Tuesday, November 22, 2022

Biết Người Đi Không Về - Thuyên Huy

Biết Người Đi Không Về




 










Tôi biết người đi sẽ không về

Chiều thu mưa cũng dài lê thê

Như những ngày chờ người đầu phố

Ngại ngùng không dám nói năng chi

 

Lâu rồi mà vẫn cứ thương thầm

Đêm dài thao thức mộng trăm năm

Cổng nhà người giàn hoa giấy đỏ

Ngõ qua tôi đứng nép lặng câm

 

Người tiếc làm gì một tiếng chào

Dù sao mình cũng đã quen nhau

Đường xưa cũng là con đường cũ

Lạnh lùng tôi một nửa hồn đau

 

Phố nhỏ từ nay đã biết buồn

Buồn như vạt nắng muộn hoàng hôn

Của một chiều thu tà áo tím

Chung đầu mình che giọt mưa tuông

 

Tôi biết người đi sẽ không về

Đường hoa mộng đó đường người đi

Ngõ xưa sẽ không là lối cũ

Thêm lần tôi làm kẻ tình si

 

Thuyên Huy 

"Chú Tư Cầu" Lê Xuyên - Nguyễn Thụy Long

 

“CHÚ TƯ CẦU” LÊ XUYÊN

 

Viết hồi ký, viết hoài về chuyện chết chóc, sự khốn khổ của kiếp người, chính người viết cũng thấy nản. Nhưng làm sao được, vì chính những người nằm xuống đó là chỗ thân tình của tác giả, anh em, bạn bè, hoặc là người mà tác giả ngưỡng mộ, một nhà văn, một nhà báo, một thi sĩ nào đó. Tôi nghĩ cũng là chuyện thường thôi, không oán trời oán đất gì hết, hay đổ lỗi cho ai. Con người ta chẳng qua có một số mạng, trời cho sướng thì được sướng, trời bắt khổ thì phải khổ mà thôi. Như một lần nhà văn Lê Xuyên nói với tôi.

Nguyễn Thụy Long



 

Sài Gòn 1999: Nguyễn Thuỵ Long – Nguyễn Mạnh Đan – Uyên Thao.

Ðời sống tiêu cực chăng? Tôi không biết nữa. Nói chung đời sống chúng ta như bị cấy sinh tử phù, dở sống dở chết. Thôi cũng được. Người ta già mà chết, tai nạn mà chết, hoặc khổ quá mà chết thì cũng là chết vậy. Tôi không muốn nói đến chuyện chết chóc nữa. Bây giờ già rồi, có thì giờ thì dạo chơi, đi thăm bạn bè mà không tốt sao, chúc cho nhau câu sống lâu trăm tuổi. Còn khối người bạn vẫn sống đó, hoặc thành công, hoặc thất bại, hoặc ngất ngư, bị dính “sinh phù tử”.

Những người bạn thành công trên đường đời, hãy khoan, tôi chưa đi thăm vội, tôi tìm thăm những người bạn ngất ngư trước đã.

Hình như tôi cũng có nhiều thì giờ, tôi thuộc về loại đàn ông bây giờ vô tích sự, ăn bám vợ con, tự nhiên thích rong chơi, thăm anh bạn này, anh bạn kia đau ốm, hoặc có chuyện khốn khổ chi đó.

Sau cơn bão, áp thấp nhiệt đới số 4 và số 5, trời lại đẹp. Buổi sáng ở thành phố Sài Gòn, không khí trở nên trong lành, se se lạnh nhự trời thu Hà Nội. Tôi, nhà báo hết thời, làm báo từ khi còn in báo từ máy typo bỗng thấy ngứa nghề, nhớ nhung vẩn vơ và thích chạy rong. Tôi có thể ngồi nhà, trên căn gác bút mà gặm nhấm kỷ niệm, dĩ vãng coi như lùi vào quên lãng cho đỡ buồn. Mà sao cẳng tôi như cuồng lên, nhớ nhung gì đâu không. Muốn ngồi quán cà phê lúc trời tảng sáng, muốn ngửi mùi giấy thơm mực in của những tờ báo mới được nhả ra từ máy in, cái không khí âm âm của tòa soạn, tiếng máy đánh chữ lách tách. Hoặc được phóng chạy như một phóng viên đi nhặt tin giờ chót, làm phóng sự: “Vẫn còn một cột tin giờ chót để cho anh đấy trước khi báo lên máy”. Lời anh tổng thư ký tòa soạn như còn vẳng bên tai tôi.

Ðã gần ba chục năm nay mà sao tôi thấy gần gũi như mới nghe sáng nay. Ôi nhớ nhung vô vàn. Tôi yêu nghề, nâng niu nghề nghiệp của mình đến trọn đời. Vậy sao nay tôi lại gác bút đến hai mưới mấy năm trời, như một số anh em khác. Do lý do tế nhị khó nói ra nên ai hiểu sao cũng được. Nhưng những dự định viết cái gì đó trong đầu người cầm bút vẫn còn đó, mãi mãi như một nỗi bất hạnh dai dẳng… Tôi đã thấy điều đó từ nhiều năm qua.

Sau cơn áp thấp nhiệt đới trời đẹp, tôi lại ngứa nghề, muốn lên đường để nhìn ngó lung tung, muốn đi trở lại những con đường mà trước đây tôi từng in dấu chân thuở viết văn làm báo, thăm lại một số bạn bè xưa.

Thế là tôi rời căn gác bút, ra đường trên chiếc xe đạp cũ rích, cà là tàng đi trên các nẻo đường, từng quen thuộc mà nay hơi xa lạ đấy. Thành phố thanh bình như khi tôi còn hành nghề phóng viên, bên ngoài thành phố khi đó vẫn ì ầm tiếng súng, chiến tranh khắp mọi nơi, thành phố khi ấy chỉ là phồn vinh giả tạo.

Hôm nay thành phố vẫn đẹp, vẫn văn minh mà dân quê vẫn hứng chịu mọi bất công, thối nát, đói nghèo. Nạn nhân chính của thiên tai lũ lụt trên đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung đất cày lên sỏi đá. Thành phố chỉ có một bộ mặt thanh bình, văn minh, nhưng mặt trái của nó thì khác. Xe hơi, xe gắn máy đời mới chạy nườm nượp trên đường. Tôi chóng mặt, nhảy xuống khỏi xe đạp dẫn bộ, nhưng mà sao cứ vẫn chệnh choạng. Tiếng xe hới thắng kít sau lưng tôi, tôi nhìn, một thanh niên trẻ lái ô tô con thò cổ ra cửa, ngoạc mồm chửi:

“Ðịt mẹ thằng già, chán sống rồi hả?”

Tôi nghệt mặt ra, anh ta chỉ đáng tuổi con tôi mà phát ngôn được một câu độc chiêu như vậy. Tôi ngỡ ngàng đến không kịp phản ứng, chiếc xe hơi bóng loáng phóng vút đi bỏ lại một nạm khói xộc thẳng vào mũi tôi, chạy xuyên qua suốt lên óc. Có lẽ cậu bé thuộc loại con ông cháu cha, hoặc giả là ông bé mà làm lớn, loại này ở đây thì nhiều lắm. Tôi, dân đen, thấp cỗ bé miệng chịu đựng xử sự của những người thuộc loại đó nhiều năm và quen rồi.

Tôi nở nụ cười ngu ngơ đứng xem một đoàn du khách nước ngoài “tham quan” Sài Gòn 300 năm, thành phố Hồ Chí Minh. Ở những con đường chính, tôi đã “tham quan” coi như hết rồi. Tôi đã đi qua nhiều, xưa kia là tòa báo tôi đã làm việc. Bây giờ thì tôi đi thăm ai đây?

Tôi dừng lại ở đầu đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng) và đường Nguyễn Trung Trực. Tại nơi này nhìn qua Thư viện Quốc gia, Đại học Văn khoa hồi xưa, có một kiosque bán cà phê, nhìn sang bên kia đường là tòa báo Ðại Dân Tộc, phía góc đường Thủ Khoa Huân, Gia Long là báo Sống. Nói tóm lại có rất nhiều tòa báo trên quãng đường ấy. Ký giả, phóng viên, nhà văn sáng sáng ngồi đầy các quán cà phê lề đường, tất cả đều quen nhau, thân thiết đến độ xộc thẳng vào đời tư của nhau, nên tình nghĩa bạn bè cũng rộn rã. Sau năm 1975, ngày “đứt phim”, báo chí thuộc chế độ cũ dẹp tiệm, ký giả nhà văn có người đi mất, người còn sót lại lêu bêu. Tôi ở trong số đó. Buồn quá đi thôi, bỗng dưng tôi phải buông bút (mới chỉ buông chứ chưa gác), vẫn còn nghĩ mình dùng được ngòi bút để phục vụ độc giả. Sau vài lần “vỡ mặt” mới sáng mắt ra.

Nơi tôi đứng là một lề đường rộng, cái kiosque sơn màu xám xỉn cũ kỹ nay đã biến mất. Nơi đó tôi từng ngồi, thân thiết chủ quán đến độ có thể ghi sổ nợ từng ly cà phê, điếu thuốc thơm trợ hứng cho lúc viết bài hay trang feuilleton đăng trên nhật báo. Chẳng phải riêng mình tôi mà nhiều anh em đồng nghiệp cũng thế. Sau ngày đứt phim tôi còn thấy lai rai vài người. Họ vớt vát cái gì, hay chờ đợi như ngày anh em tụ lại với nhau khi báo được lệnh đóng cửa.

Hình ảnh nhà văn Lê Xuyên, anh em quen đùa gọi là chú Tư Cầu, tên tác phẩm nổi tiếng của anh viết về đồng quê Nam Bộ, dĩ nhiên là có những mối tình quê mùa mà không kém đam mê, tiêu biểu là nhân vật chú Tư Cầu Trước ngày miền Nam bại trận, Lê Xuyên là tổng thư ký báo Sài Gòn Mai rồi Ðại Dân Tộc, anh có cái nhạy cảm của người làm báo cùng với sự sâu sắc của người viết văn. Anh đã có cả lô tiểu thuyết ấn hành, tôi không nhớ hết. Nhà văn Lê Xuyên hay nhà báo Lê Xuyên cũng được. Nhưng anh em gọi anh là chú Tư Cầu cho thêm phần thân mật. Nhưng hình ảnh của nhà văn Lê Xuyên gây ấn tượng nhất cho tôi là sau ngày chế độ Sài Gòn bại trận, tôi vẫn còn thấy anh ngồi ở quán cà phê đó vào những buổi sáng kế tiếp. Mắt nhìn lên tòa soạn xưa buồn rười rượi, y nguyên như ngồi uống cà phê chờ anh chef typo xuốn báo cáo đã đủ khuôn, xin lệnh chạy máy, hay cần lấp một lỗ hổng. Bây giờ không còn gì nữa, không vắng lặng mà có cái xôn xao của cờ quạt, biểu ngữ khẩu hiệu và các trẻ thơ nối vòng tay lớn nhảy múa như cuồng ở góc đường, góc công viên.

Lê Xuyên vẫn cái áo sơ mi bỏ ngoài quần tây, cái mũ phở giản dị, đôi dép. Tôi chưa bao giờ thấy ở anh một sự “se sua” thời trang nào. Con người anh rất giản dị, cái giản dị của người miệt quê Nam bộ, nên gọi anh là chú Tư Cầu cũng rất đúng, không từ nào chính xác bằng. Tôi đã ngồi đó nới chuyện với Lê Xuyên, tôi không nhớ mình nói gì. Sau đó các văn nghệ sĩ, nhà văn nhà báo chúng tôi hầu hết bị vồ đi học tập cải tạo, Lê Xuyên đương nhiên có mặt trong đám “học viên” đó. Anh về sớm, tôi lại gặp anh trên những nẻo đường đi bán bánh tiêu bánh bò, rồi anh mở quán bán thuốc lá lẻ ở đường Ngô Quyền, Chợ Lớn gần nhà anh. Tôi ngồi sửa xe đạp ở góc đường Nguyễn Kim gần đó, nên thỉnh thoảng tạt qua gặp nhau.

Ðã lâu rồi, đến hai ba năm tôi không có ghé qua anh. Sáng nay tại sao tôi không ghé, lần sau cùng gặp anh coi bộ anh yếu lắm. Khi đó anh nói với tôi anh tròn 70 tuổi. Ðường về Chợ Lớn đối với tôi bây giờ xa vời vợi, nhưng phải đi chứ. Thăm một người bạn sau nhiều năm giam mình ở ấp Ðông Ba cũng là một điều hay.

Kia kìa, chú Tư Cầu còn đó, sau cái quầy bán thuốc lá cũ rích, con người anh cũng cũ rích, gầy guộc và đầy chất Nam bộ chân chất. Cái mũ bánh tiêu rúm ró chụp trên đầu, cái sơ mi mỏng lét, mòn cả vai, cái quần tây màu nâu ống cao ống thấp, đôi dép không rõ bằng vật liệu gì nữa. Mặt anh gầy rộc, xanh mét. Tôi gọi anh:

“Chú Tư Cầu!”

Anh nhìn tôi một giây xong mới hỏi:

“Có phải Trâu Nước không?”

“Chính tớ, mà sao ông gầy thế, có khỏe không?”

“Ông cũng chẳng hơn gì tôi, tôi suy yếu toàn diện rồi, 72 tuổi, hai mươi năm ngồi bán thuốc lá lẻ ở lề đường, trên góc đường này còn gì. Cám ơn, ông mò đến tôi mới nhớ mình là Lê Xuyên, chú Tư Cầu…”

Niềm hãnh diện còn lại của một người cầm bút. Niềm xót xa của một nhà văn đã từng có một thời vang bóng. Nay anh ngồi đây trong sự lãng quên, hai mươi năm ngồi ở một góc đường. Trước mặt, bên kia đường có cái đình tên Vĩnh Viễn, bên cạnh đình có một căn nhà có bản đề “BCH phường đội 8”.

Tôi nói với anh, tôi mới đi thăm thành phố Sài Gòn về, tức là thuộc khu vực Quận 1, Quận 3. Anh nói:

“Tớ 15 năm nay không lên đến thành phố Sài Gòn, chẳng biết bây giờ nó ra sao nữa?”

“To cao lắm, đúng là chốn phồn hoa đô hội, cũng đã lâu lắm tớ không tới đó, giống như gã nhà quê ra tỉnh…”

“Chúng ta giống nhau.”

Nhìn cái quầy thuốc lá cũ rích, long đinh, tróc sơn thấp lè tè của Lê Xuyên, tôi lại lo lắng cho anh trong trận mưa chiều ngày 9 tháng 11 vừa qua nhiều con đường ngập lụt, hàng hóa chợ Bình Tây bị nước úng hư hỏng thiệt hại bạc tỉ. Lê Xuyên cũng chỉ cười.

Anh cố ép tôi hút một điếu thuốc Con Mèo. Trong câu chuyện của anh, tôi rút ra được có một câu: “Tớ suy sụp toàn diện rồi”. Tôi cũng được biết hoàn cảnh gia đình anh, bà vợ bị mắc bệnh hiểm nghèo từ mấy năm nay, một đứa con gái của anh đã chết vì ung thư bỏ lại hai đứa con và cái quầy thuốc lá này cho anh, anh là ông ngoại của chúng. Tôi hỏi về sự học hành của hai đứa cháu mồ côi, anh có vẻ ngạc nhiên. Qua câu nói của anh, tôi biết anh không đủ sức nuôi hai cháu ăn học. Một quầy bán thuốc lá lẻ như vầy ở đường kiếm chác được bao nhiêu, nuôi bao nhiêu miệng ăn, đã thế lại phải lo thuốc thang cho người bệnh. Tôi cũng đang mệt nhọc vì còn ba đứa con đi học nên rất đồng cảm với anh.

Xoay sang chuyện văn học nghệ thuật, Lê Xuyên than phiền với tôi rằng anh mới đọc một bài báo nói về các tác giả làm văn học Việt Nam từ năm chục năm trở lại đây, những nhà văn nhà thơ ở miền Nam đã từng cầm bút và có danh không được nhắc đến một ai, nghĩa là bị gạt ra ngoài lề. Tôi nói tôi có biết quyển từ điển văn học ấy.

Báo Kiến thức Ngày nay số 297 trang 186, mục “Ai sao?” có một độc giả tên Lê Minh (Khánh Hòa) hỏi: Vì sao các nhà văn Võ Hồng, Sơn Nam, Nguyễn Văn Xuân, Kiên Giang, Bình Nguyên Lộc không có tên trong Từ điển văn học do nhà xuất bản Khoa học Xã hội in năm 1983-84? Người tòa soạn có tên là Phan Hoàng trả lời: Chúng tôi thiết nghĩ ông nên gởi thẳng câu hỏi này về Ban biên tập Từ điển văn học và NXB KHXH. Tin rằng ông sẽ nhận được hồi âm cho thắc mắc mà dường như tất cả những người yêu thích văn chương đều quan tâm. Chúng tôi chỉ xin lưu ý, bên cạnh những nhà văn trên đây, còn rất nhiều tên tuổi văn học đáng kính khác cũng không hề được nhắc đến, dù chỉ cái tên, trong bộ từ điển tầm cỡ quốc gia này. Chẳng hạn như các bậc tiền bối thời tiền chiến: Hoàng Ðạo, Ðinh Hùng, Nguyễn Vỹ, Phạm Hầu, Ðoàn Phú Tứ, Bàng Bá Lân… cho đến những nhà văn nhà thơ góp phần đáng kể vào diện mạo văn học Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vừa qua: Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh, Trần Dần, Lê Ðạt, Phùng Quán, Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Quang Dũng…

Những nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ tầm cỡ như thế còn chưa được ngồi sau porte bagage đèo xe đạp vào văn học sử nữa là… Ðừng nói là người ta thiếu sót trong việc biên soạn, vì ban biên tập toàn là người có đầu óc, có văn hóa được đào luyện. Sỏi đá xôn xao. Chúng tôi cười xòa, cũng xong cả thôi. Quan tâm làm đếch gì đến chuyện đó.

Bạn bè lâu ngày gặp nhau không cà kê dê ngỗng, thì cũng dây cà ra dây muốn. Tôi hỏi anh về việc cư trú, anh nói anh chưa có hộ khẩu, đương nhiên không thể có chứng minh nhân dân, chẳng có giấy tờ mẹ gì cho biết anh là một con người sống trong chế độ.

“Ông có xin nhập hộ khẩu sau khi đi học tập cải tạo về không?”

“Có chứ sao không, xin nhiều lần rồi mà người ta không cho, đôi khi còn bị mắng mỏ khi xin giấy tờ, nên đành ì ra, bị phạt thì chịu thôi, chán rồi người ta cũng nản.”

Ðến lúc ấy tôi mới thấy Lê Xuyên xì ra chuyện sống chết.

“Tớ cũng nghĩ về những trường hợp của những người chết chui.”

Tôi ở dưới chế độ này lâu lắm nên hiểu rất rõ từ “chui” là gì, từ này được nhập cảng vào miền Nam sau năm 1975. Chui có nghĩa là lậu, buôn chui, bán chui, phở chui. Những thứ không được công nhận. Chết chui thì thảm lắm, thảm còn hơn phở chui lèo tèo mấy miếng, nước lèo thì nhạt thếch nhạt thác đựng trong bình thủy, bát phở không hành ngò. Nói theo kiểu thời thượng là “phở không người lái”.

Thi sĩ Bùi Giáng chết, cũng ở dạng chết chui, nhưng vì ăn ở có đức nên được chôn cất đàng hoàng, lại được người đời vớt cho một câu: “Chúng tôi đã bỏ quên anh.” Dù rằng với cách sống của ông thì ông cóc cần. Khoác thêm cho cái xác lạnh tanh ấy một sơ mi gỗ hay đội lên đầu thêm vòng nguyệt quế nữa thì nhằm nhò gì.

Thuở còn ăn mắm mút dòi, gạo châu củi quế, người dân khoái xài đồ chui hơn là đồ quốc doanh. Vì, muốn ăn một bát phở quốc doanh phải xếp hàng cả buổi, nhân viên phụ trách khâu bưng phở mặt vác lên như ba cái thớt chồng lên nhau, dằn tô phở trước người mua phiếu như ra ơn ban phát, bố thí. Phở đồng loạt là phở chín, khách hàng không nên đòi chín nạm gầu hoặc xin thêm nước béo hành trần lôi thôi, chẳng ngon lành gì hơn phở chui.

Người ta thèm nụ cười cầu tài của anh bán phở chui, lấy chuyện đó làm hài lòng nên cũng ấm cái bụng. Chứ không treo bảng “khách hàng là thượng đế” như bây giờ.

Nhìn sang bên kia đường tôi thấy một sạp báo. Báo chí đủ các thể loại phục vụ độc giả, sắc màu rực rỡ, hấp dẫn, in ấn đẹp bằng mười ngày xưa, hơn thuở tôi còn xách bút chạy rong nhiều. Sự tiến bộ trong ngành báo chí trông thấy ngay trước mắt. Tôi nói với Lê Xuyên:

“Có một dạo tôi tính mở một sạp báo bán cho đỡ buồn, nhưng rồi lại thôi, dù có mượn được vốn.”

“Tại sao vậy?”

Tôi lắc đầu:

“Sau những ngày thực tập nghề bán báo, tôi bỗng cảm thấy buồn, vì ngày nào cũng đụng đến báo chí tự nhiên mình thấy nhớ nhung gì đâu không, cái dĩ vãng làm báo tội nghiệp của tôi ám ảnh tôi quá nhiều.”

Lê Xuyên vốn là tổng thơ ký của nhiều nhật báo gật gật đầu:

“Ờ ông nói có lý đấy, chúng ta không thể hành nghề bán báo được, sẽ buồn lắm, không như nghề bán thuốc lá lẻ của tôi.”

Có người khách ghé mua một gói thuốc lào. Bây giờ tôi mới biết anh còn bán cả thuốc lào đượm khói dân tộc nữa, nhặt nhạnh từng cắc một, quả là con người lương thiện từ đầu đến chân.

Chia tay chú Tư Cầu vì trời đã muộn. Gặp anh tôi không thể không nhớ đến nhan đề một truyện dài của anh là Gió đưa trăng. Sau này tôi biết anh lấy từ câu hò trữ tình trên sông nước Cửu Long. Câu hò như thế này: Gió đưa trăng, trăng đưa gió, [con] trăng lặn rồi gió biết đưa ai?…

Tôi như nghe thấy tiếng ca trữ tình vút lên thinh không, man mác trên sông nước Cửu Long, đồng bằng lúa gạo Nam bộ. Tính chất Nam bộ trải dài trong tác phẩm của anh và ở ngay chính con người anh. Trăng lặn rồi gió biết đưa ai? Có phải một câu than thở không? Tôi lẩn thẩn mãi với câu hỏi ấy trong đầu. Tôi nghĩ đến hát ru Nam bộ mà Lê Xuyên đặt tên cho tác phẩm của mình, có một câu bỏ lửng.

Tôi về đến nhà ở Ấp Ðông Ba xưa vào buổi trưa, mở truyền hình lên coi. Tôi nhận được tin cơn bão số 6 đang trên đường đổ vào bờ biển Việt Nam. Sao mà khổ thế nhỉ, bao nhiêu là tai ương. Người ta kêu gọi nhân dân chống bão lụt.

Tôi nghĩ hoài về nhà văn Lê Xuyên. Mưa ập xuống ngập đường như sông. Trên con đường Lê Xuyên ngồi bán thuốc lá lẻ nước ngập đến bụng, liệu Lê Xuyên có khiêng nổi xe thuốc đội lên vai lên đầu để tránh ướt không, bảo vệ cái vốn liếng nhỏ bé, duy nhất của gia đình anh trên đôi vai còm cõi.

Tôi lo lắng, thương xót bạn, thầm cầu xin sự an lành đến với anh. Năm hết Tết đến rồi. Anh từng nói từ lâu rồi anh không có mùa xuân.

Nguyễn Thuỵ Long

 

Nguồn: Chương VII: “Chú Tư Cầu” Lê Xuyên, trích Giữa đêm trường, hồi ký của Nguyễn Thuỵ Long (trang 101-114), nxb Tiếng Quê Hương, Virginia 2000, USA

304Đen – Llttm - sgtc

Ngày Nhà Giáo - PHP Facebook

 NGÀY NHÀ GIÁO




 










Ở bên đất nước Nhật,
Một nước rất văn minh,
Nền khoa học kỹ thuật,
Phát triển nhất hành tinh.

 

Nhưng họ khác với mình,
Không tổ chức linh đình,
Kỷ niệm ngày nhà giáo,
Diễn đủ trò linh tinh.

 

Có lẽ nào người Nhật,
Không coi trọng người Thầy,
Thờ ơ với giáo dục,
Thế thì đáng buồn thay?

 

Không đâu, vì người Nhật,
Họ không nghĩ như ta,
Họ không cần hình thức,
Không hoa cải hoa cà…

 

Ở họ nghề giáo viên,
Được xã hội ưu tiên,
Mọi người đều kính trọng,
Xếp sau bậc thánh hiền.

 

Thực trạng ở nước mình,
Nền giáo dục xuống cấp,
Từ cao cho đến thấp,
Đang tuột dốc không phanh.

 

Bao nhiêu chuyện trong ngành,
Từ trường cho đến lớp,
Thầy hủ bại, đốn mạt,
Trò học thói lưu manh.

 

Nền giáo dục vì tiền,
Tiền là cái đầu tiên,
Trường hóa ra chợ búa,
Mọi giá trị chao nghiêng.


Thật sự nghề nhà giáo,
Nếu muốn được tôn vinh,
Cần thay đổi diện mạo,
Trong tư duy của mình.

 

Cần thay đổi chế độ,
Một chế độ lưu manh.
Làm sao giáo dục tốt
Bao thế hệ thanh niên.

 

PHP – Facebook.

Trinh Nữ Làng Hoa - Khuyết Danh

 

TRINH NỮ LÀNG HOA




 

Ngày tôi năm tuổi, nàng xuất hiện. Khi có, trái đất ngoài tôi ra chỉ có hai ngửơi phụ nữ. Mẹ chăm nuôi tôi còn nàng là bông súng trắng độc diễn trên chiếc ao ký ức tuổi thơ tôi.

Trinh mảnh dẻ và có một làn da trắng như ngà. Mẹ thường chép miệng: Con Trinh trông yểu mệnh lắm !

Tôi chẳng quan tâm đến những đỉều mẹ nói. Nỉềm hạnh phúc lớn nhất của tôi khi đó là mỗi sáng tinh sương được thấy nàng từ vườn nhài đi lên trao cho mẹ những bông hoa nhỏ xíu, trắng như tuyết. Cả người nàng toát ra làn hương thanh thoát và tươi mát của thời khắc bình minh. Dù đang còn ở trên giường hay đang ngầy ngà với mẹ, tôi cũng giành phần chạy ra đón gói hoa từ tay nàng. Một bàn tay nhỏ xíu với những ngón tay mảnh dẻ như cánh hoa ngọc lan. Mẹ rón tay nhúp mấy bông nhài từ gói lá bưởi thả vào bát tào phớ của tôi. Tôi say mê tào phớ từ khi có Trinh. Từ đó cho tới khi trở thành một gã đàn ông râu ria thường xuyên không cạo, tôi vẫn chỉ say mê màu trắng. Tôi ngây ngất khi được nàng bế và thơm vào má. Nếu lưu ý, hẳn nàng đã thấy trái tim bé nhỏ của tôi đang đập loạn xạ. Có đêm tôi mơ thấy Trinh đang hái nhài. Nhưng thay vì hoa nhài là cả một vườn sao. Mỗi khi nàng giơ tay hái, bông sao nó lại bay vụt đi. Rồi tôi thấy Trinh gánh sao đi. Thỉnh thoảng từ trong hai chiếc sọt xinh xinh lại vương ra một bông sao. Cứ thế vài bông sao lấp lánh ánh bạc rơi lác đác trên nền gạch đường làng theo lối nàng đi.

Năm Trinh mưười lăm tuổi, một hôm, không nhịn được, tôi đành thổ lộ với mẹ và chị Na: Sau này con sẽ cưới chị Trinh. Cả hai người cười ngất. Mẹ nói: Vậy con sẽ phải gọi ông Thược Dược (bố Trinh tên là Dược, ông nội tên Thược, nhưng cả làng cứ gọi vậy thành quen) là bố vợ đấy, con có chịu nhận không !

Đó là đỉều tôi ít ngờ tới nhất. Mẹ Trinh ốm chết từ khi nàng còn thơ dại. Ông Thược một nách nuôi sáu đứa con. Có một dạo ông cũng tấp tểnh nhờ mối lái, toan kén người vợ đỡ đần, nuôi con. Nhưng cứ nghe đến sáu chiếc tàu há mồm thì bà nào cũng lắc đầu lè lưỡi. Chẳng có ai chịu nâng khăn sửa túi – chiếc túi thường xuyên mắc bệnh viêm của ông. Thế là ông Dược tấp tểnh cặp bồ. Nhưng chẳng có người phụ nữ nào chịu cặp lâu lâu với người đàn ông keo kiệt, kiết xác ấy cả. Làng này ai cũng chê bai ông. Có một dạo đi đâu cũng thấy mấy người ghé vào tai nhau xì xào chuyện ông Dược xông vào buồng tắm của con dâu. Dạo đó nhà tắm của hầu hết mọi nhà trong làng đều làm ở ngoài trời bằng cây que che tạm. Họa hoằn lắm mới có mái che. Buổi tối hôm đó, như thường lệ, con trai ông đi xòe nan quạt. Con dâu ông đang tắm gội dưới trăng. Bỗng roẹt một cái, chiếc cửa nhà tắm làm bằng nan tre tung ra và ông Dược xuất hiện. Như một cơn lốc, bố chồng đè nghiến nàng dâu xuống và cái gì phải đến đã đến. Đứa cháu gái thứ hai giống hệt ông nội. Chẳng nể nang gì gã chồng đạp xích lô suốt ngày tổ tôm tổ cá, đứa con dâu nói huỵch toẹt rằng đó là con ông Dược, ông phải có trách nhiệm. Ông Dược cào chỗ này, cấu chỗ kia được vài trăm, ấn vào mồm đứa con dâu mất nết, thế là nó im.

Cơn sốt đất ngầm ngầm từ vài năm trước đột nhiên bùng phát mạnh. Cả làng hoa rùng rùng nở mày nở mặt. Nhỉều gia đình bán một phần đất rồi làm nhà cho con ra ở riêng. Vườn nhài nhà Trinh mau chóng bị chia năm xẻ bảy rồi cũng mau chóng biến thành những lô nhà bê tông có tường bao cắm dây thép gai. Chỉ còn lại con mương thoát nước kế bên, mà hai bờ lở loét của nó được hàng mẫu đơn trắng che chở, là thoát nạn hóa kiếp vì nhà nước chưa có tỉền cống hóa. Nhà cũ bán đi. Là con út chưa lập gia đình, Trinh chuyển xuống ở với người cha già trong ngôi nhà nhỏ xíu cuối vườn nhài xưa, y như hồi bố ông ta đã từng sống trước cải cách vậy. Mẹ bảo:

– Ngẫm lại cũng thấy lạ, chưa hết cuộc đời đã thấy cảnh xưa lặp lại.

Tôi cũng bắt đầu cao vống lên – theo lối nói của mẹ – nhưng chẳng có da thịt gì vì phở không ăn lại chỉ ăn tào phớ. Một thứ tào phớ thiếu hương nhài.

Bẵng đi một thời gian không thấy nàng đâu. Mẹ nói nàng đi học nghề trên phố. Thỉnh thoảng nàng lên nhà thăm mẹ, nhưng ít khi tôi gặp vì phải đi học. Lâu quá không thấy mặt Trinh, tôi xuống nhà ông Dược vờ vĩnh hỏi này hỏi nọ, nhưng nàng không có nhà. “Nó còn phải đi làm ăn chứ lêu lổng thì lấy gì đút vào mồm”.

Làm thuê trên phố một thời gian Trinh lại về làng. Nghe nói nàng có mấy anh vô công rồi nghề dòm ngó, nhưng chưa ưng đám nào. Một bậc đàn chị thuê Trinh làm ở tiệm uốn tóc. Gọi là tiệm cho oai chứ thực ra nó chỉ là một chiếc ngõ che tạm bằng mấy tấm cót. Trinh ở giữa đống tạm bợ ấy như một con sẻ non trong chiếc tổ vụng dại của lũ trẻ con hay bắt chim về nuôi. Ế ẩm luôn nên hầu như khi nào tôi đi qua, nàng vẫn hào phóng ban thưởng cho tôi những nụ cười dịu dàng nhất trần gian làm tôi lâng lâng vui sướng. Nỉềm vui lớn nhất của tôi là được Trinh cắt tóc cho. Tôi ngây ngất ngắm qua gương khuôn mặt tươi mát của nàng. Tôi lả đi vì hơi thở dịu ngọt của nàng phả vào gáy, vào mang tai. Tôi nghẹt thở vì ở rất gần làn da trong suốt của nàng.

Một hôm tôi đang ngắm nàng qua gương thì bỗng thấy dưới cần cổ xinh xắn, từ làn da mỏng mảnh có một màu hồng dâng lên từ từ, từ từ trào lên cằm, lan lên thái dương và cả khuôn mặt chuyển thành hồng. Cũng qua gương, tôi nhìn thấy bóng một gã thanh niên lướt xe máy đi tới. Trinh đã nhìn thấy chàng ta và đó chính là nguyên nhân khiến nàng đỏ mặt. Trái tim tôi thắt lại vì phát hiện này. Tôi mới có mười tuổi.

Đêm đó tôi nhói đau trong ngực. Giấc ngủ hốc hác trong mê sảng. Hôm sau mẹ hỏi: Đi cắt tóc chị Trinh chòng ghẹo gì mà suốt đêm cứ gọi tên chị hoài. Rồi tôi lại nhẹ lòng khi nhìn thấy Trinh trau chuốt những móng tay màu hồng. Ôi những ngón tay mảnh dẻ, trắng muốt như những búp hoa lan! Trong chiếc juýp trắng, cổ chân nàng thon nhỏ như một cọng ngó sen, thanh thoát đến lo âu, đến thắt lòng.

Mùa Đông đầy ẩn h..a đã đến. Cửa hàng của Trinh đông khách hơn. Lũ đàn ông bu đến nhỉều. Vất vả hơn nhưng Trinh tươi tắn lạ lùng. Đôi mắt nâu của nàng như có lửa. Hàng mi dài trở nên sống động và linh hoạt. Mái tóc màu hạt dẻ ngang lưng mượt mà như nhung, mềm mại như lụa. Tiếng cười của nàng như những giọt pha lê. Sáng sáng nàng mua những bông hoa loa kèn miệng còn ngậm sương cắm vào chiếc bình bằng men Bát Tràng rồi ngồi trước gương vừa chải tóc vừa đợi khách. Chẳng mấy chốc đã thấy mấy anh chàng xuất hiện. Rồi Trinh gãi đầu cho họ, mơn man tóc họ bằng những ngón tay lụa là. Gần hết mùa Đông thấy Trinh cặp bồ với một tay làm nghề khoan phá bê tông kiêm xe ôm. Gã nợ đìa vì hay cờ bạc. Gia đình đông anh em chen chúc trong căn hộ hai bốn mét vuông. Mẹ nói Trinh nghèo lại thất học, chẳng có điều kiện mở rộng giao tiếp, như ngọc trung ẩn thạch, là viên ngọc nhưng ở trong hòn đá nằm dưới giếng thì làm gì có điều kiện mà kén chọn. Từ đó, thỉnh thoảng Trinh nghỉ làm sớm và đi bát phố. Trinh thích ngồi sau xe của gã vì gã có tay lái lụa. Cả hai đều có điểm chung là thích tham dự vào các cuộc đua xe, nơi mà cái duy nhất có thể đem ra thi thố đó là lòng can đảm, chứ chẳng phải lý lịch, xuất xứ, bằng cấp hay địa vị xã hội. Trinh nói rất thích cảm giác ngồi xe máy mà như được bay lên, được thấy thiên hạ dạt sang lề đường. Tội nghiệp nàng! Trinh chẳng mấy khi có điều kiện đi đây đi đó vì hằng ngày phải rạp lưng gãi đầu cho khách. Một bữa Trinh sang nhà chơi, tôi bộc phát :

– Chị đừng làm nghề gội đầu nữa.

Trinh bảo :

– Không làm nghề này thì biết làm gì mà sống. Cún học cho giỏi , bao giờ lớn kiếm tỉền nuôi chị nhé.

Rồi cái ngày tang tóc ập đến. Hôm đó mới chợt tối, Trinh nghỉ làm sớm hơn thường lệ. Cương – gã khoan phá bê tông – đến đón Trinh đi. Vừa tới dốc làng, gã lùi số xe rồi vượt lên đường đê, vượt chiếc xe tải cùng chỉều đang ở khúc cua, suýt chui tất vào gầm xe, nhưng tay lái lụa may mắn thoát chết. Trinh ngồi sau người lạng đi, đầu va nhẹ vào thành ô tô, ngửời không hề hấn gì nhưng khi Cương dừng lại thì Trinh chỉ nói được một câu: “Em mệt lắm…??, rồi gục xuống mãi mãi.

Nàng lặng lẽ ra đi với rất ít người đưa tiễn. Cương chẳng có mặt trong đám vì có lẽ gã còn chưa hoàn hồn. Cũng chẳng ai buộc tội gã phải chịu trách nhiệm trong cái chết của Trinh: đơn giản đó là một tai nạn giao thông, có thế thôi. Vì bận đi học từ sớm, tôi được tin Trinh mất vào tối hôm sau, khi mọi người đã đưa Trinh về nơi an nghỉ cuối cùng. Thoạt đầu, tôi chạy ngay ra tiệm gội đầu. Chỉ có hơn một ngày mà tất cả đã đổi khác. Chẳng còn một chút dấu vết gì chứng tỏ Trinh đã từng ở đây. Một cô gái khác đang ngồi đó tỉa tót móng tay. Tủ đồ đã quay hướng khác. Chỉ còn chiếc gương cũ thản nhiên phản chiếu bất cứ hình ảnh nào đập vào nó.

Không thể tin được. Tôi đi vô định trên đường làng.

Rồi trên bờ mương um tùm những cây mẫu đơn, tôi thấy Trinh. Trong bộ đồ trắng toát, Trinh dịu dàng nói:

– Cún, em đừng buồn. Chị sẽ không bao giờ xa em, trừ phi em muốn như vậy.

Tôi ôm lấy Trinh, thấy nàng thật dịu dàng, dịu dàng như một làn hương.

Trong khi cả nhà hoảng hốt đi tìm thì tôi trở về nhà, “khuôn mặt bình thản như chưa hề có chuyện gì xảy ra”, theo lời của chị tôi kể lại. Ngày hôm sau cũng như nhỉều ngày tiếp nữa, tôi nằm bẹp giường. Cả làng thảng thốt: Thằng Cún bị con Trinh bắt mất hồn vía rồi. Mẹ tôi bán mảnh vườn bà ngoại cho để phục thuốc cho tôi. Năm đó tôi ở lại lớp.

Tôi và Trinh còn gặp nhau nhỉều lần nữa trong suốt tuổi vị thành niên của tôi. Tôi chuyện trò cùng nàng khi ở nhà một mình, khi bị bọn con trai cùng lứa chòng ghẹo, lũ con gái hắt hủi. Tôi thề sẽ yêu nàng mãi mãi. Nàng là duy nhất, là độc tôn. Ai cũng bảo tôi ngớ ngẩn. Mẹ thở dài thườn thượt. Hai sáu tuổi tôi vẫn chỉ là thằng Cún của mẹ. Bao nhiêu đám mai mối, Trinh đều chặn hết, che sạch. Con gái cứ giáp mặt tôi là lắc đầu. Còn tôi cũng chỉ thấy có nàng. Mẹ đi coi tỉền duyên thì nàng nhập vào mồm ông thầy, phán rằng: Kiếp này Cún chỉ có Trinh, chỉ yêu một mình Trinh. Chỉ có nàng mới đem lại hạnh phúc cho nó. Họ hàng xui đưa tôi đi bệnh viện tâm thần. Mẹ không cho động đến. Nói ra nói vào nhỉều quá bà nổi dóa lên chửi ngoa ngoắt: “Bà chỉ có mỗi thằng con vàng, con bạc. Đứa nào bảo nó ngây tao đào mả bố nhà chúng mày lên. Chúng mày chỉ nhòm ngó vào ba sào vườn nhà bà à. Có mà ăn c. cả nhà bà đây này !??. Cuối đời mẹ không rời tay khỏi chiếc mõ. Bà tụng kinh và cả chửi đứa nào động đến con trai vàng, bạc, đồng đen, kim cương, trầm hương vân vân của bà, không ngớt. Chị Na đã ngoài ba mươi chẳng lấy được chồng. Cám cảnh nhà, chị cằn nhằn: Giá anh Cả còn sống thì mẹ đã không quá nuông chỉều Cún để đến nỗi nó trở thành bệnh hoạn thế này. Có lúc chị hét lên như bị ít-tê-ri: “Anh Cả mà còn sống thì đã cho mày một trận thừa sống thiếu chết để mày tỉnh người ra, xem mày còn ngây ngây dại dại được nữa không”. Có lúc chị lại than: “Giá cha không bỏ mẹ đi thì tụi chúng con đâu có thế này”.

Mẹ vừa nằm xuống, chị bán quách một sào vườn được tỉền tỉ gửi ngân hàng. Chị thét vào mặt tôi: Tao sẽ cắt tỉên duyên cho mày! Cho mày biết thế nào là lễ độ, thằng dở người đi tôn thờ cái hồn ma! Chị đưa tôi lúc xuống biển nhặt cá, khi về quê cuốc đất làm vườn, lúc lên núi đuổi dê. Tôi làm lụng mệt quá tối tối lăn ra ngủ ngay, có hôm quên cả rửa chân. Chị Na ướm hỏi một tá cô. Các cô đều lắc, còn tôi chê tất. Nhưng rồi vận may cũng đến. Hoặc giả mẹ, hay anh Cả xui khiến giúp tôi. Một lần tôi đi chăn dê gặp mưa, trú chân cùng một cô thôn nữ. Em gợi chuyện, tôi trả lời nhát gừng. Em thích đàn dê nên thỉnh thoảng đem cả mật đến cho chúng. Tôi thấy em trắng lôm lốp, giống một con dê cõn trong đàn. Không biết chị Na dỗ thế nào, em đồng ý lấy tôi. Đêm tân hôn, em kéo tay tôi đặt vào bộ ngực căng tròn của mình.

– Mình tên gì? – Tôi hỏi.

– Em là Linh – Vợ tôi bảo. Nàng trườn lên người tôi.

Tôi nhổm lên:

– Là Linh hay là Trinh ?

Tay nàng chạm vào khe đùi tôi:

– Em là Linh… là… Linh… là Linh… là Linh… anh… anh Quất ơi…

Tôi bỗng thấy một cái gì như vỡ ra, òa ra. Dường như có một luồng sáng nào đó xé toang màn âm u bấy lâu che phủ trí não tôi. Dường như một cơn lũ quét ở thế thượng phong không gì cưỡng nổi, cuốn trôi sạch mọi ẩn ức. Sau ít phút thiếp đi, tôi choàng dậy và nhận thấy cả hai đang lõa thể. Sợ nàng lạnh, tôi kéo chăn cho nàng. Tay tôi chạm vào một bờ cong vồng lên tròn trịa. Đắp chăn xong, tôi lại thèm xoa lên bờ cong đó. Thậm chí đến sáng hôm sau, khi nàng đi chợ, nhớ quá, tôi giơ bàn tay huơ huơ, xoa đi xoa lại, xoa mãi, một bờ cong tưởng tượng..

Khuyết danh

04Đen – llttm - ovv

 

Saturday, November 19, 2022

Thu Viết Cho Người - Nhóm Thi Hữu Xướng Họa

THƠ XƯỚNG HỌA – THI HỮU

Bài xướng:

              

 


          




















THU VIẾT CHO NGƯỜI

 

Người ơi! Tình đã chết rồi sao?

Vai mới kề vai có lẽ nào!

Môi ấm còn nồng hương trái cấm

Dạ sầu đã vỡ giấc chiêm bao

Tuyết sương thầm lặng phai mày trúc

Son phấn xanh xao nhạt má đào

Gió bão cuồng xoay...đêm nguyệt tận

Hoang tàn để lại những hư hao!

 

Hoang tàn để lại những hư hao!

Rướm máu hồn thu...lá đổi màu

Sóng nước chôn sâu dòng lệ tiễn

Cung đàn khuấy động mảng lòng đau

Tự tình đã lỡ nghìn năm trước

Hội ngộ còn chăng một kiếp nào?

Ai mượn Tràng Khanh *gieo khúc Phượng

Cho nàng họ Trác **nhớ ngàn sau !

 

Thy Lệ Trang

*Tràng Khanh: Tư Mã Tương Như

**Trác Văn Quân

 

Họa 1:

          

 NGƯỜI ĐI TÌNH CHẾT

 

Người đi tình chết biết làm sao,

Còn lại dư âm đẹp thủa nào.

Ánh mắt nồng nàn thương quá đỗi,

Vòng tay êm ái ấm dường bao.

Hè sang sóng bước bờ sông biếc,

Xuân đến kề vai dưới nắng đào.

Bếp lửa mùa đông ngồi nép sưởi,

Thu về cảnh đẹp nắng hanh hao.

 

Thu về cảnh đẹp nắng hanh hao,

Hoa héo cành khô lá chuyển màu.

Thánh thót giọt Ngâu khơi nỗi nhớ,́

Mênh mang hoa tuyết gợi niềm đau.

Ân tình một thủa tìm đâu thấy,

Mộng ước ba sinh ở cõi nào?

Giòng lệ tương tư dai dẳng lắm,

Đêm ngày lã chã tới mai sau.

 

Mỹ Ngọc

Oct. 22/2022.

 

Họa 2:

            

THU LY BIỆT

Đêm tàn sương lạnh mấy vì sao

Lặng lẽ người đi đến chốn nào?

Hương tóc vấn vương, thương biết mấy

Môi hồng nũng nịu  đẹp dường bao!

Trăng thề mộng ảo trôi theo gió

Lời hẹn hư không giạt cội đào

Giông bão cuốn trôi đời bất tận

Xác  thân còn lại những hanh hao!

 

Xác  thân còn  lại những hanh hao!

Thu đến rừng phong sắc nhạt màu

Thương tiếc hoa tàn dòng lệ đổ

Ngậm ngùi nước chảy nỗi niềm đau

Mối tình tan vỡ làm sao biết?

Sự thế dần xoay tự thuở nào!

Công chúa Huyền Trân* ai  dám xử?

Khắc Chung* tình hận mãi nghìn sau !

 

Nguyễn Cang

Chú thích:

*Huyền Trân công chúa là cháu ngoại

Trần Hưng  Đạo đại vương, đồi nhà Trần ( 1226-1400).

*Trần Khắc Chung là lão tướng đời nhà Trần, được lệnh đi cứu HT công chúa khi vua Chiêm mất.

 

Họa 3:

         

THU VIẾT CHO NGƯỜI
 

Vì sao ? Ai hiểu tại vì sao
Rạn vỡ người chưa biết cớ nào
Yêu lắm sông thương sao sánh được   
Nhớ nhiều biển ái có là bao
Hương thơ chưa nhạt trên mùi tóc
Điệu nhạc còn vang dưới cội đào
Thu đến làm chi cho sắc lá
Úa vàng tình ấy cũng vàng hao .

Úa vàng tình ấy cũng vàng hao
Ước mãi thu ơi chớ biến màu
Xa cội cỏ cây còn nhớ tiếc           
Lìa nguồn gỗ đá cũng buồn đau  
Thơ sầu bởi nhạc , đâu là đúng ?      
Người lỗi do ta , có phải nào ?
Nàng Mỵ* khóc tuyền đài ngọc vỡ
Chàng Trương* ôm hận vạn đời sau .

LHN
* Trương Chi,Mỵ Nương

Họa 4:

           

THU VIẾT CHO NGƯỜI

Đàn khải tơ lòng bỗng đoạn sao?

Phượng loan giao cánh ngỡ đâu nào!

Nhẹ nhàng cảnh sắc đang nồng ấm

Ồ ạt màn giông lạnh xiết bao

Đôi ngã canh tàn chao lối hạnh

Nửa vầng trăng khuyết lạc vườn đào

Bên song nhắn khách xa ngàn dặm

Gãy nhịp cầu tình bóng hắt hao!

 

Gãy nhịp cầu tình bóng hắt hao!

Tranh xuân sóng lượn đã thay màu

Gió đông hiu hắt khơi niềm nhớ

Khúc điệp mơ màng dậy nỗi đau

Tim nhói thôi đành câu lỗi hẹn

Mắt nhoà cố giấu lệ hoen nào?

Trách chàng Tư Mã trao lời ước

Trác nguyện lòng nàng - giải trước sau.

 

Kim Trân

 

Họa 5:

           

 GIỌT MƯA THU

 

Mấy thuở mặn nồng lại thế sao!

Sợi tơ mầu nhiệm đứt khi nào?

Nợ duyên ràng buộc thương còn lắm,

Tình nghĩa đong đầy quý biết bao.

Trăm nỗi điêu tàn do núi lở,

Đôi bờ ngăn cách bởi sông đào.

Trời buồn trăng lặn mây thâm thấp,

Từng giọt thu sầu ngọn nến hao…

 

Từng giọt thu sầu ngọn nến hao,

Lá hoa rơi rụng cảnh trơ màu.

Ầm ào sấm động trời bung vỡ,

Vi vút gió gào dạ buốt đau.

 Mãi đợi thanh âm hòa khúc nhạc,

Lắng nghe tơ phím lạc cung nào?

Văn Quân mê đắm đàn Tư Mã,

Cầm sắt còn lưu vạn thuở sau.

 

Minh Tâm