dòng dọc mà lo… trước chuyện mùa mưa năm nay:
Nên lo sửa sang nhà cửa, hay giàn bầu thì lo thay trụ để khỏi bị sập Giàn.
Nếu “bụi chuối bên hông nhà”… tự nhiên lú lên cây chuối con mà cây con nằm ép sát gốc cây mẹ… thì trời sẽ có gió nhiều… làm bay nóc nhà lá…

Còn nếu cây con mọc ra xa thân mẹ, thì yên chí… hỏng có gió lớn… nên phẻ ru!
Bụi tre gai trong hàng rào, đầu mưa lên măng xa gần gốc…giống như cây chuối…
So sánh 2 giống cây nói trên, coi “kiểu đó” thì… chắc mẩm trúng phóc!

Khi đất trời báo hiệu… trắng trợn như vậy thì bà con lo chuyện mùa mưa:
Lo nhổ củ môn dưới ruộng, để tránh củ ngập nước, bị sượng, hỏng ngon.
Lo nhổ dậu phọng về để củ hỏng úng, bị thúi…
Lo dọn dây bầu bí mướp cà… để cho dễ cày bệ.
Lo đem trụ cần giọt về cất trong nhà, kẻo bị mục, mùa tới mắc công làm cây mới.
Lo củi đuốc để khỏi mắc mưa ướt hết…
Lo và lo… tùm lum…
Và rồi trời đổ mưa…

Cây Mưa Đầu Mùa thường là Cây Mưa Lớn, lớn “hết biết” luôn!
Cây mưa đầu mùa làm lá cây ngọn cỏ được rửa lá xanh tươi, quanh cảnh không gian trở nên mượt mà tươi tốt.
Cây mưa nầy làm ngập mặt ruộng cả tất nước, nhưng vì khô hạn lâu ngày, một tiếng đồng hồ sau, nước rút hết… không khí trở nên mát mẻ lạ thường…

Kể sơ về chuyện cấy hái lúc chưa có chương trình “cơ giới hóa nông nghiệp”…
Cho nên cứ “tới ngày” là bà con lo rắm lúa giống để bắt mạ (gieo mạ). Rấm lúa giống là ngâm lúa giống trong lu nước một đêm cho lúa “no nước”.
Sau đó vớt lúa ra, đổ xuống đất, lấy bao bố đậy kín đống lúa rắm (nước) cho ấm, để lúa nứt mọng, hàng ngày phải tưới thêm nước vô đống lúa cho khỏi khô mọng để bắt “gieo” mạ xuống ruộng thì mọng phải ra dài đều…
Cho dù trời chưa mưa cây nào lớn…
Cũng có khi Bắt Mạ đất khô “cày ra bụi” nhưng bà con vẫn yên chí, vẫn cứ xách gàu múc nước giếng để tưới nước cho miếng đất mạ thành sình để gieo mạ…
Khi mạ non lên cao một hai lóng tay là “vô mùa mưa”… y như trong kinh!


Còn nhớ ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, mạ cao cở một tất tây…
Lúc nầy đồng ruộng trống hoát, chỉ có cỏ và những đám mạ non nằm sát bờ mà thôi…
Những trò chơi dân gian như đánh chỏng, đánh quạ bắt đầu…xảy ra ở đồng ruộng.
Trâu bò cũng mập lên do có cỏ dồi dào, nhứt là cỏ chưng-vịt.
Cỏ chưng vịt bò sát mặt đất, nhảy tược rất dử và cỏ mau có trái, trái nhỏ cở cây kim nằm trên một gié như bông lúa.
Hột bông cỏ nầy cu cườm rất khoái, dòng dọc, sẻ sẻ, sắc ô, áo già, manh manh… con nào cũng ăn hột cỏ nầy…
Do đó, trong những đám ruộng, chim các loại tụ đông nghẹt mặt đất để kiếm ăn…
Cũng… do đó, phát sinh nghề giựt chim bằng lưới và con nít… sắm giàn thun!

Khi mưa dào dả nối tiếp, mặt ruộng bắt đầu mềm là bà con lo cày bệ.
Cày bệ là cày úp cho cỏ chết, cỏ chết thúi cũng là phân xanh cho đồng ruộng.
Khoảng nửa tháng sau là cày trở để cấy…
Thế là vô Ngày Mùa, chuẩn bị cấy hái rồi đây…

Người có ruộng, kẻ không tất đất, cũng… bận rộn cho mùa cấy y như nhau:
Những người có ruộng ở chỗ trũng lo cày trước để cấy trước, sau đó cấy từ từ tới chỗ ruộng hơi cao hơn…
Người có ruộng sâu, cho cày trở để chuẩn bị cấy…
Người không ruộng, cũng… chuẩn bị tinh thần để đi cấy “lấy công” hay “cấy dầng-công” hay lấy lúa… ít ai lấy tiền công. Có bài thơ xưa sau đây:


Người ta đi cấy lấy công.

Còn tôi đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời trông đất trông mây…

Trông cho chân cứng đá mềm.
Trời êm bể lặn mới im tấm lòng…


Muốn cấy, phải có công cấy, mà công cấy có là do ông đầu công… lo dùm.
Ai muốn “bỏ ngày cấy” (tính ngày nào cấy) thì gặp ông đầu công “đặt ngày”.
Ai muốn là ông ấy cũng phải tới nhà ông đầu công… ghi tên, để ổng biết mà sắp xếp cấy ruộng ai và cấy ngày nào…
Ông đầu công với “công lao to tát” như vậy… mà hỏng hiểu sao, trong dân gian có “câu thơ”… quái chiêu, mà con nít nào cũng thuộc lòng, rồi khùng khùng la lớn:

 

Công cấy lấy công ày,
 Chín tháng mười ngày…
 Đẻ ra…thằng cha đầu công…(?!
)


…giờ nghĩ lại… thiệt là quấy!!!

Dầu cho ai hay… con nít nói xoi, nói mói thì ông đầu công vẫn đem công cấy cấy dài dài mà hỏng nghe ổng nói tiếng nào.
Qua giữa tháng 5 âm lịch… mưa bắt đầu, mưa đều…

Đầu tháng 6 là vô mùa cấy.
Đầu tiên từng đám ruộng được gia chủ cho cày bệ, là cày úp đất cho chết cỏ…
Cở mười ngày sau là cày trở là cày lần 2 để chuẩn bị cấy.
Cày hôm trước, hôm sau cấy, để đất cày không bị dẻ cứng, khó cấy.
Bữa sáng bữa ấy.
Gia chủ thức dậy nửa đêm để nấu xôi cho công cấy “ăn nước buổi”…
Sáng đó, ông đầu công thổi tù và để tụ công tại nhà ổng, vì chủ ruộng có đặt trước nên ông đầu công biết ữo ruộng của ông A bà B… cần bao nhiêu công cấy sáng hôm nay.
Khi công cấy, cấy lúa tới khoảng 9 giờ sáng là chủ nhà gánh xôi xuống ruộng cho công cấy “ăn nước buổi” (ăn giữa buổi)
Ai cũng cho công cấy ăn nước buổi, buổi sáng, còn buổi chiều, không có ăn gì ráo!


Cũng vì… cái vụ “ăn xôi cấy” nầy, mà phát sinh mấy câu thơ… ngộ ngộ sau đây:
Cối có xây, thì… cối hỏng nẩy (cấy có ăn xôi, thì cấy chắc, cứng gốc, hỏng cho cây mạ nổi lên)
Cối hỏng xây, thì… cối nẩy (cấy hỏng cho xôi ăn, thì “ghét”, cấy nổi cây mạ lên chơi)
Cối có xây, mà cối nẩy… thì cối chản. (cấy có ăn xôi mà cấy nổi thì ăn cán chổi).Thiệt là “bài thơ” quá độc, đọc lên nghe… tức cười, mà hỏng ai giận, hỏng ai làm.

Khi cấy lúa, mấy bà già trầu nói chuyện… dê, nói trây, nói lái… nghe phát ham!!!
Cứ… lóng lổ tai nghe riết, thế mà tới giờ nghỉ cấy, hỏng ai hay biết, tới chừng nghe ông đầu công thổi tù và hết giờ… mới hay, do đó… cấy hỏng thấy đau lưng, là vậy!

Một khi đồng ruộng đã cấy kín mít… thế là hết “chuyện mần ruộng” rồi…
Giờ thì chờ lúa bén rể để câu êch ruộng…

Qua giữa tháng 7 thì đồng ruộng… vô hạn Bà Chằn…
Lúc nầy lúa đã nở bụi và vì không mưa hay mưa nhỏ, nên nước ruộng cạn dần…
Lúc nầy cá ở ruộng gom lại chỗ còn nước in-ít…
Thế là làm mồi cho cò, gà nước, cỏ nhác… tha hồ ăn…
Tụi con nít cũng tham gia bắt cá cạn om sòm…

Qua tháng 8 âm lịch, khi nghe chim thằng lằng chó, tự nhiên ở đâu bay tới kêu “chẻ chẻ” om sòm từ đầu làng cuối xóm, là biết, trời sẽ mưa trong hai ba ngày tới.
Khi trời mưa là mưa liền liền, gọi là “trời lụt” là trời mưa liên tu…
Thế là đi câu… được rồi nè.

Tới tháng 10 lúa tròn mình xây đồng đồng, trổ bông, rồi lúa ngậm sữa…
Tháng 10 gió sớm thổi liu riu, hột lúa non tét vỏ, thò nhụy vàng ra ngoài để thụ phấn, nhờ có gió sớm nên lúa đậu hột dễ dàng…
Cuối tháng 10 âm lịch mưa “ngớt” (ít đi)…
Nước ruộng cạn từ từ… thì bà con lo ủ cá trong giếng…

Đầu tháng 11 lúa chín vàng đồng… vậy là vô mùa cắt lúa…
Cắt lúa tính công như sau:
Cắt lúa một ngày công, lấy một thúng lúa (thúng = nửa giạ)
Còn đập lúa thì thường người lãnh (đập lúa) lãnh theo cách “đập lúa hồi”…
Đập lúa hồi là cứ đập được 10 thúng lúa, thì người đập lấy công một thúng tại ruộng.
Người chuyên môn đập lúa mướn như vậy, trọn mùa cắt thì trong nhà cũng được cả bồ lúa như người có ruộng…

Còn người có ruộng và có người đi cắt, thì cắt “dầng-công” cho nhau…
Ví dụ đám lúa nhà mình cần 20 công cắt, thì cắt dầng công được bao nhiêu thì cắt, phần còn lại thì trả bằng lúa hay tiền, tùy người nhận.
Tới mùa cắt lúa, bà con chỗ khác, tới xin cắt là chuyện thường…

Trong khi cắt lúa ngoài đồng, thì, năm nào cũng vậy:
Bà con miệt An Lộc, Thạnh Lộc Thôn, An Phú Đông… gánh mía cắt thành lóng để trong thúng gánh tới ruộng để “đổi lúa” lấy mía, bánh ít hay bánh tét… để ăn “nước buổi” tại đồng ruộng…
Đặc biệt là…bất cứ chuyện gì, mà làm buổi sáng, thì thế nào gia chủ cũng nấu cơm, nấu xôi… hay gì đó, đem tới cho bà con đang làm “để ăn nước buổi”…
Cử ăn nầy ở lúc 9 giờ sáng… đây là theo lệ từ xưa và bà con vẫn cứ làm theo…
Do đó, nếu “đi làm” buổi sáng thì… hỏng lo đói bụng bất tử!!!
Cắt lúa, nếu tiện, thì đập lúa (ngay) liền, vì lúa còn tươi dễ rụng hột, nếu không đập liền, thì cắt lúa phơi ba bốn ngày, cho rơm khô, đặp lúa không bị rơm…quấng cổ.
Cũng có khi, cắt xong, lúa nằm đầy ruộng, rồi bị cây mưa “trái mùa” đổ xuống, cây mưa lớn làm ngập ruộng, ướt lúa…
Khi bị mưa bất tử như vậy, bà con hỏng lo lúa nứt mọng.
Vì “lúa mùa 6 tháng” không bao giờ nức mọng bất tử như lúa thần nông 3 tháng…

”Cuộn phim trắng đen ngắn” Mùa Mưa viết tới đây hết phim…!!!
Như vậy là… Mùa Nắng bắt đầu…

 

Chàng Hiu 374

304Đen - Llttm