Friday, January 3, 2020

Cũng Đành Về Với Biển - Thuyên Huy



Cũng Đành Về Với Biển

Chuyện viết bằng tưởng tượng, xin thứ lỗi cho những trùng hợp vô tình từ tên người tới bối cảnh nếu có.

 
 
   
 

    Đầu tháng tư, tháng của mùa hoa anh đào xứ Nhật, từ dưới  nhà ga xe lửa Sannomiya, ở trung tâm thành phố Kobe, nhìn ngược lên đồi về hướng Kitano, hoa nở rực một màu trắng và tím nhạt trên hàng cây chạy dọc hai bên đường Nagamayate, trời bắt đầu ấm lại sau những ngày đông lạnh kéo dài hơn mọi năm, buổi sáng, sương sớm vẫn còn lưa thưa, nấn ná đọng hờ đâu đó dưới hiên nhà, gió từ phía bên kia phố chính, ngoài biển thổi ngang mang theo chút dìu dịu mùi muối mặn. Trên đường về nhà, hình ảnh bà cụ già tóc bạc trắng, mặt hằn những nếp nhăn khắc khổ, quần áo cũ mèm, lưng còng, quảy hai cái giõ cây đựng một số rau trái gì đó, nặng nề chờ đèn băng qua ngã tư đường Tor và Nagamayate, đã làm Chinh nghĩ tới hoài, trên suốt một đoạn đường dài, anh cứ phải quay nhìn lại mấy lần, cho đến khi bà khuất hẳn sau dãy tường, bám đầy hoa leo dại, dưới chân cầu đường xe lửa, bỗng dưng Chinh nhớ tới ba tấm ngói nung màu nâu đậm, hai tấm có tên ba mẹ, còn tấm còn lại, anh chỉ đã viết vỏn vẹn được ba chữ “Bà Hai Thìn”, cúng dường để lợp mái, đặt tại ngôi chùa Todai-Ji ở Nara, ở đây chùa sẽ đọc câu kinh cầu nguyện bình an cực lạc cho bà, như những người Nhật khác đã làm cho thân nhân mãn phần của họ, mỗi lần đến thăm chùa, vào mùa hè năm ngoái.

    Chinh lên Chơn Thành, nhận chức vụ Phó quận trưởng, sau ngày xãy ra trận chiến An Lộc khốc liệt, với hai câu thơ để đời của một cô giáo trẻ “An Lộc địa sử lưu chiến tích, Biệt cách dù vị quốc vong thân” vào đầu năm 1974. Hôm lên trình diện trên tỉnh, có lẽ thương cho thằng “học trò thân trói gà không chặt”, mới ra trường, ông Đại tá Tỉnh Trưởng cho về Chơn Thành ngay với câu nói thòng đáng nhớ “ dưới đó, đường bộ về Sài Gòn gần và cũng dễ đi, tốt hơn, trên này phải chờ máy bay thì  ông không an tâm”, rồi ra lệnh sĩ quan trực tiểu khu, sắp xếp Chinh theo trực thăng đưa thương binh về Sài Gòn, ghé ngang bỏ anh xuống Chơn Thành sáng ngày mai, sau một đêm tâm tình với mấy anh khóa đàn anh đang ở đó. Đường từ An Lộc về Chơn Thành quân xa lính trận đi nhiều hơn khách thường, xe đò cả ngày mới có chuyến lên sớm mà cũng về sớm, quân cộng sản vẫn chực chờ đâu đó, nhứt là những đoạn ngang qua đoạn Bầu Bàng với mấy khu cây rừng rậm lá, không khí chiến cuộc vẫn âm ỉ ngột ngạt như từ ngày mất Lộc Ninh tới giờ.

    Gọi là chợ quận lỵ, chứ thật ra, gom lại, chắc chỉ lớn hơn một chợ xã nào đó, loanh quanh mấy con đường, nửa đá nửa đất, dài không dài, ngắn không ra ngắn, trừ đường chính dẫn ra giáp với quốc lộ 13, văn phòng quận nằm gọn bên trong hàng rào chi khu, cũng bao quanh bởi kẽm gai, bao cát và hố hầm giống như những quận hẻo lánh, nghèo nàn khác trên khắp đất nước. Gặp thiếu tá Trung, quận trưởng, người gốc Biên Hòa, tốt bụng, thương người, gọi mầy xưng tao, nên Chinh đở lo, chỗ ở thì, ở một gian nhà riêng, trên nóc có đà ngang che pháo kích, bên cạnh văn phòng chi khu của ông, vài ba anh lính gát, ăn thì có người lính nấu ăn của ông lo luôn giùm, có gì ăn nấy, cơm rau tạp nhạp qua bữa, thỉnh thoảng đôi ba ngày, rủ nhau ra, cái quán cơm độc nhất, đầu bến xe đò An Lộc, Bến Cát, Lai Khê ,Thủ Dầu Một đổi món. Văn phòng hành chánh quận ngó ra sân trường tiểu học, nhìn học trò chạy qua chạy lại, la hét hát hò cũng vui vui, thấy đời còn đáng sống, buổi sáng, đôi khi không có việc gì cần làm, Chinh bỏ ra chợ đi lên đi xuống, trước lạ sau quen với người mua kẻ bán, sạp thấp sạp cao, ngày nào ngày nấy chừng đó người, riết rồi ai cũng nhớ mặt, nói cười, “một ông phó hai ông phó”. Cuối chợ, ngày nào cũng vậy, cũng một thứ rau cải, khoai lang khoai mì, ở một cái sạp nhỏ, kê bằng gỗ thùng thông đựng đạn đại bác, bà bác già, tuổi chắc trên 70, tóc bạc trắng, mặt nhiều nếp nhăn dài, lúc nào cũng đứng lên chào Chinh từ đàng xa. Lần nào cũng vậy, Chinh nắm tay bà xoa xoa, nhắc “bà đừng làm vậy, cứ xem con như con cháu được rồi”, ngồi hỏi chuyện này chuyện nọ, bà không nói nhiều, giọng hơi khan khan nhưng vui tánh, hiền lành, nhìn kỹ mấy cái rỗ đan bằng tre rách bương nhiều lổ thì xem ra bà cũng khá nghèo, Chinh không buồn hỏi tên, cứ gọi bà là “bà hai Thìn” như người trong chợ thường gọi.

    Bà hai Thìn nghèo lắm, nhà bà là một căn chòi tranh nhỏ, cất tạm bợ trên một miếng đất công trống, sát tựa gốc cây xoài vô chủ cao lớn, vách che bằng những cọng rơm thưa ,có cái liếp cũng bằng rơm làm cửa, nằm cuối đường chợ quận, sau chòi có miếng đất vừa đủ trồng rau này rau nọ và dăm ba luống khoai lang, vài hàng khoai mì, phía trước có cái bàn thiêng, chân nhang cằm đầy trong một cái chén bể gần phân nửa. Bà hai sống một thân một mình, trước đây, bà là người Lộc Ninh, có đứa cháu gái, mồ côi cha mẹ, chết vì đạn pháo của quân cộng sản trong trận đánh chiếm Lộc Ninh, bà bỏ nơi đó xuôi xuống An Lộc rồi Chơn Thành, sống lây lất từ đó. Bà có nốt ruồi son trên mí mắt trái nhưng theo lời bà, tiếc là không phải nốt ruồi tài cho nên bà cứ vẫn nghèo rớt mồng tơi, tay bà có hai vết sẹo, sâu và dài vì bị mấy cây lồ ồ cao ngã, cắt khi bà còn đi làm nghề chặt tre đan lát, trên miệt rừng gần biên giới Miên, còn nhìn thấy rõ mồn một. 

    Chi khu Chơn Thành, nằm trên quốc lộ 13, cách Sài Gòn khoảng chừng trên dưới 80 cây số, sau khi mất Lộc Ninh, Chơn Thành được xem là tuyến phòng thủ quan trọng cho hướng đông bắc Sài Gòn. Hà Nội nhắm tới nó sau khi chiếm được vùng tây nguyên trong tháng 3 năm 1975, ngày 1 tháng tư, cộng sản tung quân tấn công chi khu Chơn Thành bằng tất cả lực lượng họ có, kẻ cả xe tăng đại pháo. Liên đoàn 31 Biệt Động quân, tiểu đoàn 336 và 36 địa phương quân, chiến đoàn 7, chiến đoàn 8 của sư đoàn 5 và chi đoàn thiết giáp 182 của quân VNCH chống trả ác liệt, một mất một còn nhưng cuối cùng đành rút lui, quân cộng sản giành quyền kiểm soát quận Chơn Thành đêm 2 tháng 4 năm 1975. Đêm trước ngày chi khu Chơn Thành thất thủ hoàn toàn, Chinh bị quân bộ đội CS miền Bắc, bắt cùng một số lính nghĩa quân và địa phương quân VNCH chống giữ chi khu, kẹt lại, chừng vài chục người, khi đang trên đường mon theo bờ hầm phòng thủ lấp xấp nước trốn ra phía sau chợ, dưới những trận mưa pháo tàn khốc, trong màn đêm thiếu trăng, đục màu sương muộn, thiếu tá Trung, quận trưởng chết trước đó không lâu, khi ông bỏ hố cá nhân bò lên, kéo người lính mang máy truyền tin theo mình, bị trúng đạn gục xuống.

    Quá nửa đêm, lửa rực trời, vẫn chưa ngưng tiếng súng, bộ đội chính quy cộng sản đông như kiến, nghẹt cả khu đất chợ, súng trong tay, ba lô trên lưng gọi nhau ồn ào tứ hướng, tên chỉ huy toán lính bắt Chinh, cầm súng lục K54, chỉ lên chỉ xuống, nói qua nói lại gì đó với đám du kích Việt Cộng địa phương, chừng năm sáu người, mặc đồ bà ba đen, quàng băng đỏ, rậm ra rậm rực với súng AK 47 đang cầm trên tay, một hồi lâu rồi gật đầu, hắn ra lệnh cho đám du kích, tách Chinh ra khỏi nhóm, rồi dẫn Chinh đi trước, tên bộ đội chỉ huy cùng hai ba tên lính khác theo sau, trên đường tới sân trường tiểu học, ở đó đã có mấy chiếc xe tăng T54 lù lù đen ngòm còn mùi khói súng và đám đông dân chúng lố nhố bao quanh, dùng dây thừng cột thúc ké Chinh vào cột cờ, không còn lá cờ vàng VNCH ngày hôm qua, đứng giữa trời, bộ đội cộng sản như rừng người, kéo nhau từ xa lại đứng chật cả sân trường, tên đầu đàn đám du kích, tay chỉ vào Chinh, nói lớn là “tên này, là phó huyện của ngụy quyền Thiệu, phản lại cách mạng, nên chính quyền cách mạng quyết định xử bắn hôm nay”, tên bộ đội chỉ huy, bước tới gần Chinh, nhìn nhưng không nói gì rồi lùi lại chỗ hắn đứng khi nãy, tên du kích cùng lúc cũng lùi lại, sửa tư thế đứng, loay hoay dơ cây súng AK 47 lên nhắm, chưa kịp làm gì thì trong đám đông, bà hai Thìn, đầu quấn cái khăn vải đen úa màu bạc rách đôi ba chỗ, chạy ùa ra, bò lết xuống, ôm chầm lấy chân của Chinh, khóc bù lu bù loa, quay về phía tên bộ độ chỉ huy, nước mắt ràng rụa, nức nở, thét to “ trời ơi, cháu ơi, ông ơi, đây là cháu tôi, nó mang bệnh điên khùng, lúc mê lúc tỉnh, nó đâu biết gì đâu, nó đâu phải là phó huyện phó tổng gì đâu, ông ơi, ông hỏi dân chúng ở đây đi, ông ơi tội nghiệp cho cháu tôi”, rồi bò tới dưới chân hắn khóc lớn hơn, “tôi lạy ông, cháu tôi, thằng điên mà, xin ông tha cho nó ông ơi, nó điên mà” trong cái mờ mờ của đám lửa cháy gần nửa nhà lồng chợ, mặt bà đầm đìa nước mắt, bà dập đầu xuống đất, trước mặt tên chỉ huy không biết bao nhiêu lần.

    Cuối cùng, tên chỉ huy ra dấu cho tên du kích lùi lại, hắn bước tới sát bên cột cờ, bà hai Thìn, cúi người vội vã theo sau, hắn nói gì đó với bà, bà gật đầu rồi cúi gập người xá xá như lạy trời lạy đất, hắn kéo sợi dây thừng, mở trói cho Chinh, Chinh ngất xỉu, ngã quỵ xuống đất, bà hai ôm chầm lấy anh, vuốt mặt vuốt đầu, miệng lầm thầm “tôi nghiệp ông phó quá”. Tên chỉ huy cùng lính theo hắn và đám du kích bỏ đi từ lâu, quân bộ đội cộng sản bao quanh từ lúc đầu đã tản lần, cũng như đám đông dân chúng không còn ai đó nữa, một vài người đàn bà, phụ bà hai Thìn dìu Chinh về cái chòi tranh, trên bàn Thiêng trước chòi, hai ba cây nhang, không biết bà đốt từ khi nào còn có khói và lửa ưng ửng đỏ. Rạng sáng sớm hôm sau, bà hai Thìn, đưa cho Chinh, cái áo sơ-mi màu nâu bạc thay cái ướt đẩm sương mà anh đang mặc, thúc giục Chinh tìm đường rời khỏi Chơn Thành đi, bà cho biết, “bà ở lại vì là người ở đây, vã lại, già cả “gần đất xa trời” rồi, đi lấy gì mà sống, còn ông phó, ông đâu ở đây được, bọn nó sẽ giết ông, ông đi càng sớm càng tốt”, Chinh ôm chặt tấm thân gầy guộc của bà, bật khóc như một đứa trẻ, bà hai Thìn bùi ngùi khóc theo, Chinh ra trước cái bàn thiêng, gở nửa cây nhang còn xót lại, lửa không còn cháy nữa, chấp tay xá lạy bốn hướng, thầm nguyện với đất trời “ơn cứu tử của bà, con nguyện cắn cỏ ngậm vành, không bao giờ quên và thề sẽ có ngày đền trả ”, bà hai không nghe Chinh nói gì nhưng miệng bà mĩm cười an lòng, một nụ cười ít khi thấy được. Chinh ôm bà lần nữa từ biệt, không nói được tiếng nào, lầm lũi rời cái chòi tranh, còn ướt sủng sương đêm, ươm mùi khói súng, cúi gầm đầu, len theo đám người, có già có trẻ, bồng bế nhau bỏ Chơn Thành giữa đoàn quân bộ đội cộng sản, xe người ùn ùn lên xuống, từ xa nhìn lại, bà hai Thìn vẫn còn đứng nhìn theo, nước mắt Chinh chảy dài xuống môi mằn mặn.

    Theo đoàn người dân di tản, bỏ An Lộc, Chơn Thành, Bàu Bàng, Xóm Rơi, hết đường bộ rồi quá giang xe, Chinh về được tới Sài Gòn sau hơn mười ngày rã rời mệt mỏi, những ngày gần cuối tháng tư 1975. Nhà Chinh, căn nhà gạch nhỏ nằm sâu trong cái hẽm sau lưng hồ tắm Nguyễn Văn Thoại, chạy sâu tới bên kia ngã ba chợ Ông Tạ, do ông bà cô, có cơ sở làm ăn ở Rạch Giá, mua để làm chỗ nghỉ ngơi khi có chuyện về Sài Gòn và Chinh đi học, không còn ai đó nữa, người quen bên cạnh chú thiếm Hải, tốt bụng, coi trong coi ngoài, cho biết ông bà cô đã theo ai đó rời khỏi Việt Nam mấy ngày trước rồi, có gởi lại cho Chinh, cái thơ ngắn dặn dò đôi ba thứ và một mớ giấy tờ, trong đó có tờ khai gia đình và tờ ủy quyền chủ căn nhà cùng bằng khoán đất. Láng giềng, bên cạnh, ngõ sau, hẽm trước, nhà nào nhà nấy cũng rục rịch, bước ở bước đi, cả thành phố Sài Gòn nghẹt thở, nhứt là sau ngày dinh Độc Lập bị tên phi công VNCH phản loạn dội bom. Ông bà cô đi rồi, như vậy Chinh không còn ai là người thân ở đây nữa, hai tiếng trả ơn mà Chinh giữ nó trong lòng, thầm mong có ngày đền đáp xem ra càng mù xa thăm thẳm, ba mẹ Chinh, chết đuối vì tàu chỡ dưa hấu bỏ mối của gia đình, từ Tây Ninh về, bị nước trôn xoáy cuốn chìm, trong một đêm mưa giông to gió lớn, ở khúc sông Vàm Cõ Tây Đông giao nhau miệt Đức Hòa Đức Huệ, năm Chinh vừa mười tuổi. Chinh được vợ chồng bà cô ruột, chị của ba, có hai người con, anh hai đi du học ở Hòa Lan, rồi ở lại làm việc bên đó, chị ba có chồng làm đồn điền trà trên tận Bảo Lộc, mang về Mỹ Tho nuôi dưỡng, cho đến ngày lên đại học. 30 tháng Tư, miền Nam thua cuộc, Sài gòn mất, người người bỏ đi, hàng hàng lớp lớp, cũng như họ, Chinh có mặt ở mọi nơi, từ bến tàu, cổng tòa đại sứ, tới cửa phi trường nhưng không được gì cả, cuối cùng đành làm người ở lại. Rốt cuộc, không muốn cũng không còn cách nào hơn, Chinh vào nhà tù cải tạo của chế độ mới, cùng chung số phận của hơn mấy trăm ngàn đồng nghiệp và quân nhân VNCH các cấp, không may, phải làm người ở lại.

   Được thả, về lại nhà, cũng còn may, trước khi vào tù, Chinh sắp xếp với gia đình chú thiếm Hải, cho mấy đứa con qua ở trông chừng, coi như nhà của họ luôn, nên cái nhà cũng còn đó, và công an phường Nghĩa Phát, nơi Chinh ở, chưa xóa tên trong cái sổ mới, gọi là sổ hộ khẩu, được phép mua nhu yếu phẩm hàng tháng, theo tiêu chuẩn quy định của chính quyền cách mạng, nên chưa phải “đầu đường xó chợ” như một số thằng bạn quen ở mấy phường khác. Sáng thứ hai, sau khi cầm cuốn sổ ra trụ sở công an trình diện đóng dấu như hàng tuần, Chinh lấy mấy thứ mua được hôm đầu tháng, hộp sửa, ký đường, kem đánh răng, đạp xe đạp ra chỗ người mua quen ở chợ Nguyễn Tri Phương bán lại, xong chuyện, trời vừa hâm hấp nóng, bóng nắng trải lưa thưa trên mặt đường Trần Quốc Toản, thấy còn sớm, dắt xe đạp tắt ngang qua chỗ bải rác to sừng sững trước chợ, định băng qua quán cà phê Năm Đường vì mới có chút tiền, kêu ly cà phê, ngồi tìm lại chút dư hương “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”, hai ba người ăn xin ngồi đó, cúi gầm mặt, sau mấy cái nón, rách bương, cái lon thiếc rĩ sét đặt dưới đất, quanh đây, rác ứ bốc lên một mùi hôi khó ngữi. Chinh đứng khựng lại, bà cụ già, ngồi phía ngoài đường, đưa hai bàn tay khô đéc ra, dưới cái nón lá rách tả tơi, đã ngã màu đen đúa, gục gục đầu ba tiếng “xin làm ơn” đứt quảng. Chinh bỏ đại cái xe đạp xuống dựa bên đống rác, vết xẹo, phải rồi vết xẹo hai đường sâu đậm dài, trên cổ tay bà làm anh điếng hồn, kinh ngạc, một vài người đi chợ qua ngang hờ hững nhìn, Chinh ngồi bệt xuống bên cạnh, vừa nắm lấy hai bàn tay bà cụ, vừa cúi xuống thấp nhìn mặt, nốt ruồi son trên mắt trái đã không còn đỏ tươi như ngày đó nữa, bà rụt tay lại, không ngước lên, Chinh bàng hoàng kêu lên “trời ơi, bà hai, bà hai Thìn đây mà” rồi kéo cái nón lá của bà ra, chút sợi nắng sắp vào trưa, xuyên qua mấy chỗ rách, anh ôm chầm lấy bà bật khóc “bà ơi, con đây, thằng ông phó Chơn Thành đây, bà ơi”, bà hai Thìn, lúc bấy giờ mới đưa tay, run run, nhè nhẹ xoa đầu Chinh “ông phó đây sao, ông phó đây sao”, ràng rụa nước mắt.

   Chinh đưa bà hai Thìn về nhà mình ở vài hôm rồi qua bên phường, gặp ông chủ tịch Hà, làm giấy tờ xin phép cho bà tạm trú, để có đủ thời gian lo liệu cho bà về dưới quê, chủ tịch Hà, không lạ gì bà con ở đây, ông nằm vùng cho cộng sản, làm nghề y tá chích dạo, đi chiếc xe vết-pa cũ, nhà ở đâu trên miệt Bảy Hiền, gặp ai cũng vui vẻ tươi cười, ông bà cô Chinh cũng có nhiều lần gọi ông ta tới nhà chích thuốc ho thuốc suyển gì đó, cộng sản vô, bà con ai nấy điếng hồn, không ngờ ông giờ là chủ tịch phường, Chinh cũng nói chuyện, đùa giỡn với ông nhiều lần, khi ở quán cà phê, khi ở tại nhà, một “chú Hà hai chú Hà”. Chủ tịch Hà, kêu cô công an khu vực tên Hoàng, đóng dấu đỏ chói vào tờ giấy, ký tên rồi đưa lại cho Chinh, cười cười mà không nói gì hết. Chinh lang thang, nhập bọn với đám bạn quen, ở tù ra, làm đủ thứ nghề, lê lết khắp đường phố Sài Gòn, giờ đã đổi tên “thành phố HCM” kiếm sống, từ chuyện buôn hàng lậu bến tàu, mua bán bàn ghế tủ giường, xăng nhớt tới bán thuốc tây chợ trời, tuy có vất vã nhưng cũng có chút tiền đủ để hai bà cháu sống qua ngày.

    Đầu thu, sau hôm xin được cái giấy phép đi đường do công an phường cấp, về lại Bến Tranh, thăm mộ ba mẹ, được ông bà cô hai chôn cất ở một khu gò đất trống cao cùng với vài chục ngôi mộ của bà con gần xa khác, tình cờ Chinh gặp lại Quân, khóa đàn anh, trước làm Trưởng trung tâm chuẩn chi tỉnh Bình Long, cùng bị nhốt ở trại tù cải tạo 15NV, được thả sau Chinh chừng hai ba tháng gì đó, tại khu chợ trời Hàm Nghi, lúc anh thử chạy mối tìm máy tàu “đầu bạc, đầu xanh hai ba lốc”, bán cho người Hoa, đóng tàu vượt biên, có tin công an cho phép họ đi theo kiểu “đăng ký bán chính thức”, vì lúc này, thiên hạ đâu đâu chuyện vượt biên đã thành câu nói đầu tiên bàn tới khi gặp nhau, ngoài đường hay trong quán tiệm, đã có rất nhiều người đi lọt, nhà cửa bỏ lại trống trơn, giờ cán bộ, bộ đội có quyền tha hồ giành giựt cái mầy cái tao, chẳng thèm “ôm nhau thằm thiết tình đồng chí” chi cho mệt xác. Quân cho Chinh biết, đang tìm mua cái hải bàn, đã sắp xếp chuyến đi từ Hàm Tân, rủ Chinh theo, không cần tiền vì tàu đánh cá của bà con còn dư chỗ, “buồn ngủ gặp chiếu manh”, Chinh nhận lời ngay, hẹn sẽ phụ giúp chút tiền mua cái hải bàn mà anh đang kiếm, Quân không chịu nhận, hai người ghé cái quán cà phê gần nhà Quân, đầu đường Nguyễn Tri Phương- Trần Quốc Toản, ngồi nhớ lại chuyện đời và bàn thêm số việc cần làm cho chuyến đi trước khi anh đạp xe chỡ Chinh về Nguyễn Văn Thoại, dưới làn mưa lất phất bay như bụi, bất chợt về ngang từ hướng ngã tư Bảy Hiền.
 
 
 

 Chiếc tàu chỡ chừng hơn ba chục người, toàn là người của mấy gia đình bà con thân thuộc, rời Hàm Tân, ra khơi bình yên trong giữa đêm trăng tàn sớm và mưa nhè nhẹ, qua lời giới thiệu, người chú chủ tàu của Quân, tốt bụng cho Chinh được mang theo bà hai Thìn và đứa con trai lớn, thằng Ngân, vừa hơn 15 tuổi của chú thiếm Hải, khi Chinh cho chú thiếm biết chuyện sắp ra đi, một lần nữa, nhờ hai người trông giữ căn nhà, nếu lở có chuyện gì, còn trót lọt thì chú thiếm cứ lấy nó luôn như đã tính toán, Chinh đưa cho Quân hai cây vàng, coi như là phần của thằng con chú thiếm Hải, gọi là phụ tiền xăng nhớt, bà hai Thìn ban đầu nhất định không chịu đi, nhưng nhờ có chú thiếm Hải, vì thương cho tình cảnh đơn độc của bà, khuyên lơn đủ điều, nhất là gởi gấm thằng con, dầu sao có bà họ yên tâm hơn, nói lắm bà mới chịu, trước ngày đi, bà theo Chinh về lại Bến Tranh, đốt nhang trước mộ ba mẹ từ giã, bà hai Thìn tan nát lòng già, cầm nhang trên tay run run xá “xin chú thiếm linh thiêng phù hộ cho thằng Chinh ra đi được tai qua nạn khỏi” mà nước mắt lưng tròng, Chinh ngồi bệt xuống đất khóc theo, ở một phía trời xa cuối gò đất, mây xám xịch lửng thửng, chầm chậm xuống thấp, đâu đây chợt dưng có chút mưa và nước mắt mằn mặn.

    Êm xuôi trên biển hai ba ngày, máy chiếc tàu bị trục trặc, không nổ nữa, đàn ông con trai, xúm nhau mần mò cố làm hết cách nhưng chẳng làm được gì khá hơn, con tàu lặng lẽ thả trôi lênh đênh, nhấp nhô xuống lên giữa muôn ngàn cơn sóng dữ suốt mười ngày đêm, nước uống cạn dần, ai nấy nhìn nhau không biết nói gì và cũng không biết phải làm gì, chỉ còn cầu nguyện đất trời thương xót. Thằng Ngân bị say sóng, cũng như bà hai Thìn, ói mửa mấy ngày liền, hơn nửa số người trên tàu dần dần kiệt sức, cũng như mấy người đàn ông khác trong đó có Quân, Chinh để phần nước uống, đong chưa đầy cái nắp bình ni-lông đựng, phần của mình, cho bà hai uống, thùng khoai lang luộc chín, mang theo từ lúc ra khơi, tính quá dư cho bốn năm ngày, giờ còn không hơn một phần tư. Ông chú chủ tàu vẫn bình tỉnh, an ủi mọi người, số phần chưa sao đâu dù ngày đêm tháo ra gắn vào cái máy tàu quái ác, không chịu nổ. Rạng sáng ngày thứ mười lăm, mặt trời đỏ rực trên biển cả, bà hai Thìn, yếu quá, không còn nhúc nhích, mắt bà nhắm nghiền, Chinh lựa chút khoai nát, đem đến chỗ bà nằm, cố lấy sức nâng đầu bà lên, Chinh buông tay thét lớn, “bà ơi, bà ơi”, mọi người rã mệt nhưng cũng ráng lết tới, xúm lại lắc tay lắc chân, tay chân bà lạnh ngắt, môi khô  bầm, bà hai Thìn đã chết tự lúc nào rồi, Chinh thẩn thờ như kẻ mất hồn, nhìn ra ngoài xa, mắt chết trân, lầm thầm “con chưa đền trả được ơn sâu, sao bà bỏ đi sớm vậy, bà hai ơi”. 

Không còn cách nào hơn, trừ gần hai phần ba người mệt lã, yếu ớt, nằm thoi thóp dưới khoang tàu, mấy người khác, trong đó có Quân, có Chinh, còn có được chút ít sức lực, đồng quyết định, sắp xếp thi thể bà hai Thìn, sửa lại áo quần ngay ngắn, quấn bà trong một cái mền cũ, nặng mùi muối biển, mang xác bà lên sàn đầu mủi chiếc tàu, ngồi quanh, lầm thầm khấn vái, Chinh sướt mướt khóc, mân mê đôi bàn tay xám ngắt, lạnh cóng của bà, vuốt mặt lần cuối, thả dây buông nhẹ xuống, sóng từng đợt cao vót, nhịp từng nhịp, nhấp nhô cuốn xác bà hai trôi ra xa rồi mất hút, Chinh rươm rướm mắt, nhìn theo, ngậm ngùi nói thầm “bà tha lỗi cho con, thôi bà hảy yên lòng đi về với trời với đất, xin cho con được đền đáp ơn bà ở kiếp sau”. Xế chiều hôm đó, mây đen nghịt cả một trời trên biển, sóng im đôi chút, gió nổi như sắp có giông to, tàu của Chinh, được một chiếc thương thuyền Anh to lớn, cao hơn cả cái cao ốc, cả chục tầng lầu, đèn đuốc sáng trưng cứu rồi đưa họ đến cảng Kagosima của Nhật vài ngày sau, may kịp lúc, nếu không chắc thằng Ngân khó lòng sống sót, vì nó đã lấy hơi lên và không còn cử động nữa rồi.
 
 

     Lòng chùng xuống, buồn dâng lên trong hồn khó tả, Chinh ra khỏi nhà, nắng bỗng dưng xuống thấp phía dưới phố chính, đi dọc trở lại con đường cũ, đến ngã tư đường Nagayamte-Tor, trời nỗi gió mang theo dăm ba cụm mây xám xịch, xác hoa anh đào rụng tơi tả một màu trắng xóa hai bên lề đường, ngay chỗ bà cụ già người Nhật gánh giỏ rau hồi sáng sớm, Chinh lặng thinh, nhìn đăm đăm xuống đường, tiếng đèn báo hiệu qua đường kêu lên rồi tắt, đã nhiều lần, anh vẫn đứng ở đó, bất động như một thân tượng đá, đứa con gái đạp xe đạp, chỡ theo mấy cành hoa tím trong cái giỏ phía trước, chạy ngang qua, nhìn Chinh làm dấu chỉ đèn, cách đó khá xa rồi mà cũng còn quay lại, Chinh cúi đầu, nghèn nghẹn chào, ở dưới nhà ga Sannomiya, Chinh ray rứt nhìn theo chuyến xe lửa về ngang Nara, vừa rời nơi đó, bùi ngùi nói thầm “ngày mai mình đi Nara”.

Thuyên Huy

 

 

 

Họa Bài Thơ Chạnh Lòng Của Nguyễn Cang - vkp Phượng ngày nay


HỌA BÀI THƠ CHẠNH LÒNG của Nguyễn Cang

 


 















CHẠNH LÒNG


Thế sự thăng trầm khéo vẽ trò
Chạnh lòng lữ thứ phải âu lo
Thương người nhẹ dạ thân lầm lỡ
Xót kẻ mềm lòng tiếng nhỏ to
Sống kiếp đong đưa, mùa gió chướng

Về quê câu cắm, cá lò tho
Tỉnh ra mới biết đời hư ảo
Nhàn rỗi xem phim trận đấu bò.


Nguyễn Cang

Họa 1:

GỞI NGƯỜI XA XỨ

 
Saigon giải trí có nhiều trò
Hưởng thụ vui chơi... hết thấy lo
P háo nổ tưng bừng chào đón Tết
Ngàn hoa đua sắc nở bông to
Chúc người xa xứ trăm năm tuổi
Đừng nhớ thương chi kẻ lỡ tho (thua)
Gối mõi lưng còng tai lảng đãng
Đến khi gặp lại... hai chân bò!!!

Vkp phượng ngày nay

Họa 2:

DÒNG XOÁY CUỘC ĐỜI

 
Thuở nhỏ ngu ngơ bày lắm trò
Cơm ăn áo mặc chẳng cần lo
Tuổi trăng tròn sớm yêu hoa biển
Dòng xoáy đời giông bão sóng to
Dấn bước sang sông tìm tổ ấm
Lui về chôn giấu chuyện buồn tho
Bảy lăm năm trước... cơn mơ ảo
Còn lại phần tư... sợ phải bò!!!

Vkp phượng ngày nay

 

 

 

Trai Petrus Ký Gái Gia Long - Lê Văn Nghĩa


Trai Pétrus Ký, gái Gia Long
 



 

Ngày ấy, trên toàn miền nam, đồng phục cho nữ học sinh là áo dài trắng, quần trắng (hoặc đen), nam học sinh là quần xanh, áo trắng và đeo phù hiệu mang tên trường trên áo. Không có đồng phục cho riêng từng trường như bây giờ. Học sinh các trường trung học công lập học 7 năm (từ đệ thất lên đệ nhất- lớp 6 -12) không phải đóng học phí vì đã đậu kỳ thi tuyển vô cùng khó. Lúc ấy, chỉ có trường trung học công lập Mạc Đỉnh Chi nam sinh và nữ sinh học chung.

“Thiên đàng mơ mộng” của những cậu học trò tóc hớt ngắn, quần xanh áo trắng là… nơi các nữ thiên thần áo dài trắng túa ra như chim bồ câu sau giờ tan học của trường nữ Gia Long (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai).

Bấy giờ, có cậu học sinh Pétrus Ký nào chẳng mơ được “mần quen” cùng một em Da Lợn nhỉ. Xin nói ngay, “Da Lợn” là cái biệt danh vui dành cho nữ sinh trường Gia Long, do học sinh các trường khi ấy tự đặt cho nhau bằng cách “đọc trại tên” dí dỏm, hoàn toàn không có ác ý hay xúc phạm gì cả. Thí dụ Petrus Ký là “Bê lắc Ký”, Chu Văn An là “Chết vì ăn”, Trưng Vương là “Trứng Vữa”, Võ Trường Toản là “Vỏ trứng thúi”, Mạc Đĩnh Chi là “Má đi chợ”…

Các trường gom biệt danh lại, có thể ghép thành câu vè “Má đi chợ, mua bê lắc ký, da lợn nhưng lại toàn trứng vữa và vỏ trứng thúi…”.

Trở lại với “thiên đàng mơ mộng” Da Lợn nhé. Phía bên hông cổng trường Gia Long, trước cổng chùa Xá Lợi, “cạnh tranh” với những chiếc xe bán bò bía, gỏi đu đủ là những chàng áo trắng Pétrus Ký “đang gửi hồn qua cánh cổng” thâm nghiêm có từ năm 1915 với cái tên thơ mộng “Trường nữ sinh Áo Tím”.

Nghe kể lại, trường được thành lập do sự đề nghị của Nghị viên Hội đồng quản hạt Nam kỳ Lê Văn Trung cùng vợ của Tổng đốc Phương và một số trí thức người Việt với chính quyền thực dân Pháp. Khóa đầu tiên (1915) trường tuyển 45 nữ sinh với đồng phục là áo dài tím tượng trưng cho sự tinh khiết của phụ nữ Việt.

Từ khi thành lập các đời hiệu trưởng toàn là người Pháp nhưng vào năm 1949 nữ sinh trường Áo Tím cùng nam sinh sinh trường Pétrus Ký tổ chức bãi khóa kỷ niệm ngày Nam Kỳ Khởi nghĩa nên chính quyền đã đóng cửa trường.

 
 
 


Năm 1950, sau một cuộc đấu tranh, biểu tình dài ngày với sự ủng hộ của phong trào học sinh lúc ấy trường được mở cửa lại. Và đánh dấu sự kiện quan trọng nầy, sau 7 đời hiệu trưởng trường là người Pháp, lần đầu tiên trường có nữ hiệu trưởng là người Việt: bà Nguyễn Thị Châu.

Năm 1953 trường Áo Tím đổi tên thành trường nữ trung học Gia Long. Áo dài tím được thay bằng áo dài trắng với phù hiệu là bông mai vàng. Chương trình giáo dục bằng tiếng Pháp được chuyển sang quốc ngữ.

Có phải “mối tình” gắn kết tranh đấu của Áo tím và sau đó Gia Long trong những năm về sau đã gắn kết “Trai Pétrus Ký, gái Gia Long” một cách mặc nhiên trong những mối tình thật và ảo của lứa tuổi học trò? Chỉ biết rằng những chàng trai Trai Pétrus Ký luôn mơ về “thiên đường” tuổi nhỏ dại của mình, đến bây giờ tóc gần bạc hết như tôi vẫn còn hoài nhớ.

Sài Gòn, cùng với những trường nữ trung học công lập Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt, Sương Nguyệt Anh cũng còn “trắng trời áo dài” với những trường nữ trung học tư khác như Thánh Linh, Hồng Đức… đã hốt hồn những chàng trai mặt nổi mụn trứng cá và vỡ giọng ngày xưa với những ước mơ “áo ai trắng quá, nhìn không ra”…

Những cô nữ sinh ở những ngôi trường ấy đã là một phần hồn của Sài Gòn. Cám ơn Sài Gòn đã có những ngôi trường “thiên đàng tuổi nhỏ” dành riêng cho chàng trai mơ về những mái tóc, những chiếc áo dài trắng vờn bay, vờn bay…

Nhiều thập niên trước ở Sài Gòn, mỗi năm đến gần dịp tết nguyên đán, học sinh các trường trung học đều làm một tờ báo xuân, in typo chữ chì hẳn hoi để bán cho học sinh trong trường xem như là kỷ niệm đời học sinh. Sau đó, Ban đại diện học sinh lập thành từng nhóm đi đến các trường bạn để bán báo xuân dạo.

Dưới đây là trích đoạn trong truyện Mùa Hè Năm Petrus của nhà văn Lê Văn Nghĩa viết về chuyện bán báo xuân của học trò nam trường Petrus Ký và trường nữ trung học Gia Long.

***

Đâu phải chỉ có mình thằng Dũng hồi hộp khi được bước vào ngôi trường nữ trung học Gia Long cổ kính đầy những tà áo dài trắng mà cả những anh lớn thuộc loại ăn nói hùng hồn, đầy tính triết học như anh Quân trưởng khối báo chí của trường.

Chị trưởng khối báo chí của trường Gia Long đón tiếp phái đoàn học sinh bán giai phẩm xuân của trường nam trung học Petrus Ký rất thân tình và trân trọng. Chị tên là Trâm, người mỏng manh, mái tóc dài bỏ lửng xuống bờ vai.
 
 

Ngồi trong phòng hiệu đoàn học sinh để chờ giờ ra chơi chị Trâm hỏi anh Quân:

– Nghe nói chủ đề báo xuân năm nay của trường Petrus rất hay… Hình như giáo sư hướng dẫn báo chí của các anh là giáo sư Vũ Ký…

Nó – người Petrus – cảm thấy tự hào. Phải tự hào chứ ngồi hội đàm cùng “địch quân” mà! Người Gia Long vẫn tiếp tục lịch sự hạ mình:

– Thật ra cái nghe viết văn làm thơ là của mấy anh thôi. Nhà thơ, nhà văn toàn là nam giới thôi chứ nhà thơ, nhà văn nữ thì đếm trên đầu ngón tay. Anh biết tại sao không?

– Chắc tại phái nam có tài hơn phái nữ.

– Hổng phải anh ơi. Tại phái nam toàn bị phái nữ cho leo cây không? Mấy ổng về, mấy ổng thất tình nên làm thơ hay vậy mà…

Tiếng chuông báo giờ ra chơi vang lên trong không khí im lặng, tĩnh mịch của ngôi trường rêu phong, mang đậm màu hoài cổ của thời gian , như cái kim nhọn chọc vỡ cái bong bóng.

Tiếng òa vỡ, rộn ràng trong ngôi trường mang tính đầm thắm dịu dàng và kỷ luật nghiêm nhặt cũng không khác gì tiếng reo vui của dân Petrus sau khi tiếng chuông báo hiệu giờ ra chơi.

Khác với học sinh tiểu học, giờ chơi của những học sinh trung học không có nhảy lò cò, đánh đáo, bắn đạn, tạt lon mà chỉ là những đôi bạn, những nhóm đứng nói chuyện, chạy xuống quày bán hàng trong trường để mua bánh, nước ngọt…

Quầy bán giai phẩm xuân được đặt chính giữa sân trường. Trên bàn là những chồng giai phẩm xuân được đặt ngay ngắn để giới thiệu cái bìa báo màu xanh da trời với màu cam tươi in đậm chữ giai phẩm xuân PetrusKý và một gương mặt cằn cỗi bị bao quanh bởi nhưng hàng gào giây kẽm gai, le lói từ xa là ánh mặt trời đỏ tía.

Trưởng Ban báo chí trường nữ trung học Gia Long phát biểu trước máy vi âm:

“Hôm nay học sinh trường nam trung học hiệu đoàn Petrus Ký…”

Cô mới nói tới đó thì tiếng vỗ tay vang lên rào rào, làm các cu cậu sướng tê người. Người Gia Long ái mộ người Petrus quá ! Bọn Chu Văn An đừng có tưởng bở. “Trai Petrus, gái Gia Long” vẫn là số dách.

“…đến trường ta để giới thiêu và bán giai phẩm xuân. Mong các bạn ủng hộ, trước mua vui, sau làm nghĩa. Giờ ra chơi sẽ kéo dài thêm 10 phút nữa để các bạn mua báo xuân…”.

Anh Quân hắng giọng, nói trước micro:

“Thưa các bạn, ông bà ta có câu “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Báo chí xuân học sinh như là những miếng trầu thân ái, mở đầu những câu chuyện thân tình của những người bạn với nhau. Hôm nay, học sinh Petrus chúng tôi nhân mùa xuân về, đem miếng trầu cay đến để giới thiệu với những người bạn gái Gia Long những tình cảm chân thành.

Mai đây, rồi chúng ta sẽ rời bỏ ngôi trường yêu dấu của mình để tung bay vào vạn nẻo đường đời nhưng những kỷ niệm đời học sinh sẽ vẫn còn mãi vì nó được ghi đậm bằng những áng văn chương thời học sinh, lưu trên trang giấy…”

Tiếng vỗ tay, khen ngợi không ngớt. Các cô gái Gia Long bình phẩm:

“Anh này nói hay y như diễn giả vậy ta!”, “Nghe muốn rụng rún luôn”, “Coi cũng bô giai hé mấy bồ..”, “Y như “Alen đờ lá”, em của Alen-đờ-lông (Alain Delon) tụi bay ơi…”

Thằng Dũng không ngờ anh Quân nói hay như vậy. Giọng nói nhẹ nhàng, như ru ví tờ giai phẩm Xuân như miếng trầu để mở đầu câu chuyện với các em Gia Long .Tiếng chòng ghẹo vẫn vang lên sau lưng của Dũng:

 “Sao dân Bê-lắc-Ký mà ốm nhom như thằng ghiền vậy”.

Thằng Dũng nghe nóng ran lỗ tai. Nó biết rằng mấy “em” Gia Long đang chọc nó. Ai nói con gái hiền như “sương khói chiều giăng” đâu.

Từng cánh tay đưa ra với tờ 10 đồng để đón nhận tờ giai phẩm. Có cả những đồng tiền keng. Phải chăng đây là những đồng tiền nhịn ăn sáng, tiết kiệm để mua những món quà dành riêng cho nữ giới, bây giờ lại được dùng để ủng hộ tinh thần mùa xuân văn nghệ.

Bỗng có tiếng gọi: “Ơ… ơ… Dũng… Dũng cũng qua đây bán báo nữa hở?”

Lồng ngực nó rộn lên. Nó nghe nóng bừng mặt. Cuối cùng điều nó chờ đợi cho buổi bán báo này cũng đến. Nhưng để tỏ ra mình thuộc loại có tầm cỡ, nó im lặng, tiếp tục bán báo, coi như pha cú nhận người quen của con bé Xuân Chi.

“Dũng… Dũng có viết bài trong giai phẩm không… cho Chi xem với”.

Mặt nó như vênh lên, giọng nói bỗng dưng rất phiêu bồng: “Có. Trong giai phẩm có đăng của Dũng một bài thơ…”

Con bé Xuân Chi, lắc lắc hai bím tóc, lật lật mấy trang báo hỏi: “Đâu đâu, chỉ cho Chi xem với…”

Lúc này thì thằng Dũng không còn lo bán báo, không còn bận tâm đến những cô bé Gia Long đang chờ để mua báo. Nó đang tự chiêm ngưỡng kỳ công của nó là bài thơ Khói sương đang được Xuân Chi cắm cúi đọc.

Một cô bé khác, đang đứng cạnh Xuân Chi, cũng chúi mũi vào đọc ké, rồi phát biểu oang oang: “Đúng là thi sĩ …ròm”.

Xuân Chi móc tiền trong chiếc ví cầm tay nhỏ ra đưa cho nó: “Dũng bán cho mình tờ báo đi, nhớ ký tên ngay bài thơ nha…”

Dũng sốt sắng: “Ơ… ơ… Dũng tặng cho Chi tờ báo xuân… Chi không cần phải mua. Dũng ký tên ngay đây, ngay dưới bài thơ”.

Như vậy là chuyến đi vào trường Gia Long bán báo xuân, đối với Dũng là một thành công ngoài mong đợi. Trường Gia Long có Xuân Chi. Có một cô bé hàng xóm ngày ngày đi qua ngõ nhà của Dũng. Không chào nhau. Chỉ liếc nhìn.

Cả hai đang đọ sức lẫn nhau như trường Gia Long đang đọ sức với trường Petrus ký. Một cuộc đọ sức giữa những “địch quân” nhưng lại vô cùng tình thương mến thương âm thầm từ truyền thống “Trai Petrus, gái Gia Long”.

Tờ báo xuân – trong đó có bài thơ con cóc của Dũng – đã trở thành miếng trầu giao duyên giữa Dũng và cô tiểu thư trong cái xóm nghèo của nó.

Mặc dù buổi giao duyên trầu cau này có thể làm nó nhịn quà sáng. Mà như vậy vẫn còn quá rẻ. Nếu có thể tốn kém hơn, nó vẫn chấp nhận. Khi đã trở thành thi sĩ rồi thì nó chẳng màng đến chuyện ăn, nghe vô cùng phàm phu tục tử.

Theo Lê Văn Nghĩa (Tuổi Trẻ)

304Đen – Llttm -dsg

Chuyện Ở Thị Trấn - Nguyễn Đình Liên


Câu Chuyện mùa Giáng Sinh – CHUYỆN Ở THỊ TRẤN

 


 

Căn cứ nằm trên ngọn đồi thấp, nhìn xuống con đường nhựa. Con đường này là một nhánh cụt từ phía quốc lộ chạy vào và chấm dứt ở khúc quanh ngay đầu thị trấn. Phía bên kia con đường là những độn cát trắng xám, bẩn thỉu nằm nhấp nhô giữa bụi cây dại và một nghĩa trang của Giáo Xứ . Xa hơn một tí, là một cái xóm lưa thưa vài ba nóc nhà nằm dựa lưng vào chân núi. Nhìn lui phía sau, cũng vẫn những độn cát và xa hơn nữa và nếu đứng một chỗ cao hơn thì có thể thấy, là biển.

Cuối tháng 12, mưa dầm. Từ trên vọng gác ở cổng chính, nhìn xuống, nhất là vào buổi chiều, người ta có cảm tưởng đang đứng giữa một bãi tha ma lạnh lùng. Trong cái hoang vắng đó, bầu trời và mặt đất khó có thể phân biệt được, giữa những đám mây nặng nề đầy hơi nước, và những cồn cát xám trải dài phía dưới tựa hồ như đan dính với nhau qua một màn mưa trắng đục. Tiếng động duy nhất lúc bấy giờ, có thể nghe được, ngoài trừ những tiếng chửi thề tục tĩu của đám lính đang quay bên sòng xì lát vọng lên từ cái chòi phía dưới, là tiếng nuớc mưa rơi đều đặn xuống mái tôn trên nóc vọng gác. Và, chỉ có thế, ở đây, mùa mưa như bất tận, kéo dài, ngày này qua ngày khác.

Ngày tôi mới thuyên chuyển đến, ông Trung sĩ Thường vụ nói . Ở đây như một hòn đảo nhỏ giữa biển mênh mông, chẳng ai thèm để ý, quân địch cũng chẳng thèm mò đến, nói chi đến ai.

Cái hòn đảo nhỏ ấy chứa khoảng một đại đội lính, làm nhiệm vụ bảo vệ Thị Trấn cùng cái con đường lở lói đi vào cái Thị Trấn ấy. Nhiệm vụ thật mơ hồ, bởi vì ai cũng biết quân địch có điên mới tính chuyện đánh vào đây. Địa thế trống trải, chung quanh toàn cồn cát, núi thì xa, biển thì gần, việc di chuyển quân dễ bị phát hiện chưa kể đánh vào thì không có đường rút ra, rất dễ trở thành mục tiêu cho máy bay. Nên việc bảo vệ Thị Trấn, cũng chỉ là một nhiệm vụ có tính nguyên tắc. Mỗi 3 ngày mới có một chuyến xe đò chở hàng vào Thị Trấn và mỗi tuần mới có một chuyến trực thăng hay xe chở đồ tiếp tế hoặc lương tiền cho căn cứ. Con đường thường ngày trông hiu quạnh như cái Thị Trấn mà nó dẫn đến, năm khi mười họa mới có vài chiếc xe đạp, chiếc Honda chạy qua lại. Mỗi buổi sáng, một trung đội lính đi mở đường vào Thị Trấn, mở đường tức là đi dò, coi thử có thằng khùng nào đem mìn đến chôn ở đây hay không, toán lính đó đi một mạch đến chiều tối mới về sau khi nhậu nhẹt đã đời trong mấy quán rượu. Chiến tranh bỏ sót nơi chốn này, như ông Trung Sĩ già, ngồi ở trại lính mà như ngồi ở trại an dưỡng chờ ngày về hưu, nói lè nhè: Ở đây không có đánh nhau, chỉ có đánh ghen, đánh bài, đánh số đề.

Quên nói chuyện, trong Thị Trấn còn có một nhà thờ nhỏ.

Tôi nói với Thụy

Em ở đây không thấy buồn sao ?

Tất nhiên là không vui, nhưng cũng thấy không buồn, mà anh hỏi làm chi vậy ?

Hình như từ ngày sinh ra đến giờ, cô gái xinh xinh ấy chưa bao giờ được ai hỏi về chuyện cuộc đời này buồn hay vui cả. Buồn vui không thành vấn đề, vấn đề đáng nói là chiến tranh không có mặt ở đây. Khoảng từ 500 đến 600 cư dân lớn nhỏ cư ngụ trong chừng 100 nóc nhà kéo dài hai bên đường hằng ngày, sống ngoan ngoãn và vô tư bên cạnh cái nhà thờ nhỏ nằm thụt sâu phía trong, chắc họ cũng có cùng một ý nghĩ như cô gái đó. Chỉ có một người không bao giờ muốn chấp nhận cuộc sống an phận như thế là Bà Tư mập. Bà Tư goá chồng, bán bún bò, đại lý vé số, đồng thời cũng là chủ số đề duy nhất trong Thị Trấn. Tôi biết bà Tư, thậm chí còn rất thân với người đàn bà này, không phải vì tôi vẫn thường dẫn lính vào ăn bún bò, uống ruợu, mua vé số đánh số đề, mà vì bà Tư chính là mẹ của Thụy. Bà Tư đến lập nghiệp ở Thị Trấn cách đây 8 năm, hồi Quân Đội Mỹ còn đóng ở căn cứ này. Lúc đó bà mở một cái Bar bán rựơu và Thụy chỉ là một cô bé mới mười tuổi. Khi Quân Mỹ rút đi, bàn giao căn cứ cho đơn vị Địa Phương Quân, thì cái Bar của bà Tư cũng tụt xuống trở thành một cái quán bán bún bò. Ngoài việc bán bún bà còn bán vé số và chủ số đề.

Gần mới đây nhất, tôi gặp bà Tư khi bà đi lễ về, buổi sáng Chủ Nhật, cạnh con đường nhỏ đi vào sân nhà thờ. Bà nói lại, điều bà đã từng nói với tôi hàng chục hàng trăm lần, trước kia. Tội nghiệp cho con bé, ở đây miết nó ế chồng mất. Bất cứ người mẹ nào cũng băn khoăn giùm cho con mình về chuyện này. Nhưng đối với bà Tư thì là chuyện khác, với người đàn bà này, có thể một ngày nào đó bà sẽ dọn lên Tỉnh ở, nhưng chắc chắn, không phải vì lý do sợ đứa con gái ế chồng. Tôi đã từng nghe người ta kể lại chuyện mụ đàn bà goá này nói với ông Cha ở nhà thờ, một câu nói trứ danh như sau :Ở đâu có chiến tranh, ở đó mới có sự sống. Ở đâu có sự sống, ở đó có conSự sống đó là những đồng tiền rút ra từ vỏ đạn phế thải, đồ hộp, rác Mỹ, gái điếm, hộp đêm, những đồng đô la xanh đô la đỏ và có thể ngay cả trên những xác chết. Trong Thị Trấn này, thiếu vắng chiến tranh, tức là thiếu những cái nói trên, và đối với mụ đàn bà goá này, cũng có nghĩa là thiếu vắng sự sống..Mặc dù tôi không ưa mụ đàn bà này, nhưng tôi cũng đồng ý về chuyện ở đây miết, nó ế chồng mất. Đàn ông trong thị trấn chỉ chiếm chừng1/5 dân số, trong đó hết 2 phần 3 là ông già, số còn lại, hầu hết đều có vợ con. Thanh niên con trai độc thân không còn ai. Lớp đi lính ở xa. Lớp bỏ lên Tỉnh sinh sống. Thụy như một bông hoa lẻ loi nằm trong một khu vườn hoang vu, cằn cỗi, không bướm ong lai vãng, chỉ có vài con dế đen thui cộc cằn bò dưới đất..

Cũng giống như mùa mưa, mùa Giáng Sinh đến, âm thầm, lặng lẽ. Chỉ có vài dây đèn xanh đỏ treo trước cổng vào nhà thờ và một Hang Giáng Sinh cũ kỹ nằm phía trước. Buổi sáng, một số giáo dân tụ họp trước nhà thờ quét dọn, làm vệ sinh, chuẩn bị cho buổi lễ chính đêm nay. Tôi gặp Thụy, sau khi nghe tin Hạ Sĩ Tùng bê luôn cả tháng lương mới lãnh chiều hôm qua nạp cho bà Tư mập để mua một con số. Đó là tin giật gân lúc sáng sớm theo toán lính đi mở đường. Hạ Sĩ nhất Tùng, 32 tuổi, gốc người ở Thị Trấn, nhưng lưu lạc giang hồ từ lúc nhỏ , một hay hai vợ gì đó không rõ lắm, 5 con 3 trai hai gái, đi lính 10 năm nhưng mới lên đến Hạ Sĩ vì nhiều lý do. Bỏ phiên gác, đi phép trễ, trốn đơn vị đi chơi, nhưng nói chung, đó chỉ là những cái tội lặt vặt. Cái tội quan trọng nhất đó là tội mê … số đề. Vợ con Tùng ở khu Gia Binh trên Tỉnh, mỗi tháng lật đật theo xe tiếp tế xuống, mục đích nhận lương của chồng cho kịp trước khi anh ta đem nướng hết vào mấy con số đề. Tùng tuần nào cũng ra ghi số đề ngoài quán bà Tư. Tùng đánh rất bạo mỗi con số anh ta có thể chơi nguyên luôn nửa tháng lương. Nhưng thường thường anh ta chỉ đánh một con số, và không nhất định con số nào, có thể là con số bất chợt nào đó hồi hôm vừa nằm mơ thấy, hoặc con số trên chiếc trực thăng mới xuống tiếp tế hồi đầu tuần, hay một con số vớ vẩn trong một cái am cạnh vọng gác mà anh ta ngày nào cũng ra khấn vái. Tôi đem chuyện đó ra nói với Thụy.

-Bà già của em ác quá, bà dám bán một con số để lấy luôn cả tháng lương của người ta

-Bây giờ làm sao ? Cô gái hỏi, một cách hiền lành

-Thì nói với bả trả tiền lại cho vợ con người ta mua gạo ăn chứ sao

-Không biết kịp không, chiều nay xổ số rồi

Cô gái không nói thêm nữa, đứng yên lặng nhìn lên cây Thánh giá trên nóc nhà thờ. Mưa rơi lất phất. Phía dưói sân tôi thấy những bóng người đang lặng lẽ làm việc. Những bóng dáng nhỏ bé chậm chạp đi lui đi tới bên cạnh hang đá, hay quét rác, treo đèn trên bậc thềm, trông vừa tội nghiệp vừa buồn bã. Tôi quên hẳn việc Hạ Sĩ nhất Tùng đem nguyên cả tháng lương để mua một con số hồi chiều qua.

Bỗng nhiên tôi hỏi

-Tại sao em không lên Tỉnh mà sống ?

Nàng nhìn tôi, cười. Khi nàng cười, trông càng không giống mẹ nàng chút nào. Nụ cười ấy, phảng phất một chút buồn dìu dịu, hay nói theo văn chương, là vô cùng thánh thiện, cái nụ cười chỉ gặp được trên môi của các vị thiên thần mà ta hay thấy trên các bức tranh treo trong nhà thờ. Khi nhìn nụ cười ấy, tôi nghĩ tốt hơn hết là mình nên im lặng. Bước ra khỏi nhà thờ, quay lui lại, vẫn thấy Thụy đứng trong màn mưa, nhìn lên cây Thánh Giá. Cái bóng dáng nhỏ bé của Thụy đứng chìm lẫn giữa những bóng dáng nhỏ bé khác, bên cạnh, tất cả như trong một bức tranh, nhưng đó là một bức tranh chỉ có một màu duy nhất, đó là màu xám. Năm trăm con người đang sống trong cái bức tranh đó, có vẻ gần như cô lập với thế giới bên ngoài, cái thế giới đầy màu sắc, hào phóng, nhưng cũng rất hung ác. Vậy thì tốt hơn hết, Hãy để cô bé vẫn tiếp tục sống, nhìn ngắm cuộc đời mình trôi qua trong bức tranh lặng lẽ kia. Cái cuộc đời không cần niềm vui, nhưng cũng chẳng biết thế nào là nỗi buồn.

Buổi trưa, tôi kêu cả hai thằng lên Ban Chỉ Huy Đại Đội, bắt tường trình tỉ mỉ về câu chuyện ngày hôm qua.

Binh nhất Tí và Binh nhì Hưng khai như sau: Tối hôm trước, ở vọng gác số 2, lúc nửa đêm, cả hai thằng bắt gặp Hạ Sĩ Tùng đang thắp hương khấn vái. Biết Tùng đang xin số đề, Tí và Hưng bàn nhau chơi khăm viên Hạ Sĩ. Chờ Tùng mãn phiên gác, Tí lấy một viên gạch viết một con số mờ mờ trên miếng xi măng ở vọng gác, cạnh chỗ anh ta đứng khấn vái. Buổi sáng hôm sau, Tùng phác giác ra con số này, và tất nhiên không hề biết mình bị hai thằng lính chơi xỏ. Sẵn số tiền lương 12 ngàn đồng vừa mới lãnh trong khi vợ con trễ xe đò chưa lên kịp, Tùng chạy ra Thị Trấn đến nhà mụ Tư Mập, lấy toàn bộ tiền lương đánh ngay con số đó. Thằng Hưng nói: Đó là con số 323. Tùng đánh con số này, bao đuôi. Nếu trúng, tiền chung sẽ lên tới 1 triệu 2 trăm ngàn đồng.

Tôi cho tập họp toàn bộ Đại Đội trình bày tất cả sự việc và báo cho Tùng biết cái con số 323 kia đó là do hai thằng Binh nhất Tí và Binh nhì Hưng bày đặt ra, ghi trên lô cốt chứ không phải ông Thần bà Thánh nào cho cả. Tùng nghe xong muốn nổi điên lên. Tất nhiên chuyện lỡ rồi hắn không thể chạy đến níu áo mụ Tư mập đòi lại số tiền 12 ngàn đồng kia được.. Nhưng cuối cùng, tôi cũng đã có cách giải quyết. Tôi và viên Trung Sĩ Thường vụ cố gắng thuyết phục cả đại đội giúp đỡ cho Tùng, nghĩa là tùy theo lòng hảo tâm từng người… Mỗi người sẽ bỏ ra ít tiền mua lại con số 323 đó ở Hạ Sĩ nhất Tùng. Kết quả khả quan, Tùng thu lại gần như đủ số tiền 12 ngàn đồng kia. Mọi việc coi như xong.Sau đó tôi tuyên bố, toàn đơn vị cắm trại 100%. Lệnh này tôi nhận được cách đây vài giờ, từ Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn. Nửa đêm, lễ Giáng Sinh, Tôi lên chòi gác bắn lên trời vài loạt đạn cho vui. Nhìn về Thị Trấn, thấy toàn một màu đen. Mưa vẫn rơi lất phất. Khi tôi chuẩn bị đi ngủ, bỗng nhiên ông Trung Sĩ Thường vụ tới, khều tôi nói nhỏ : Ông hay gì chưa ? Tui vừa nghe trong ra dô, Con số 323 trúng rồi, lô độc đắc

Tôi không bao giờ gặp lại Thùy.

Buổi sáng như thường lệ, theo trung đội mở đường vào Thị Trấn. Tôi mới biết, đêm qua, hai mẹ con bà Tư Mập, dọn quán đi mất tiêu.

Nguyễn Đình Liên

304Đen – Llttm -dsc