Saturday, January 24, 2026

Tu - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 184_VƯỜN THƠ MỚI

 

Xướng:



 

















Tu 

Nhật Từ, Minh Tuệ chọn đường tu
Đạo hạnh hai sư tạo hoả mù
Biết được thế nào đâu chánh pháp
Làm ơn chỉ dạy thực vô hư

Tu Chùa Tu Bụi cũng là tu
Độ thế cứu nhân xóa trí mù
Mang ánh Đạo Vàng soi vạn nẻo
Trần gian ra rả nhạc vô ưu

Từ, Tuệ , đều là bậc đạo sư

Định thiền tâm sáng rạng Chân Như
Tiếp thu bá tánh niềm An Lạc
Tín Hữu chúng Tăng đạt trí từ
THT

Trí từ 致辭: biểu đạt tư tưởng

Họa 1:

Tu

Khó thấy đời nay một người tu
Tu chùa tu chợ hoặc tu mù
Nhân danh tam bảo làm điều quấy
Chẳng biết thầy chùa hay kẻ hư

Đạo Phật ngày xưa giữ giới tu
Xem kinh thính pháp xóa tâm mù
Quy y tam bảo năng trì niệm
Chứng quả niết bàn nguyện tối ưu

Tu tâm chánh tín bậc thiền sư
Một niệm không hai định nhất như*
Cứu độ chúng sanh về bến giác
Hết lòng lân mẫn trãi lòng từ
Hương Lệ Oanh VA

Jan, 1. 2026


Chú thích:
* Trong Phật giáo, "Nhất như" có nghĩa là
"không hai, không khác", chỉ cái lý (chân lý) tuyệt đối, bình đẳng, không phân biệt của vạn vật, tức là tính chất Chân Như (thể tính ổn định, thường hằng, vượt ngoài nhận thức) của mọi sự vật hiện tượng (các pháp). Nó nhấn mạnh sự hợp nhất, tính đồng nhất của vạn pháp trong một thể tánh duy nhất

Lân (
): Sự thương xót, động lòng trắc ẩn, thấy người khó mà lòng mình cũng xót xa

Mẫn (): Sự cảm thương lo lắngcho người khác, mong muốn họ được an vui

 

Họa 2:


Khoác áo tu


Hiện tại nhiều người khoác áo tu
Chân dung đức hạnh khói đen mù
Quốc doanh trà trộn người chánh đạo
Không thể nhận ra đấng thực hư

Khoác áo cà sa chưa hẳn tu
Giả sư mưu mẹo chốn sương mù
Bao nhiêu thí chủ đều lầm lẫn
Oán trách ai đây chịu chẩn ưu

Ngày xưa luôn có bậc chân Sư
Bá tánh luôn luôn giữ khuyết như
Hướng thiện giúp đời theo đạo lý
Cứu nhân độ thế với tâm từ

TLP 

chẩn ưu
軫憂: trăn trở phiền muộn.
khuyết như
闕如: còn ngờ thì không nói; không biết thì không viết.

 

Họa 3:

Chữ tu


Trong chốn trần gian vạn phép tu,
Tu tâm sửa tánh, sáng thay mù.
Tu thân giữ hạnh gieo hòa ái,
Tu núi lánh đời lắm huyễn hư.

Am cốc luyện thần cũng cách tu,
Non cao động vắng khói mây mù.
Cũng cần ẩm thực nuôi thân xác,
Trèo xuống trèo lên dạ chớ ưu.

Tu chùa tu cốc cũng là sư,
Sông suối hợp về một biển như.
Xoay chuyển nhân tâm về tính thiện
Trần gian cảm tạ vạn ngôn từ.
Minh Tâm

 

Họa 4:


Mở dạ đồng tu

Dẫu khác căn duyên khác pháp tu
Nhưng chung chuyển tánh sửa mê mù
Rời tham bỏ hận rèn tâm trí
Khởi tuệ từ sanh rõ thực hư

Đạt đạo luôn tùy ở hạnh tu
Càng tham đắm lợi dễ sa mù
Hằng tâm mẫn niệm vào chuyên pháp
Ngộ lý chơn thường thoát khổ ưu

Tâm đồng tín chúng lẫn môn sư
Vô trụ rời tham quán nhất như
Dụng chuyển tri hành khơi chánh niệm
Tùy duyên tuệ khởi trí tâm từ.
TQ

 

 

 

 

Friday, January 23, 2026

Lan - Nguyễn Cang & Ngắn Ngủi - Thảo Chương & Nhà Tôi - Diệp Văn

 Thơ Nguyễn Cang và các bài họa:

 LAN

 


















Gió Thu héo hắt động cành lan

Rực rỡ tình xuân nắng  ngập tràn

Chấp chới vờn quanh ong quyến rủ

Bồng bềnh xích lại bướm chàng ràng

Người về bước nhỏ chân in dấu

Ta đợi đò qua nắng sắp tàn

Đã mấy mùa Thu không trở lại

Dòng đời nghiệt ngã  biết đâu Lan?!!

Nguyễn Cang ( Jan. 15, 2026)

Họa 1/.

 NGẮN NGỦI

Thoang thoảng đâu đây mùi nhụy lan

Hương thơm theo gió tỏa tuôn tràn

Gọi mời đàn bướm bay đông đảo

Quyến rũ bầy ong lượn rộn ràng

Xuân đến cỏ cây đành héo úa

Đông sang hoa lá phải suy tàn

Loài người vạn vật đều như thế

Chia sớt tâm tình với Nguyễn Cang!

Thảo Chương

18-01-2026

Họa 2/.

                    

 NHÀ TÔI

Ngõ trước hồng hoa cạnh Cẩm Lan

Vườn sau gió thoảng quyện hương tràn

Trà mai độc ẩm ghiền khôn gỡ.

Rượu tối cùng nhau chẳng buộc ràng

Nhớ ngạt ngào hương Lài chớm nở

Thương hoài thõng thượt Lý nhanh tàn

Là thân lữ khách nhà tôi chẳng

Được mấy lần thăm hỡi Cẩm Lan.

Diệp Văn

(Jan. 20, 2026)

 

 

 

Từ Dạo Anh Đi & Còn Nhớ Hay Quên - Nguyễn Thị Châu

 TỪ DẠO ANH ĐI

 






















Từ dạo anh đi lược thôi cài

Tóc dài tóc rối tóc thôi bay

Xếp áo thu xưa vào ngăn tủ

Vắng lá thư xanh đến mỗi ngày

 

Từ dạo anh đi còn tiếng súng

Mai vàng vẫn đón gió mùa Xuân

Anh đi để lại bao thương nhớ

Vết tích thương đau dạ tủi hờn

 

Từ dạo anh đi nắng chiều tà

Có người thiếu phụ những ngày qua

Dáng xưa còn đó người  tình cũ

Nước mắt từ đâu? Cứ nhạt nhoà

 

Từ dạo anh đi vào cõi chết

Tim tôi nay đã nát tan rồi

Mùa Xuân không còn trong nắng ấm

Xa người rơi lệ khóc bi ai…!!!

20-1-2026

Nguyễn thị Châu

CÒN NHỚ HAY QUÊN

 




















Anh lính chiến ngày xưa đi xa xứ

Vì quê hương tan nát lửa binh tàn

Biết bao người đang cơ cực lầm than

Thân tù tội vượt biên tìm đất sống

 

Anh lính chiến ngày xưa có còn nhớ?

Cô giáo vùng biên tha thiết đợi chờ

Ngày trở về ta dệt bao ước mơ

Mấy mươi năm còn gì mà mơ ước

 

Anh lính chiến chắc hôm nay già lắm

Vì tuổi đời đã chồng chất lên cao

Cô giáo trẻ ngày xưa, như ngày nào

Vẫn làm thơ nhớ ai, và chờ đợi

 

Cánh hoa xưa giờ đây gầy héo hắt

Lưng đã còng tóc mây trắng bay bay

Vẫn ngồi đây làm bạn với tháng ngày

Anh lính chiến đã quên hay còn nhớ..???

 

20-1-2026

Nguyễn thị Châu

Wednesday, January 21, 2026

Tiễn Nhau Quán Nữa Khuya - Nguyễn Đạm Luân

Tiễn Nhau Quán Nữa Khuya 




Con Nhà Nghèo - Thuyên Huy

 

 Con Nhà Nghèo

Chuyện tưởng tượng, mượn một số tình tiết đời của một người nhà giàu có thật

1.

    Hiển nhẹ gỏ cửa, chờ, đưa mắt nhìn ra cái sân trước nhỏ xíu nằm bên trong hàng rào cao chưa qua đầu gối, lưa thưa vài cụm hoa Mười Giờ nở rộ, trời hâm hấp nóng nắng lên, xe lôi máy lưa thưa ngoài đường, đường vô cửa số Hai, tòa Thánh giờ này vắng người, mệt nhoài đâu đó rải rác năm ba cái xe đạp.



     Cửa hé mở, chưa kịp bước vô thì hai chị em con bé ùa ra, ôm chầm lấy anh ta, hô to mừng rỡ “chú Hiển, chú Hiển”, rồi đứa nào cũng giành kéo tay Hiển vô nhà, vừa kéo vừa gọi vọng vào, có tiếng xì xào bên nhà trong, hình như nhà có khách hay tiệc tùng gì đó. Khỏi ngạch cửa thì Quân đi ra, hai anh em ôm nhau, ngạc nhiên không ngờ, Quân nắm tay Hiển, xua hai đứa nhỏ chạy trước “về hồi nào?”, đi bên nhau vô nhà trong, chưa tới, thì Quân kêu lên “em ơi, chú Hiển”.

*

    Sẳn dịp nghỉ vài ngày phép, sau hơn hai năm ở Chợ Gạo, đổi qua quận Châu Thành Vĩnh Long thay anh Quân, về Tây Ninh, về Gò Dầu thăm nhà và tiện thể ghé Sài Gòn, qua bên trường Luật tìm mua mớ sách cho mùa thi năm cuối, ráng cho xong chuyện “đua đòi” vừa học bên này học bên kia, mà hình như có như vậy anh ta mới “đục bỏ được sầu đời”, cái sầu đời vốn lẻo đẻo theo mình từ ngày nào đó. Căn nhà mái “mái dột cột xiêu” nằm đầu ấp, ngó qua trụ sở xã Thạnh Phước, nghèo nàn, giờ nhờ tiện tặn, chắt chiu, sau ngày ra trường, được sửa lại, mái tôn vách tường, đường vào ngõ ra tươm tất, nên hai má con vui, cái vui giản dị, không cầu kỳ mộng tưởng.

    Nhờ sự vui vẻ ủng hộ của bác xã trưởng, Hiển nhờ người quen dựng cái sạp nhỏ bán bánh kẹo và vài thứ giấy tập, mực viết, bên kia đường, ngó qua cổng trường tiểu học Thạnh Phước, đồ lấy từ chợ quận về, bán cho đám học trò trong xã, má thôi không làm ở nhà máy làm đường nữa, có “bà ngoại” chạy ra chạy vô phụ trợ , bà vui mà má cũng vui.

*

    Nhớ anh Quân, người khóa đàn anh dễ thương, hiền hậu, chỉ dẩn mọi việc, cái này cần cái kia lo, dặn dò kỹ càng từ những chi tiết nhỏ nhặt trước khi rời Vĩnh Long vài tuần, còn rảnh một hai ngày nữa, sáng thứ Bảy Hiển đón chuyến xe đò lỡ sớm lên tỉnh ghé thăm, theo địa chỉ anh dặn,  khi anh nhờ điện thoại viễn liên tiểu khu gọi xuống Vĩnh Long hỏi tình hình, công việc của Hiển ra sao, mấy lần. Chị Hạnh, bà xã anh Quân, dân gốc Hốc Môn, lúc đó dạy ở trung học Tống Phước Hiệp , hai con bé con còn nhỏ xíu, đã từng “chú Hiển ơi chú Hiển ới” rồi, vợ chồng chạy đôn chạy đáo trước khi có tin đổi về Tây Ninh, may mắn quá, chị được chuyển lên trường trung học Tây Ninh, cái trường mà Hiển đã “mài đủng quần” trên ghế lớp học, suốt bảy mùa phượng đỏ, thu vàng, chị theo chồng, gần nhà, đường xá đi về cũng tiện.




    Hiển đứng khựng, ngỡ ngàng, Uyên cũng không khác, chết cứng, nhìn nhau ngạc nhiên, không ngờ hai người lại gặp lại nhau sau mấy năm dài, chị Hạnh đứng dậy cười “chào người từ Vĩnh Long”. Hiển mĩm cười, Uyên lặng thinh. Trong phòng, tại bàn ăn, còn có ba cô khác, ngồi cạnh Uyên, hôm này là ngày Giỗ má anh Quân, họ mời mấy cô bạn cùng dạy ở trường tới chung vui, Hiển ngồi xuống cạnh anh Quân chào mọi người, giới thiệu bạn anh Quân, từ xa về, rồi chị Hạnh giới thiệu mấy cô kia, tới chỗ Uyên, chị ngưng lại, cười nhưng xem ra hơi thắc mắc, vì thấy Uyên có vẻ lúng túng, không nhanh nhẹn như thường ngày. 

*

    Định lên thăm rồi về lại Gò Dầu ngay, nhưng anh chị Quân nằng nặc kêu ngủ lại chơi, chừng nào mới gặp nữa, hai con bé cứ nèo nẹo “chú Hiển”, thấy cũng vui Hiển ở lại. Xong bữa giỗ, Hiển cùng anh chị Quân theo đưa mọi người ra về, tới lúc này anh cũng chưa nói gì nhiều với Uyên, hỏi thăm qua loa vài câu thôi, thật tình anh không có gì để nói hơn nữa, Uyên chắc cũng bở ngở nên cố cười nhưng thấy lòng mình có gì nghèn nghẹn, nhớ chuyện xưa, Uyên nói nhỏ gì đó với chị Hạnh rồi theo ba cô kia ra đường, đứng chờ đón xe lôi máy về ngoài phố, Hiển nắm tay hai con bé đi vô, anh chị Quân còn đứng đó. Đêm đó ở lại, anh chị, trong phòng khách, nghe xong chuyện của Hiển, lặng thinh buồn.

2.

    Hiển quen Uyên, hôm cắm trại liên trường công tư, trong sân trường tỉnh, hai người học cùng lớp đệ Nhất nhưng khác ban. Đêm đốt lửa, trai gái mấy lớp đệ Nhất trường công lập, ngồi thành vòng tròn, cạnh nhau vây quanh đống lửa, đồng thanh ca bài họp mặt của hướng đạo, ai nấy vui cười hớn hở dù có người chưa có lần biết mặt nhau, Hiển ngồi cách Uyên một cô bạn, ánh lửa bập bùng rực sáng giữa màn đêm vừa chập chững xuống, không biết có phải số “lụy vì tình” hay sao, liếc nhìn trộm Uyên, tóc buông dài, mắt biếc đen huyền, môi má ửng hồng soi ánh lửa, bất chợt thấy lòng mình xuyến xao rung động, đã thương người vì “tiếng sét ái tình” như người ta nói. Càng xao xuyến hơn mỗi khi, chốc chốc Uyên quay qua hỏi tiếng này tiếng nọ, trong mắt Hiển, cô nàng đẹp, đẹp như người trong “Bích Câu Kỳ Ngộ”, rồi hai người gần gũi nhau hơn, nói nhau nhiều hơn, chuyện chưa có lần nào nói khi cả học sinh liên trường tụ vòng quanh, chơi trò, đố hỏi.






*

    Chiều hôm sau, đêm cắm trại chấm dứt, cuộc vui nào rồi cũng tàn, ai nấy thu xếp lều chỏng, dọn dẹp sân trường, chia tay từ giã, người mới quen bịn rịn, bước ở bước đi, hẹn ngày gặp lại đâu đó, cũng như họ, Hiển chào từ giã Uyên và một số bạn khác, cũng hẹn gặp lại, trên sân trường, trên đường tan trường về hay ngoài phố chưa biết. Uyên cùng mấy cô bạn thả bộ về, họ đi xa, khỏi ngã ba cổng trường, Hiển đứng đó nhìn theo, sân trường loang lỡ cỏ vàng loang màu nắng chiều vừa xuống, vắng lặng.

    Rồi ngày qua ngày, chuyện đêm lửa trại cứ dìu dặt nhớ và mỗi lần gặp lại Uyên trong sân trường hay tụ năm ba ngoài phố chợ, Hiển ôm ấp hy vọng môt ngày. Mỗi ngày một gần gũi hơn, Hiển cũng đôi ba lần theo đám bạn tới nhà Uyên, nhưng chưa dám nói ra.

*

   Gia đình Uyên giàu có nhất nhì trong tỉnh, nhà là căn biệt thự lớn, trên đường Pasteur, sân trước lát gạch nâu màu gỗ nung, rộng và trồng đầy hoa Sứ, rào tường, hoa leo kín bao quanh, cái cổng song sắt thường mở rộng, để chiếc xe Peugeot 404 màu trắng ra vô, theo con đường lát đá xanh chạy dài vào cái nhà xe, nằm hút sâu bên hông nhà. Gia đình cô có mấy xưởng cưa máy quanh tỉnh, mấy cái nhà máy xay lúa, hai ba căn tiệm bán máy móc, máy bôm nước, máy cày tay và nhiều thứ khác, thêm vào đó có tiệm bán xe Honda và nhà dưới Sài Gòn, Uyên có ông anh hai, là dược sĩ đang coi nhà thuốc Tây ngoài phố chợ.

   Rồi thì cái gì tới cũng tới, qua Tết, sau những ngày gần gũi, Hiển thật sự nói thương với Uyên, cô nàng không chối từ, bạn bè, ai nấy vui lây, đường phố, sân trường giờ có thêm cặp tình nhân mới. Chừng không hơn một tháng nữa tới ngày thi Tú Tài Hai, cũng với đám bạn thân thường ngày, tới nhà Uyên chơi, hai bác ba má Uyên cũng vui vẻ, từ tốn như những lần trước nhưng lần này hỏi thăm chuyện nhà của Hiển nhiều hơn và lâu hơn.

*

    Nhà Hiển nghèo, mái tranh vách ván, đất nứt nẻ khô cằn, may mà còn được khoảnh đất sau còn tốt, nên má cũng trồng được luống cải luống rau, nuôi được hai ba con gà con vịt, má đi làm công nhân quét dọn tại một nhà máy làm đường, xế trụ sở xã, gần nhà chừng mưới lăm hai chục phút đi bộ, một thân má, suốt những năm nghèo lo ăn lo mặc của hai má con từ ngày ba Hiển bị tai nạn xe hàng mất, ở khúc quanh họ Bình Nguyên, khi anh vừa lên lớp Nhì. Thấy má vất vả, lam lũ gần hết nửa đời người, lên trung học có nhiều lần Hiển muốn nghỉ học, ở nhà phụ má, chút nào hay chút đó nhưng bà nhứt định không chịu, nhứt định con phải học. Gần bên có bà ba, không có chồng, Hiển luôn miệng “ngoại ơi ngoại hởi” có cô con gái lấy chồng xa, về đâu đó trên Bình Long, nghèo như nhà Hiển, chạy qua chạy lại, che mưa chống nắng, che gió che bão, khi tối lửa tắt đèn nên má đở một tay, những bữa cơm chiều thường có bà ăn chung, con khô miếng mắm, vậy thôi.

*

    Ngày thi đậu lên đệ Thất trường tỉnh, má mừng mà khóc mấy ngày, ai trong nhà máy làm đường cũng mừng cho má, ông chủ còn tặng cho số tiền nhỏ, mua quần mua áo để lên tỉnh học, vì ở Thạnh Phước, đám học tiểu học xã chỉ có Hiển thi đậu. Hai má con, bưng mâm trái cây, mấy nén nhang thơm mua từ chợ xã, ra mộ ba, thắp nhang báo tin mừng hết mấy ngày, ngoài phố quận nghe cũng có mấy đứa nhưng không ai quen.

*

    Lên tỉnh, Hiển trọ ở căn nhà ngói cũ, chung với ba bốn đứa khác cũng ở làng xã xa lên, trong đó có hai anh học lớp trên, quen nước quen cái nên được chỉ dẩn cái này cái nọ, chỗ này không xa ngã ba, ngó qua cổng trường, nên không phải lo chuyện đi đứng, bà bác chủ căn nhà, già lắm rồi, tu tại gia, có quen sao đó với “bà ngoại”, cơm nước thì bà lo cho, có gì ăn nấy, tiền góp đứa nào đưa bao nhiêu cũng được, có khi bà không lấy, ngoài những lúc tụng kinh gỏ mỏ bà đi tới đi lui, nhắc đứa này đứa kia chuyện ngủ nghê học hành, khi nào bà cũng cười, chưa bao giờ thấy bà nhăn mài cau có, cho nên đứa nào cũng thương bà cũng như bà thương bọn nó như con như cháu. Vậy mà Hiển đã ở đây suốt bảy năm dài trung học, má và “bà ngoại” cũng thường đón xe lên tỉnh, đem theo chút rau chút thịt phụ bà chuyện cơm nước, ở chơi với bà cả buổi rồi mới về, về mà bịn rịn.

*

    Hôm từ giã bà về dưới nhà, chuẩn bị cho ngày thi sắp tới nay mai, trường đã bải, đám nhỏ về quê hết rồi, hai bà cháu ngồi bên nhau, bà mắt ướt đỏ hoe, Hiển khóc sướt mướt, bà nắm tay, xoa đầu dặn dò cố học, nhớ lo cho má, bà vào phòng, Hiển ngồi sắp xếp các thứ lặt vặt, sách vở bên ngoài, có tiếng bà tụng kinh nho nhỏ, có mùi nhang thơm, có tiếng mỏ từng nhịp, kéo dài buồn não nuột, bà tụng kinh cầu Phật hộ trì, độ cho Hiển thi đậu. Hiển lên xe lôi máy, bà đứng trước nhà nhìn ra, buồn thật buồn, xe chạy đi một khúc khá xa trên đường ra bến xe tỉnh, Hiển nhìn lại, bà còn đó, Hiển bật khóc.

3.

    Hôm đi xem kết quả kỳ thi, Hiển thở phào, có tên mình, vậy là xong, trút được mọi lo lắng, tạm yên một phần đời, không vui không buồn. Sân trường, cổng trường Trưng Vương đông nghẹt người ra người vô, người cười người khóc, cười một mình, Hiển thong thả thả bộ ra đường, về hướng sở Thú, gặp Tuyền, cô gái trong đám bạn thường cùng tới nhà Uyên, cười tở mở, cho biết thấy tên Hiển rồi, đám bạn cũ cũng đậu hết, cả Uyên, nói tới Uyên bổng nhiên Tuyền lặng thinh khựng lại phút chốc. Hình như muốn nói gì đó mà còn chần chừ, vì chơi nhau khá thân nên Hiển cười thầm “chắc tâm sự ỉ ôi gì đây”. Hiển chưa gặp cô nàng hôm về dưới nhà vì Uyên đã đi Sài Gòn trước đó mấy ngày, hai người đi ra ngã tư, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm không thấy dài đủ chỗ cho rừng người vội vã chen nhau về hướng trường, đường phố Sài Gòn vừa lên nắng, một cái nắng hâm hấp nóng của ngày giữa hạ, từ hướng sông, chưa có gió về.

*

    Bữa ăn cơm trưa tại cái quán nhỏ trong hẻm Casino, Tuyền xem ra cứ chần chừ, nhìn Hiển cười nhưng cái cười đượm vẻ lo lắng hơn là vui. Rồi thì cũng nói ra, khi Hiển hỏi tới hỏi lui. Hôm cuối trước khi tạm biệt nhau, chuẩn bị khăn gói xuống Sài Gòn thi, cô có tới ở chơi với Uyên, chuyện qua chuyện lại nầy kia, không biết trước đó gia đình Uyên có chuyện gì nhưng nghe được má Uyên nói “ông bà không đồng ý cho Uyên tiếp tục liên hệ với Hiển, không bao giờ có chuyện hôn nhân gã cưới, với lý do nhà Hiển nghèo, mẹ góa con côi, không làm sao lo đủ, vã lại sẽ là gánh nặng cho gia đình ông bà khi cần tới chuyện thăng tiến nghề nghiệp và nhiều thứ khác”.

     Tuyền nghe mà cắn môi, lặng thinh nhưng cũng cô làm bộ hiểu ý, cảm thông nhưng bất bình trong lòng, đáng lý định ở lâu hơn nhưng Tuyền từ giã Uyên về sớm, vì cảm thấy hơi bất mản việc này nhưng thôi, đó là chuyện của gia đình Uyên, cô không có vai vế gì can dự. Ra về, đẩy xe Honda ra, Uyên theo ra tới cổng, Tuyền hỏi ý Uyên thế nào về chuyện này, Uyên ngâp ngừng rồi cười gượng “mình cũng có lúc nghĩ vậy, chắc ba má mình nói đúng”. Tuyền chết lặng “thôi tùy mầy”. Lái xe chạy thật chậm trên đường, chuyện của người nhưng bổng dưng Tuyền muốn khóc.

    Nghe xong, Tuyền chờ, Hiển khẻ mĩm cười bằng hai tiếng “cám ơn”, sắc mặt không có gì thay đổi, trời cũng đã quá trưa, xong bữa ăn hơi chậm vì câu chuyện, hai người ra đường, chia tay nhau ở ngã tư trước rạp Casino, Tuyền cần làm gì đó, đi về hướng quốc hội, Hiển vẫy tay ngược lên bến xe, chờ chuyến xe cuối về Gò Dầu, Tuyền vừa đi vừa nhìn lại, Hiển đã khuất mất giữa dòng đường đông nghẹt người từ chợ Bến Thành lên.

    Ngồi ở bến xe chờ, Hiển nhìn thiên hạ qua lại trên đường, nghĩ chuyện mình, anh mĩm cười không than thân, không trách đời và không giận người, tiếng người lơ gọi khách, Hiển thanh thản lên xe, và không gặp lại Uyên từ ngày đó.

4.

    Tốt nghệp Sư Phạm, về lại dạy ở trường cũ đã học chưa lâu thì mùa hè đầu năm đó, Uyên thành hôn với một anh phi công cấp tá, dân Sài Gòn, gia đình cũng giàu rất giàu, có hai cửa tiệm, một bên bán truyền hình, máy hát, một bên bán tủ lạnh, máy giặt, có cái cao ốc cho mướn cuối đường Tự Do, gần bến Bạch Đằng, và đồn điền cà phê trên Ban Mê Thuộc. Chuyện vợ chồng “xuôi chèo mát mái” chừng năm sáu tháng, tình cờ Uyên gặp lại cô bạn học chung năm chung ngành, dạy ở Cần Thơ, về nhà ở Sài Gòn chơi, cô này cho biết, ở Cần Thơ, nhất là ở phi trường Bình Thủy, cô không lạ gì với chồng Uyên,ông ta dưới này rất đào hoa bay bướm nhưng cái đáng nói là anh ta có đứa con rơi dưới đó.




    Tin này làm gia đình Uyên bàng hoàng, gia đình chồng có vẻ biết chuyện này rồi, hai bên không gặp mặt nhau, và chấp nhận ly dị một cách êm thắm, không chia chát tài sản, không vướng bận con cái. Tiếp tục đi dạy, vui với đồng nghiệp bạn bè, nhất là với chị Hạnh, vợ anh Quân, tuy mới về dạy không lâu, thường ghé nhà chơi với hai con bé. Và rồi, qua mối tình thân chị em này, chị Hạnh cho Uyên biết Hiển đang làm gì, hai tiếng mà chị đã gọi ở bữa tiệc đám giỗ ngày đó và làm ở đâu. Chị cũng để ý, nói với chồng, mấy lúc gần đây, khi nghe nói về Hiển, Uyên ít nói hơn trước, mặt buồn buồn và không có nụ cười nào trọn vẹn.

*

   Bữa cơm chiều ở nhà Uyên, xem ra tẻ nhạt, ai nấy cũng ăn ít hơn mọi bữa, anh hai Uyên ngưng đủa nhiều lần, nhắc ba má còn nhớ Hiển, bạn Uyên mấy năm trước mà nhà mình không cho Uyên liên hệ với anh ta, chê anh ta con nhà nghèo,   hiện giờ là người đang có chức vụ giống như anh Quân, chồng chị Hạnh, tuần rồi không biết anh cần Quân chứng thực một số giấy tờ gì thuộc thẩm quyền của quận, nên có tới văn phòng gặp, qua Quân, vì biết là anh của Uyên, nên nói chuyện ngoài lề một chút, trong đó có chuyện của Hiển.

    Ông bà ngồi nghe, ngưng ăn, lặng thinh, bà nhìn Uyên, cô nàng cũng lặng thinh như họ, bà xem ra có chút gì đó bàng hoàng, ông thì lơ đảng nhìn ra sân, hai con bướm vàng hồn nhiên đuổi nhau quanh mấy cành hoa Sứ, thở dài. Không ai đụng tới chén đủa nữa, bấy giờ, Uyên đứng dậy, bưng chén bát dẹp như mọi ngày, vừa đi vô trong vừa nói đủ nghe “con biết chuyện này lâu rồi, mà không nói ra thôi”.

5.

    Gần Tết, tan trường về, Uyên lái xe Honda, đưa má tời nhà anh chị Quân thăm, trời sắp về chiều, nhà nào nhà nấy hai bên đường vào Cửa Số Hai rộn ràng sửa sang đón Tết. Đời Hiển như thế nào, chị Hạnh không biết và hiểu nhiều nhưng có một điều chắc chắn là chị hiểu và thương cho câu chuyện “con nhà nghèo” của Hiển cũng như anh Quân, cũng con nhà nghèo, mấy năm hai anh em ở chung phòng nội trú trong trường, vui buồn cùng chia sẻ, nên anh thương Hiển như em của mình, sau đêm nghe chuyện, anh Quân dặn và nhắc chị là, đừng nói với Uyên và gia đình cô ta nhiều về Hiển, trừ những gì họ đã biết. Anh Quân chưa về vì bận việc gì đó nên ba người chuyện trò vui vẻ, không cần ngại gì hết. Hai con bé nghe mẹ dặn, chỗ người lớn nói chuyện, nên kéo nhau ra sân chơi với đám bạn cùng trường nhà bên.

    Linh tính cho chị Hạnh biết, có lẽ má Uyên cần hay nhờ chị cái gì đó, quả đúng vậy, trời chắc cũng đã nhạt nắng ngoài sân, có mây xám và bụi đường, đám nữ sinh, áo dài tóc xỏa, trên đường về nhà, đạp xe từng tốp, nói cười như mở hội. Lúc này, sau vài phút chần chừ, bác gái, má Uyên nhờ chị Hạnh có thể cho biết nhà má Hiển dưới Gò Dầu chỗ nào không, Uyên ngồi nghe, nhìn bác, nhìn chị Hạnh, lặng thinh buồn ra mặt. Chị Hạnh, thân mật cười xin lỗi, chị chỉ biết là ở Gò Dầu thôi nhưng thật tình không biết ở chỗ nào, anh chị chưa lần nào tới. Đúng ra, chị biết, anh chị đã xuống dưới, thăm má Hiển nhiều lần nhưng phải nói dối, cái nói dối mà chị đành phải dù trong lòng cũng buồn nhưng hài lòng.

6.

    Chị nhớ lời Hiển, sau khi chấm dứt chuyện tình lỡ, lỡ một cách phủ phàng của mình trong đêm ngày đó “mấy tiếng con nhà nghèo, mẹ góa con côi nặng nề và đau lòng quá, tình đã chết trong em rồi, xin đừng nhắc tới”, lời này vẫn nghe văng vẳng bên tai. Đưa má con Uyên ra về, chị nhìn hai người, hứa, nếu biết sẽ cho Uyên biết. Theo ra đường tiễn, trước khi lên xe Honda má Uyên còn nhắc chị, nhớ giúp giùm bác, chị cười gật đầu, xe chạy xa rồi về hướng ra ngã ba Mít Một, chị nhìn theo, thở dài mà thương “con nhà nghèo”.

 

Thuyên Huy

Chạnh nhớ chuyện một người 2026

 

   

  

  

   

  

   

   

     

 

 

   

     

   

   

Một Đêm Họp Đưa Ma Vũ Trọng Phụng - Nguyễn Tuân

 

MỘT ĐÊM HỌP ĐƯA MA VŨ TRỌNG PHỤNG




 

Tôi bước vào nhà in báo Con ong và hỏi luôn cái người to lớn lù lù đang cầm bút trên giấy:

-Gì mà điện thoại nhắn nhe ầm lên thế?

Tam Lang – người to lớn lù lù ấy – bảo tôi hãy ngồi xuống đã, đợi một vài bạn nữa đang bận tay chữa bài dưới nhà in lên. Tôi nghĩ thầm chắc lại hội họp để cắt cử người đọc điếu văn Vũ Trọng Phụng ngày mai đây. Ngồi kéo nốt mồi thuốc đang tàn trong lòng điếu, tôi nghĩ đến người vừa nằm xuống và nghĩ luôn đến cái chết lạnh lẽo của các giống nghệ sĩ ở đời. Tôi nhớ đến một chiếc lá vàng vừa rụng khoảng đầu năm nay trên lối đi vắng vẻ nơi ruột rừng văn An Nam. Đầu năm nay, Tản Đà mất.

Chiếc lá vàng ấy chưa kịp mục, thì rừng mùa thu lại hái thêm một chiếc lá xanh ném xuống đất. Người ta tiếc thi nhân chưa nguôi, thì giờ người ta lại được khóc một văn nhân nữa. Cái làng văn An Nam vốn đã thưa thớt, lại càng quạnh quẽ muôn phần.

Chợ Hôm về chiều tháng chín mùa thu, vào lúc gần tan, càng gợi thêm cái mệt mỏi trong lòng một thứ người sống với một chút hoài bão riêng ở đời.

Tia nắng hanh cuối cùng đã tắt. Gió heo gửi vào cửa sổ tòa báo Con ong một chiếc lá vàng cuộn tròn mép.

Tam Lang bó những bản thảo và giấy má bừa bộn vào tủ và không vui, không buồn, bảo tôi:

-Tí nữa đi sang sông. Bây giờ đi ăn.

-Au de là du Rhin?

-Phải.

Thế nghĩa là tối nay, nhân một cuộc hội họp về tin Vũ Trọng Phụng vừa mất, chúng tôi qua bên kia sông nghe hát ả đào. Thường mỗi khi rủ nhau qua cầu Sông Cái để thức đêm ở xóm Thượng Cát, chúng tôi sẵn có một câu nói lóng: Au de là du Rhin. Con sông Rhin đây là sông Nhĩ Hà. Và sau cái bờ sông Rhin này là những căn nhà hát…thứ nhà hát không sạch sẽ, không sáng sủa. Chúng tôi có cần gì đến căn nhà rộng sáng, đến con hát đẹp và hay.

Chúng tôi tối nay chỉ cần một nơi để họp nhau cho trọn đêm để sớm tinh mơ ngày mai, lại cả đoàn kéo nhau qua cầu chạy theo một cái xe đám ma người bạn chết non.

Thấy người cùng tuổi cùng nghề phải chết một cách sớm sủa mau mắn như thế, chúng tôi thấy đời là ngắn lắm mà chúng tôi càng phải gần sát mãi nhau lại cho đỡ lạnh.

Hạng người cầm bút trong xứ không nhiều nhõi gì; mỗi khi có một người ngã vì bệnh nạn, chúng tôi càng phải dồn nhau lại để hàng ngũ đỡ trống trải. Cái giây phút này, ta thường buồn cho người vừa chết, ta thường buồn cả cho ta.

Hỡi những người chỉ sống cho luân lý, sống bằng luân lý, tôi không khi nào van xin các người đừng cười chế chúng tôi sao lại dám khiêu vũ chung quanh một chiếc quan tài chưa gắn kín sáu con cá. Có lẽ cũng chỉ vì những tiếng chày đang nện cá nặng nề bên quan tài kia đã dội nhiều vào lòng bọn người sống một cách hốt hoảng, vô thường định với cái cô quạnh của tinh thần như bọn tôi, nên chúng tôi đã rủ nhau đêm nay sang sông mà uống rượu cho say, mà nghe hát, cũng cho đến say, và điên cuồng mà nhẩy đầm quanh một cái xác chết. Có như là gần thời chiến tranh, lúc này người ta lấy tốc lực ra mà sống cuộc đời mình. Biết đâu ngày mai chẳng là không còn gì nữa.

Nếu lúc này gọi được hồn Vũ Trọng Phụng lên mà hỏi câu này, chắc anh lia lịa gật đầu.

Người bạn tội nghiệp của chúng tôi chết. Ngày hôm sau, đưa đám buổi sớm. Nhận cái tin buồn ấy – chúng tôi hát và hút thuốc phiện. Đã buồn chưa? Tôi muốn hỏi tất cả những người bạn tha thiết với Phụng, những người sống với phụng sự nghệ thuật bằng một chuỗi ngày chìm chìm tẻ tẻ, xem những ai là người chịu ngủ cái đêm ấy ở nhà mình?

Đêm ấy, bên kia sông, nhà hát lạnh như nhà mồ. Bọn ca nhi trông người nào cũng cao lênh nghênh. Sự nghèo đói làm cho người họ dài hẳn ra. Ngọn đèn dầu lạc chỉ là một ngọn đèn thờ. Người kép khẳng khiu như một cây khô, cũng chỉ đủ là nhạc công một phường bát âm cho nổi lên một bản hòa nhạc chết khi người ta dâng cơm cúng.

Chúng tôi cười một cách điên dại như đám thủy thủ một con tàu ngầm gặp nạn, tàu cặm vào rốn biển cả.

Chúng ta thương nhớ thằng Phụng nhiều nhất là giữa giờ này. Hỡi ôi!

Một người nói. Một người hút. Một người không làm gì cả. Hai người úp mặt vào tường, cười và thở dài với cái bóng in trên tường đầy máu rệp và xác muỗi khô. Tôi đánh trống, gãi hai chiếc roi chầu. Cố đánh cho tử tế, mà tôi nhận thấy tiếng trống của tôi chỉ là tiếng trống bản.

Và tiếng phách của Tỳ bà đủ là những tiếng sênh chấp hiệu cho một cỗ đòn đám khởi hành xuống huyệt. Cũng phong phanh như đám ca nhi, chúng tôi cảm thấy đêm thu cứ thấm dần qua lần vải mỏng sơ mi và đi mãi vào lòng. Những manh sơ mi này phải nương nhẹ, giữ sao cho vẹn màu hồ để ngày mai đưa Phụng nó lên đường.

“Chúng ta nên đẹp, quanh cái chết một người thân”.

Đêm lạnh lắm, nhà hát nghèo, không có chăn.

Chúng tôi hút thuốc lá nhiều như bọn lính Tây cho nó được ấm bụng. Và nằm dịch mãi vào nhau. Một người kêu không khéo mai về ốm mất. Khói thuốc ba thứ thuốc, thuốc phiện, thuốc lào thuốc lá – đã có vị chát và ngửi nhiều quá, thấy lạc cả mùi ngày thường.

Bây giờ giữa cái thấm thía của đêm nhà hát, chúng tôi mới bắt đầu nói đến Vũ Trọng Phụng. Mỗi lúc nói đến chuyện bạn lại phải kèm thêm những câu: lúc sinh bình, hồi còn mồ ma hắn.

-Nhiều người còn sống sờ sờ kia, oán thằng Phụng lắm. Chúng nhìn thấy hình ảnh chúng ở Nghị Hách, Xuân Tóc Đỏ, v.v..

-Thằng Phụng mà đánh đàn nguyệt thì có giết người không? Ừ, nó đàn có những tiếng nắn dễ thương và lẳng lơ lạ.

-Lại còn cái chướng nữa là hắn thích làm thơ. Các anh thử tưởng tượng xem cái phản động lực văn chương của quần chúng độc giả sành xem nó ra sao, khi họ đọc thơ Vũ Trọng Phụng?

Chúng tôi cười rộ. Và tiếp:

Thế nghĩa là cụ Minh viên Huỳnh Thúc Kháng viết truyện ngắn đấy.

-Và cụ Phan Bội Châu nhận lời giữ mục phê bình “Màn ảnh và sân khấu” cho một tuần báo văn nghệ.

Chúng tôi lại cười ồ.

Thằng Phụng, về đức tính, có điểm này khá nhất là nhận thầu tờ báo nào là không hay quỵt tiền anh em viết giúp. Trong bọn cầm bút có những thằng đứng lên nhận “đẩy” sách và bán bài giúp cho bạn, rồi lại ăn cả tiền nhuận bút không chia cho bạn lấy một đồng xu nhỏ, kể ra Phụng là một người đáng được nêu lên làm khuôn mẫu.

-Về tiền nong, Phụng phân minh về chỗ tài thượng lắm, nhưng nhiều khi hắn cẩn thận như một con người công chức. Về xã giao, hắn quan tâm nhất về chỗ kẻ cười người khóc. Ai phúng nhà mình một nghìn vàng, một thẻ hương; ai mừng một chai rượu hắn đều có biên cả. Để rồi chờ đợi mà biếu lại, mà mừng lại. Có ai quen Phụng, dầu là sơ sơ, mà ốm, là Phụng là người đầu tiên vào cửa nhà thương để thăm hỏi.

-Thế là hắn tốt chớ sao? Nhiều người đọc sách của Vũ Trọng Phụng lầm nhiều về cái người ở Phụng. Họ đều cho Phụng là nham hiểm, là cơ tâm, là tâm điền xấu. Để sinh ra ngộ điểm ấy, cái lỗi của Phụng là đã đem những cái thối mọt, cặn bã nhân tâm vào trong tác phẩm mình đến đầy rẫy.

-Riêng gì Phụng, có chán vạn nghệ sĩ khác, từ trước tới đây, bị hiểu nhầm như thế.

-Những anh nào ở đây đi lại với Phụng nhiều nhất nhỉ? Bà cụ đẻ anh Phụng, đáng quý lạ. Thật là một bà mẹ chí từ. Hai mẹ con, một người chí từ, một người chí hiếu. Cái hồi Phụng ốm lại về dạo sau này. Phụng nằm mãi, buồn tay muốn ngồi dậy viết, bà cụ ngăn nhiều lắm. Rồi cứ thế mà ngồi quạt cho con cả đêm.

Phụng chết trẻ. Cái đáng tiếc nhất trong đời người bạn chúng ta là Phụng thiết thực quá. Đời Phụng chưa có một cái mộng nào để mà ôm, chưa mơ màng đến một cái gì để thỉnh thoảng lìa khỏi cái tẹp nhẹp mè nheo ở đời này. Trong đời Phụng, Phụng cứ hành động theo suy nghĩ nhiều quá. Chưa có một giây phút nào, hắn dám điên cuồng lấy một tị.

Tôi nằm tiêm thuốc bên khay đèn, tôi đã đánh cháy điếu thuốc…Tôi nhớ đến cái chuyện tôi mua một bức tranh lụa bày ở phòng triển lãm mùa đông năm ngoái.

Hồi ấy, thấy tôi rước một bức thủy họa về để đến nỗi chậm cả áo mặc mùa rét đã dồn về từ lâu. Phụng tìm đến tôi, ngắm bức họa với sự chế nhạo và “chửi” tôi là một thằng điên và nói: “Tao không bao giờ lại có thể điên như thế”. Tôi lặng thinh. Từ đấy về sau, không bao giờ tôi thuật lại cho Phụng biết những cái phút điên khác của tôi nữa.

Bạn tôi, sống ở đời, thực là một người thích sự phải chăng quá. Phải chăng khi đụng chạm với người khác, phải chăng trong cái mặc, trong cái ăn. Nói đến cái ăn tôi lại thêm buồn cười. Từ khi đánh bạn với Phụng, tôi biết Phụng chưa hề “mạo hiểm” ăn một thực phẩm lạ bao giờ.

Chỉ hết phở xào rồi lại áp chảo và quanh quẩn chỉ đậu rán, bún chả, bún bung. Có lẽ có một số tiền vài trăm giắt túi chẳng hạn, Phụng cũng chỉ đòi ăn có thế và buộc bằng hữu ăn như thế. Nói đến ăn uống, tôi lại nhớ thêm đến một buổi họp có cả Phụng, có cả Tản Đà. Thấy có ông Tản Đà, Phụng thành tâm đi mua hai gói kẹo lạc va ni đưa về tiệm hút, cố mời người thi sĩ già.

-Mời cụ xơi kẹo lạc.

-Ông bảo cái gì?

-Dạ, kẹo lạc va ni, giòn và thơm lắm.

-Kẹo lạc! Ăn ra cái quái gì.

Buổi ấy, nhà thơ có tuổi đã làm tiêu hết chút ít cảm tình của Vũ Trọng Phụng. Ngày thường, Phụng với cái tính cách thiết thực của một người phóng sự, đã không chịu được Tản Đà kềnh càng rồi… Hai người ấy giờ đã là ma, cùng thở hơi cuối cùng ở một xóm Cầu Mới, nhà số 71 và 73; cùng yên nghỉ ở một nghĩa trang. Chắc ở dưới ấy, giờ gặp nhau, hai người tránh sao được nhiều cái lủng củng, nếu hai hồn ma không chịu nghĩ đến cái tàn lạnh cuộc đời chung của tài hoa mà chịu đựng lấy nhau!

Trong cái sống phải chăng của Phụng, có một cái phải chăng này đáng cảm động hơn hết. Là những thứ văn phòng tứ bảo. Mực anh dùng viết là một thứ mực tím ít khi tươi màu, phần nhiều là loãng và luôn luôn là nhạt, là chết. Giấy anh dùng là thứ giấy sáu xu một thếp đã kẻ sẵn. Đấy là thứ giấy của vô danh với cái khuôn khổ của tất cả mọi người. Ngòi bút Phụng thích dùng nhất là cái thứ ngòi Incomparable, xu ba ngòi. Giấy, bút, mực ấy là giấy, bút, mực của học trò. Thật là bình dị quá. Thế mà lời văn dùng bút ấy mà ký thác lên giấy ấy lại chẳng xoàng xĩnh chút nào. Những người cầu kỳ về văn phòng tứ bảo như chúng ta, nghĩ tới cái tiểu tiết này trong đời văn sĩ của Phụng, họ chẳng nên lấy làm nghĩ ngợi? Phụng còn phải chăng cả đến những cái thèm muốn về tương lai. “Tao chỉ mong sao mỗi khi chúng mày đàn đúm kéo nhau về chơi tao, thì có được mãi mãi một mâm cơm cho tươm tất và cái khay đèn không phải thiếu thuốc”. Đấy là câu Phụng nói vào một buổi chiều tết Trung thu năm nay, khi còn ở phố Hàng Bạc và trước hôm dọn về Cầu Mới được hai ngày.

Dạo ấy, Phụng vì thấy bệnh ấy phá phổi mình rõ ràng quá, theo lời thầy thuốc, đã phải rước tĩnh về bày ở nhà. Nếu quả việc một người trẻ tuổi mà vướng nghiện a phiến là có lỗi với danh giáo thì Phụng đã bằng lòng chịu xấu với dư luận để cố mà lùi lại kỳ hạn của ngày lên đường. Lên đường về xứ chết. Phong, lao, cổ, lại, tứ chứng nan y! Vả chăng ông bạn đầu xứ Ngô Tất Tố cũng đã nói riêng với tôi rằng chả chắc Phụng có qua được mùa rét năm nay không. Mùa lạnh chưa tới. Mới là có tiết thu thôi mà cái lá xanh đã lìa ngàn, một cái ngàn văn mà cây cối còn thiếu những cổ thụ um tùm rắn rỏi.

Tôi đã lấy làm bằng lòng tôi là vào những ngày cuối cùng của Phụng, tôi đã phóng túng hình hài với con bệnh lao chờ lúc lên đường ấy mà ăn, mà uống, mà hút với Phụng cứ hàng nửa ngày. Phụng cười, chừng muốn hỏi: “Một người thèm sống, sợ già, tránh chết như mày mà cũng dám coi thường vi trùng lao của tao thả ra sao?”. Những buổi ấy, tôi không cần giữ gìn vì tôi tin rằng làm thế, sẽ tủi lòng người bạn thân mà ngày giờ đã bị đếm trước. Vả chăng, trong người tôi ngầm cũng đã nhiều vi trùng lắm rồi. Có thêm một ít của Phụng nữa cũng không sao.

Nhân Phụng vừa nằm xuống, tôi lại tìm trong đầu xem trong bọn nhà văn trẻ, những người nào là cầm lỏng được cái chết. Thế Lữ, Tchya, Lưu Trọng Lư, Lan Khai, Đoàn Phú Tứ, Thạch Lam . . . , đều là những người đủ tư cách để sớm lên đường lắm. Ngực người nào cũng lép như cái đồng hồ ômêga trông nghiêng. Những người trẻ trung này có nằm xuống cũng đều nhẹ nhõm lắm đây. Tôi không độc mồm nguyền rủa ai. Trái lại. Và buồn thương lắm.

Ngẫm đến cái mỏng mảnh về thể chất người đồng điệu, tôi đã tự hào khoe với mấy bọn nằm trong nhà hát rằng tạng tôi vững vàng và cứ cái thể chất chắc chắn này thì cứ tha hồ mà lấy đêm làm ngày, cũng còn lâu tôi mới chịu mòn. Một anh bạn đã làm vỡ điều tin tưởng ấy của tôi bằng một cái thí dụ lấy ở Đinh Huy Hạo, một người cầm bút có luôn cả sức khỏe và sức mạnh, đã từng viết cuốn “Nòi giống tốt”.

-Trong bọn ta, đứa nào khỏe bạo bằng tên Đinh Huy Hạo. Vậy mà cũng chỉ một sớm, một chiều thôi.

Tôi buồn rầu, thiếp dần. Thế rồi, trong gian nhà hát đã về sáng, như ngọn đèn bốc mạnh lúc gần tắt, cả bọn chúng tôi mệt mỏi lại muốn nhổm cả dậy để nói chuyện thương tâm. Thuốc đã làm chúng tôi vỡ giọng và tiếng nói ồ ồ.

-Phụng chết nhiều người thương tiếc hơn là Tản Đà. Một người chết trẻ bao giờ cũng lấy được nhiều nước mắt hơn là người chết đứng tuổi.

-Thằng Phụng còn hứa hẹn cho văn học nhiều tác phẩm lắm. Sao trong làng văn, những người như thế đã chết mà lắm thằng bất tài khác thì lại cứ sống mãi để anh em phải sốt cả ruột?

Tôi cho rằng nghệ sĩ nên chết trẻ, nếu mình có quyền chọn tuổi chết. Tài sắc con người ta ở đời, ai cũng chỉ có một thời thôi. Con tằm nhả được tơ óng mãi hay sao? Sống bấy lâu, nhiều khi cũng hớ. Nó chỉ tỏ ra rằng mình có cái da thịt cứng quá, trùng khó đục thủng mà thôi. Ai mà chịu được một nàng Tây Thi tóc bạc da mồi. Một người tướng tài mà không chịu hết tắt với dặm nghìn da ngựa mà lại chết già trong giường vợ, thì còn gì dại dột hơn nữa.

Chúng tôi thức cả đêm bàn tán về chuyện nên sớm nghĩ đến việc Hội ái hữu nhà văn. Vào khoảng năm giờ sớm ngày chủ nhật 15-10, bọn tôi lại từ Thượng Cát kéo bộ về Hà Nội. Trời thu thả sương sớm tựa như vào một buổi thả lưới bắt chim mồng, chim két. Qua chín nhịp cầu Bồ Đề trên con sông lạnh, bụng chúng tôi cồn cào hết sức.

-Đám đi sớm quá nhỉ. Bảy giờ đã cất. Đi hết cầu, về đến bờ bên kia sông ít ra cũng mất 45 phút. Lại còn kéo ra đến ga tàu điện Bờ Hồ. Và từ đấy vào Cầu Mới. Thế mà cũng vừa thời giờ thôi đấy. Nhanh bước lên! Các anh.

-Phải tìm cái hàng cháo mà ăn chứ không có lạnh bụng lắm.

-Ừ phải đấy, chỉ giữ lại đủ sáu suất vé tàu điện thôi, còn thì chén hết. Còn được đồng bạc không?

Trời chưa hửng hết. Cái phố Hàng Bè. Chúng tôi sà vào một hiệu cháo lòng vắng vẻ. Tiết canh, dồi mỡ, lòng chay. Và cháo khói. Xì xụp húp với nhau như một lũ con đàn một gia đình kẻ khó ăn cháo canh bồi thay đồ ăn chắc, tôi vốn giầu tưởng tượng, tôi nghĩ đến một cuộc tụ họp của các bạn phóng viên báo hàng ngày, một buổi sớm tinh sương mùa lạnh ở một quán cơm Cửa Nam rồi đi “xem” hành hình ở cửa Hỏa Lò vào khoảng những năm 1930, 1931. Chưa bao giờ tôi thấy một bừa điểm tâm cảm động như sớm nay. Sớm nay húp quanh lợi bát cháo nóng như người phải trả nợ dần, tôi tưởng đến người chết mà bùi ngùi, tôi nghĩ đến người còn sống lại mà thêm thương tủi.

Thế mà đám đã khởi hành được mấy phút.

Tôi vốn có một tập phóng sự về tiệm hút. Chính Phụng đã xui gọi tôi viết thiên “Tàn đèn dầu lạc” vào một tờ tuần báo và lúc góp những bài đăng ấy để đưa xuất bản thành sách, ở trang đầu, đề lời tặng, tôi viết: “Những tập phóng sự này, biết nên tặng ai?” ngụ một cái ý đùa giễu cả mình và luôn cả những bạn thân có duyên nợ với Ẳ Phiền nghiệt chướng.

Theo xe tang, tưởng đến người bạn đã khuất, tôi đã đổi lời tặng trào lộng đó thành một lời tặng hoài niệm: “Kính, Thành, Tiếc tặng vong hồn Vũ Trọng Phụng”.

Nguyễn Tuân

Tao đàn tạp chí số (12-1939).