Friday, January 2, 2026

Bài Tango Ly Biệt - Lê Minh Quốc

 Bài Tango ly biệt



















Không một khoàng trời nào xanh như thuở mới yêu nhau. Em đã bỏ tôi đi giữa
cơn mưa mau. Bầu trời vụn vỡ. Điệu Tango vụn vỡ. Vó ngựa lang thang gõ móng dưới chân cầu. Ước chi tôi được hóa thành lau lách – đứng đợi ven sông cuối mùa Đông rét mướt. Đứng đợi nỗi ám ảnh mơ hồ của một đời được báo trước.

Xa rồi ta còn nhớ gì nhau.

Chỉ có những cánh chim trốn rét bay về đỉnh trời cao ngất. Còn lá thư tình thì còn nắm yên trên mặt đất. Và tiếng chim lăn dài trên môi tôi mặn như nước mắt. Hót bâng quơ. Sao em lại hững hờ – không đợi tôi đưa tiễn?  Những ngôi sao hấp hối. Bầu trời hấp hối. Mái tóc em vàng hoa mệt mỏi – có phải là mùa Thu buồn trong tranh Levital?

Ôi Saigon rười rượi giọt mưa xanh. Chỉ có những dấu chân nhạt nhòa trên cát. Tôi thầm đọc một đoạn văn của Pautovsky nhưng lại nghe tiếng vạc vọng về trong suốt. Có lẽ cả đời tôi không sao quên được đôi mắt – luyến láy cười mỗi lúc soi gương và lấp lánh điều chi chưa nói hết. Đôi mắt em ngây thơ màu hạt dẻ để tôi ước ao hóa thành con chim sẻ hót lời tỏ tình bằng hơi thở đam mê. Nhưng bầu trời không còn hơi thở. Em đã lấy của tôi một thời trai trẻ. Sự sống của tôi. Danh vọng của tôi. Trí nhớ của tôi. Em đã mang theo tất cả mọi niềm vui – để tôi sống với nỗi buồn trống rỗng. Đêm tôi ngủ đắm chìm vào ác mộng – đi tìm em trong mỗi giấc chiêm bao.

Tình yêu tôi chỉ còn sấm sét dội trên đầu. Để vọng lại những lời từ biệt. Để rúng động những vì sao tinh khiết. Tan trong bóng mưa.

Ôi, em đã bỏ tôi đi cuối mùa Đông hiu quạnh. Tội nghiệp những cánh chim rét lạnh.

Xa rồi ta còn nhớ gì nhau?

Lê Minh Quốc – 1990

 

Quê Xa - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 183_VƯỜN THƠ MỚI

 


 

 

 











Xướng:

 

Quê xa

Mưa dầm núi lở nước dâng
Nơi nơi lênh láng vạn phần xót xa
Miền trung đất mẹ quê cha
Thừa Thiên- Bình Định- Khánh Hòa chìm sâu
Thiên tai nhân họa tiếp nhau
Cuối tầm mắt chẳng thấy đâu là nhà
Anh còn ngàn dặm bôn ba
Em nương ai dắt mẹ già giữa khuya
Bến bờ đâu hởi sông kia
Thuyền ngang đò dọc sẽ chia thế nào
Thượng nguồn xả lũ ầm ào
Gió xoay xoáy cuộn lòng nao não lòng… 

Tâm Quã

Dec 3, 2025

 

Họa 1:

 

Tủi thân

 

Tình anh mãi mãi trào dâng

Tương tư thờ thẩn duyên phần xót xa

Chẳng đành trách moc Mẹ Cha

Sinh mình xấu nhất Biên hòa cảng sâu

Nhớ miền cắt rốn chôn nhau

Nhớ người con gái giờ đâu bên nhà

Dù anh thành đạt tài ba

Nhưng buồn số phạn kép già đèn khuya

Nghĩ thầm em ở bên kia

Tim em có sẻ có chia chút nào

Cali mưa đổ ào ào

Nhớ sao là nhớ nao nao tấc lòng

THT

 

Họa 2:

 

Nỗi Lòng 

 

Nỗi lòng dân tộc trào dâng 

Quê hương xứ sở mấy phần chia xa 

Miền trung chính giữa cùng cha 

Đau thương chia sớt thuận hòa thâm sâu 

Bao năm lụt lội kề nhau

Màn trời chiếu đất đâu đâu không nhà 

Nước tôi xứ sở chia ba 

Trung kỳ chính giữa mưa già gió khuya 

Mẹ còn ngấn lệ bên kia 

Ai thương ai xót nên chia phần nào 

Dã man xả lủ ào ào 

Trẻ già trai gái nao nao cõi lòng 

Hương Lệ Oanh VA 

Dec, 20. 2025

 

Họa 3:

 

Cõi lòng


Những năm lũ lụt triều dâng
Đồng bào khắp nước muôn phần lo xa
Nhớ lời dạy bảo của cha
Tây ninh kề cận Biên hòa sông sâu
Chung tay hiệp lực giúp nhau
Bà con cô bác đâu đâu cũng nhà
Mất đi cái cảnh thu ba
Tay bồng tay dắt mẹ già đêm khuya
Tiếng than tiếng khóc ngoài kia 

Âm thanh bì bõm lia chia cở nào
Quan trên ăn uống ồn ào
Không hề để ý dân nao cõi lòng

PTL

 

Họa 4:

Thương về miền Trung

Việt Nam lũ lụt thủy triều dâng
Người dân đói khổ muôn phần cách xa
Kinh Thành mồ mả ông cha
Miền Trung núi lở Biên Hòa ngập sâu
Tai trời ách nước hợp nhau
Mênh mông biển nước còn đâu thấy nhà
Anh còn lưu lạc phong ba
Ai người cõng mẹ qua phà nửa khuya
Mịt mù biển nước ngoài kia
Xác người gia súc phân chia cách nào
Trên cao xả lũ ào ào
Hạ nguồn nước xóay nao nao cõi lòng !
Nguyễn Cang

Dec 17, 2025

 

Họa 5:


Thương đất Miền Trung


Mưa tràn, gió giật, lũ dâng,
Miền Trung luôn nhận trọn phần bão xa.
Tha phương nhớ mẹ thương cha,
Ruộng vườn tài sản ngập hòa nước sâu.
Hằng năm mưa lũ nối nhau,
Nhấn chìm làng xóm còn đâu cửa nhà?
Trời xanh đổ trận phong ba,
Thêm hồ thủy điện xổ già sớm khuya.
Tai này cộng tiếp họa kia,
Sông cuồn cuộn sóng lũ chia chốn nào?
Hạ nguồn nước xoáy ào ào,
Thương dân trắng mắt buồn nao đáy lòng.
Minh Tâm

 

  

Sài Gòn Một Thời Lọ Lem - Phúc Tiến

 

SÀI GÒN MỘT THỜI LỌ LEM

Sài Gòn lọ lem

Chẳng mấy chốc sau tháng 4.1975, cuộc sống và trật tự của một thành phố lớn bị xáo trộn. Trên nhiều đường phố, người ta cuốc vỉa hè lên để trồng rau, trồng khoai. Một hôm, ở đường Duy Tân (bây giờ là Phạm Ngọc Thạch), khu vực hồ Con Rùa, tôi sửng sốt trông thấy có kẻ đi “tùng xẻo” vỏ cây xanh làm củi. Các lề đường mọc lên nhiều hàng quán nơi người ta mua bán đổi chác thức ăn, hàng hóa và những câu chuyện mới cũ. Những tháng đầu tiên trong chế độ mới tràn ngập lễ hội và phong trào. Và rồi, trong xóm xuất hiện những chiếc loa phường. Loa phát vang vang suốt ngày những bài ca cách mạng, những thông báo bài trừ văn hóa phản động đồi trụy…




 

Những chiếc loa phường

Tết năm 1977, đời sống đã khó lên rồi! Mẹ tôi gói bánh chưng bên ngoài chỉ có một lớp lá, bên trong là nylon. Đến lá giong, lá chuối cũng đắt đỏ, huống chi là đậu hay thịt! Cả Sài Gòn đều “chạy ăn”, gia đình nào cũng phải tính toán nuôi heo, nuôi gà. Các con hẻm trở thành bếp chung, ngày nào dân trong xóm cũng đem củi ra bửa, đem than ra phơi. Người ta xào nấu đồ ăn ngoài trời, giặt giũ ngoài trời vì cúp điện. Cả Sài Gòn mọc lên nhiều “chợ trời” chuyên mua bán máy móc, quần áo và thuốc Tây từ trong nhà đem ra và trăm thứ “hàng chôm chĩa” khác. Những từ ngữ mới như “trúng mánh”, “tranh thủ”, “cải thiện” xồng xộc đi vào từng nhà như lời bào chữa cho việc kiếm sống không còn bình thường.

Sài Gòn rưng rưng

Đúng như người thân ở miền Bắc vào hé lộ, tất cả những điều kỳ quặc và khắc nghiệt đã diễn ra ở Hà Nội sau 1954 đều mau chóng nhảy vào Sài Gòn. “Đổi tiền”, “đánh tư sản”, “cải tạo tư bản tư doanh”, xuất hiện nhiều cách “triệt tiêu” kinh tế tư nhân. Chính quyền nhiều nơi không cho hàng hóa được tự do mua bán từ tỉnh này sang tỉnh khác. Trong tình cảnh “ngăn sông cấm chợ” như vậy, Sài Gòn vẫn được tiếp tế thực phẩm nhờ vào một tầng lớp “con buôn” giỏi giang và liều lĩnh.

Đó chính là những người bỏ mối hàng cho tiểu thương ở các chợ. Họ là những cô gái, những bà mẹ hàng ngày kiên trì và “táo tợn” đeo bám xe đò để mang từng ký gạo, từng ký thịt từ các tỉnh miền Tây, vượt qua bao trạm thuế, trạm kiểm soát về đến Sài Gòn. Dũng – một người bạn của tôi bây giờ là giáo sư toán ở Mỹ, có một bà mẹ đã từng lặn lội như thế. Anh không quên được hình ảnh suốt nhiều năm đêm khuya anh vẫn đợi mẹ đi mua hàng ở tỉnh về. Với anh, ngày nào chờ mẹ cũng dài đằng đẵng, nhất là những ngày mẹ bị “tó”, vừa bị tịch thu hàng, vừa bị tạm giữ qua đêm…

 


Đầu năm 1978, những bà mẹ buôn hàng từ miền Tây lên kể chuyện lính Khmer đỏ tràn qua biên giới thảm sát người Việt. Chiến tranh không xa nữa, đã chạm đến Sài Gòn. Bọn học sinh chúng tôi được huy động ra ngoại ô, đi đắp các ụ đất cho các giàn tên lửa SAM bảo vệ thành phố. Đến đầu năm 1979, Trung Quốc bất thần đánh Việt Nam ở biên giới phía Bắc. Không khí chiến tranh càng gia tăng căng thẳng. Người Sài Gòn được phổ biến chuẩn bị đào hầm. Tin tức trên báo về chuyện lính Trung Quốc sát hại trẻ em và người dân vô tội ở biên giới khiến mọi người ghê sợ và căm giận. Hàng ngày công nhân viên và học sinh, sinh viên bắt đầu tập luyện quân sự.

Loạn lạc, đói rách và hơn nữa, nỗi lo bạc đãi đã làm rất nhiều người khá giả, người tài, người có học và rồi ngay cả người nghèo, người bình thường cũng tìm cách ra đi hợp pháp hay “đi chui”. Hai chữ “vượt biên” đầy hiểm nguy và cay đắng lẳng lặng ra đời. Trong trường tôi, cứ hai ba tuần lại có học sinh “vượt biên”. Một vài bạn “đào thoát” không thành, quay lại với cái đầu trọc do ở tù và đôi mắt đỏ hoe.

Sài Gòn giấy rách còn lề

Lúc ấy, dân Sài Gòn không những đói ăn mà còn đói sách. Trong lúc đói kém, khổ đau, sách càng đúng nghĩa là “món ăn tinh thần”, là “liều thuốc bổ” không thể thiếu cho người Sài Gòn. Tôi nhớ sách bán chạy nhất là sách dạy tiếng Anh (học để lo xuất ngoại), sách thuốc (tự chữa bệnh), truyện cổ tích, truyện trinh thám, truyện tình (đọc giải trí, giải buồn). Thời đó, học sinh vừa xong lớp 12 nếu may mắn trở thành sinh viên thì được “nhà nước nuôi ăn học”. Mỗi tháng, nhà nước cho sinh viên chúng tôi mua giá cung cấp 19kg gạo, trong khi công nhân chỉ được mua 17 kg! Sinh viên có tiền học bổng lúc đầu là 18 đồng, sau tăng lên 20 đồng một tháng. Ngoài ra, sinh viên còn được tiêu chuẩn mua thịt, mua đường khoảng nửa ký, ngang với tiêu chuẩn một hộ dân. Chưa kể hàng năm, sinh viên được mua một bộ săm lốp xe đạp và vải may quần áo. Thì ra, sinh viên chúng tôi cũng là một loại công nhân viên thực thụ.

Tại mỗi lớp, ngoài lớp trưởng và lớp phó học tập, còn có lớp phó “đời sống” chuyên lo chuyện thông báo mua gạo, mua thịt. Thật ra, 19 ký gạo với sức trai 18-20 ngày ấy, lúc nào chúng tôi cũng cảm thấy đói. Không thể cứ xin xỏ gia đình, chúng tôi tự tìm cách làm thêm, rất chật vật nhưng riết rồi cũng quen. Chúng tôi đi bỏ báo, đi dạy thêm, ở nhà làm “bù đai” (túi giấy), làm “nhang điện”, đèn thờ. Có đứa còn vất vả đạp xích lô, khuân vác, đi buôn và trăm thứ nghề vặt. Tôi còn nhớ một “mánh kiếm tiền lẻ” của sinh viên là xin giấy giới thiệu của trường đến hiệu sách quốc doanh để mua từ điển Anh – Việt, Nga – Việt, hay sách truyện với giá cung cấp rất rẻ. Những sách này in không nhiều nên chỉ bán hạn chế cho cán bộ nghiên cứu và sinh viên có giấy giới thiệu. Sau đó, chúng tôi đem chúng ra bán ở chợ sách cũ Đặng Thị Nhu, được giá gấp đôi.

Dĩ nhiên, những cách thức kiếm sống “láu cá” như vậy chẳng đẹp chút nào nhưng giúp sinh viên chúng tôi không rơi vào cảnh cùng đường, đạo tặc. Nhớ lại, ngần ấy năm trời, cả Sài Gòn khốn khó, cắn răng chịu đựng. Tất cả bằng một cách nào đấy, chật vật xoay sở để không đánh mất chính mình. Không đánh mất và không bao giờ chịu đánh mất những giấc mơ hồng, tươi trẻ.

Sài Gòn trẻ và mộng mơ

Sài Gòn tạm thời rơi vào cảnh “lọ lem” song không ai ngăn được sức sống trẻ trung và nồng nhiệt của nó. Đêm Giáng sinh và giao thừa, cho dù trong nhà không có được một chiếc bánh ga tô, không có được một chiếc bánh chưng, bánh tét gói lá tử tế, người Sài Gòn vẫn tràn ra đường đi chơi. Dẫu không có nhiều quần áo đẹp nhưng còn thấy nhau, gặp nhau là vui rồi! Ngày Tết đến, mọi người đều cố gắng “diện” những bộ áo cánh tươm tất nhất có được. Các gia đình có thiếu thốn gì đi nữa cũng không bỏ mâm ngũ quả “cầu dừa đủ xoài”, không bỏ phong tục đi chùa và thói quen lì xì đầu năm. Bạn bè trao cho nhau những chiếc thiệp Noel, thiệp xuân vẽ tay hay in lụa không khác gì những món quà “quý phái” bất ngờ.




Những bài nhạc tình du dương hay lặng buồn dù có lúc bị ngăn cấm vẫn được hát bằng mọi cách trong không gian này, không gian kia. Bọn học sinh mới lớn chúng tôi bắt đầu chuyền tay những quyển tập chép lời những bài hát không được phép lưu hành và những bài hát tiếng Anh vượt rào vào được Việt Nam. Những năm 1980, có ban nhạc Sao Sáng rất nổi tiếng vì trình diễn được những “bài hát quốc tế”, nhất là nhạc disco đang sôi động bên ngoài, như nhạc của Boney M. Họ thuộc được nhạc, thuộc được lời mặc dù chỉ nghe nhạc nước ngoài qua radio chứ không có trong tay bài nhạc gốc nào cả.

Từ những năm ấy cho đến bây giờ, Sài Gòn về đêm bao giờ cũng tấp nập người đi học. Người trẻ Sài Gòn học tiếng Anh, Pháp, Nga, Hoa, sau này có thêm tiếng Nhật, tiếng Hàn. Người trẻ Sài Gòn còn lũ lượt cắp sách đi “học ngoài giờ” nghề điện tử, nghề kim hoàn, nghề kế toán, chụp ảnh, quay phim và rồi nghề vi tính. Trong hoàn cảnh thiếu thốn miếng ăn và phương tiện, cả già và trẻ vẫn chịu khó học hỏi bất cứ ngành nghề nào có thể giúp mình làm thêm “độ nhật” và nhìn đến tương lai. Dù khổ thế nào, những người trẻ Sài Gòn vẫn nâng niu tình bạn, tình yêu, nâng niu sự lãng mạn vốn đang bị cuộc sống chạy vạy cơm áo gạo tiền xâm lấn và đe dọa.

Từ trong một chốn sâu thẳm nào đó những tình cảm rung động, những nhân vật nhân ái của Victor Hugo, tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn, báo Thiếu Nhi, Tuổi Hoa… và những gì hay đẹp được học vẫn đi cùng chúng tôi. Trong mắt nhiều người, Sài Gòn có xấu xí, hao gầy nhưng vẫn có những góc phố, những đoạn đường, hàng cây không bao giờ hết vẻ thơ mộng. Vẫn có những con đường hai hàng cây rợp bóng vít vào nhau, tạo nên những “đường hầm xanh”, che chở đôi lứa dạo chơi. Vẫn có những quán cà phê yên tĩnh, những góc thư viện mở cửa đến tối, những ngõ hẻm dưới ánh trăng làm nơi hẹn hò riêng tư.

 

Những năm tháng đó, con trai con gái đạp xe song song trò chuyện trên phố, ríu rít và bình yên. Con trai chép thơ Nguyên Sa và Nguyễn Bính thay lễ vật cho nàng. Con gái thêu khăn tay tặng chàng thay thư tình. Những lần đi xem hát, đi chơi các chàng được chạm khẽ, được nắm bàn tay các nàng đã là một niềm vui vô tận kéo dài. Nhớ lắm những cuộc dạo chơi dưới cơn mưa chiều nũng nịu. Nhớ hoài cái nụ hôn đầu tiên run rẩy, cái lần ôm nhau đầu tiên trong một góc vắng. Nhớ mãi một Sài Gòn đầy dấu tích tình yêu thơ ngây, cháy bỏng cho đến tận bây giờ.

Ôi, người Sài Gòn sinh ra và lớn lên trong thế kỷ XX nay bỗng chốc trở thành “người xưa”. Cả một thời bươn chải giữa chiến tranh và đói nghèo, đến giờ dường như tất cả đâu đã được an nhàn. Họ đã và đang cùng những thế hệ mới góp phần làm cho Sài Gòn trở lại lộng lẫy và phải hay đẹp hơn trước. Không thể nào khác, trong đời Sài Gòn chỉ có thể lọ lem, tàn phai một lần.

Phúc Tiến

Nguôn: Người Đô Thị

 

 

Thursday, January 1, 2026

Anh Hùng Và Mỹ Nhân - Nguyễn Cang

BÀI THƠ KHOÁN THỦ

Hai câu khoán:

Mỹ nhân tự cổ như danh tướng

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu

 

Tác giả: Đời thanh ,Triệu Diễm Tuyết (?)

tạm dịch:

Người đẹp từ xưa như tướng giỏi

Chẳng hẹn chờ ai thấy bạc đầu

 

ANH HÙNG VÀ MỸ NHÂN

















MỸ nữ nhà ai đẹp sắc màu

NHÂN duyên trắc trở gợi buồn sâu

TỰ do cuộc sống thêm hương thắm

CỔ  vũ thuyền quyên giải mộng sầu

NHƯ vọng ân tình nhân nghĩa khí

DANH truyền đức hạnh giọt mưa ngâu

TƯỚNG hùng xuất trận đâu cần tiễn

Bất Hứa Nhân Gian Kiến Bạch Đầu


Nguyễn Cang ( Dec. 27, 2025) 

Mùa Xuân Của Tôi & Đêm Trăn Trở - Nguyễn Thị Châu

 MÙA XUÂN CỦA TÔI



 












Thời gian rồi cũng sang trang

Một năm như chiếc lá vàng bay nhanh

Lắng nghe chim hát trên cành

Mùa Xuân đã đến chờ anh trở về

Ngoài sân hoa lá xum xuê

Hoa Lan hoa Cúc tựu tề khoe duyên

Hoa Đào hoa Huệ Đồng tiền

Hoa Mai hớn hở không phiền luỵ ai

Anh nào biết, anh có hay

Quê hương mình đó bận tay suốt ngày

Hôm nay áo lụa đã phai

Tôi đem ra mặc nhớ hoài Xuân xưa

Mùa Xuân tươi đẹp đã qua

Chùn chân mỏi gối nhớ xa nhớ gần

Nhớ anh về phép mỗi lần

Vòng tay ấm áp như Xuân đã về

Xuân về đi khắp làng quê

Anh đi đâu vắng? Không về cùng tôi

Xuân nầy, Xuân nửa cả đời

Tóc phai mây trắng, không lời thở than…!!!

 

31-12-2025

Nguyễn thị Châu

 

ĐÊM TRĂN TRỞ

 















Đêm dài trăn trở suốt năm canh

Tiếng gió heo may gõ lên mành

Gió Đông lạnh giá, mùa Xuân tới

Thao thức vì ai đêm vắng tanh

 

Đêm đã dần tàn anh biết không?

Gối chiếc giờ đây xót xa lòng

Lắng nghe đâu đó gà gọi sáng

Chạnh lòng lưu luyến nhớ mênh mông

 

Xuân nầy có nhớ áo ai bay?

Tà áo năm xưa tà áo dài

Cùng nhau sánh bước vui trong gió

Hàng lá me vàng tung cánh bay

 

Còn đây kỷ niệm những ngày qua

Bạch Đằng ta ngắm ánh chiều tà

Dòng sông êm ả trong hạnh phúc

Ghế đá còn đây, người đi xa…!!!

 

31-12-2025

Nguyễn thị Châu

Cứu Trơ Miền Trung - Nguyễn Cang

 CỨU TRỢ MIỀN TRUNG

(NĐT)

 














Dân nghèo gặp bão tốn tiền hao

Cửa vỡ nhà tan bệnh cứa vào

Núi lở người trôi ngoài bãi cạn

Sông đầy nước ngập mãi gò cao

 Sư thầy tặng phẩm tình khôn xiết

Quán chủ quà cho nghĩa ngọt ngào

Viễn khách thương người dân khổ nạn

Trao tiền gởi thuốc đẹp dường bao !


Nguyễn Cang (Dec. 18, 2025)

Những Bước Chậm Của Thời Gian - Trần Nhã Thụy

 

Những Bước Chậ­m Của Thời Gian


Khi đã không còn vùng vẫy được nữa, chìm đến tận đáy mặt sấp cát, tắt mọi cảm giác thì tôi vẫn còn một ý nghĩ. Tôi nghĩ về mẹ. Chắc bà sẽ buồn lắm khi biết tôi không còn nữa. Mẹ sẽ rất buồn. Tôi không chịu đựng được điều đó. Rồi hình như tôi khóc cho tôi. Nước mắt không biết đã chảy như thế nào và có âm thanh nào vang lên không. Tôi tuyệt vọng. Nhưng tôi đã không chết. Có người đã lặn xuống đáy nước cứu tôi lên. Tôi không còn nhớ cuộc giải cứu đó diễn ra như thế nào. Tôi đã bất tỉnh bao nhiêu lâu. Và tôi đã tỉnh dậy, trở về nhà như thế nào. Tôi không còn nhớ. Tôi chỉ biết, người đã nhảy xuống cứu tôi là lão Đà. Khi đưa được tôi lên bờ đến khi xốc hết nước trong bụng tôi ra thì lão cũng chưa nói gì. Cho đến khi tôi tỉnh lại hoàn toàn, lão mới lên tiếng: “Được rồi. Tao đã làm đúng rồi”. Rồi lão cười ha hả: “Tao thấy mày giã gạo rồi, nhưng tao cứ để đó, tao chờ cho mày chìm. Đoán chừng mày hết cục cựa tao mới nhảy xuống. Đó là cách cứu người chết đuối của tao. Tao đã làm đúng”.





Tôi nằm trên cỏ. Xung quanh tôi là đám trẻ chăn bò đang cười. Lão Đà đang cười. Tôi cũng cười nhưng không nói được gì. Tôi cũng không một lời cảm ơn lão Đà. (Vào thời ấy, ở nhà quê trẻ con chưa quen nói những lời cảm ơn). Tôi nằm im thít. Hình như lúc đó chiều đang xuống. Gió vi vút thổi. Chúng tôi đang ở nơi cao nhất của bờ đê, đó là một cái cống thoát nước còn đang dở dang. Những trụ xi măng giơ ra những cọng sắt. Trên mặt cống cỏ bò lan chậm xanh, có chỗ mọc lên đám mạ úa, xen lẫn một vài cây lúa đang trổ. Gió thổi tràn qua mặt cống làm bay những hạt lúa lép mùa cũ vào mặt tôi. Tôi xoay người nhìn nghiêng ra phía cánh đồng. Lúc đó tôi thật sự muốn nhắm mắt lại và ngủ một giấc dài.

Chuyện tôi suýt chết đuối đó diễn ra vào năm tôi mười bốn tuổi. Từ đó trở về sau tôi bỏ luôn ý định tập bơi trở lại. (Cho đến bây giờ tôi vẫn là người không biết bơi và rất sợ tiếp xúc với nước). Sau lần đó, tôi liên tiếp rơi vào những cơn ác mộng, Đêm nào, tôi cũng thấy mình chìm đến tận đáy. Chìm mãi xuống. Rồi vụt bồng lên cùng với những tiếng la hét kinh sợ. Giấc mơ hãi hùng đó kéo dài suốt gần hai tháng làm cho tôi gần như suy kiệt. Ba, mẹ tôi biết tôi đang chịu đựng nỗi khổ đó nhưng không thể làm gì được. Làm sao có thể can thiệp vào giấc mơ. Còn tôi thì hết sức tuyệt vọng. Nhưng đúng lúc tôi tuyệt vọng nhất thì tự nhiên giấc mơ hãi hùng đó tan biến đi. Làm như có một thứ bùa phép nào đó đã chiến thắng nó. Tôi vui mừng phát khóc và chợt nhận ra là đã hết một mùa hè. Buổi sớm, nhận ra những bước nắng ngập ngừng của một mùa thu đang tới. Tôi nói với mẹ tôi: “Con đã hết nằm mơ thấy chìm xuống đáy nước rồi”. Mẹ tôi nói: “Rồi thỉnh thoảng giấc mơ đó sẽ lặp lại. Nhưng không sao đâu. Con đừng nghĩ đến chuyện đó nữa mà hãy nghĩ đến những chuyện khác tốt đẹp hơn”. Gặp lão Đà, tôi cũng nói chuyện đó. Lão nghe xong, cười: “Ai chẳng vậy. Nhưng mày có dám tập bơi nữa không?”. Tôi lắc đầu. Lão Đà nhổ miếng bả trầu: “Dở ẹc, sợ cái gì, sợ cái đáy quần”. Nói rồi lão bỏ đi, tay lại thọc trong quần xoa rờ mông đít. Lão Đà là người đàn ông duy nhất trong làng có thói quen ăn trầu như đàn bà. Ngoài ra lão còn có vài thói tật khác mà không ai chịu được, đó là nói tục một cây, còn tay thì cứ bỏ trong quần rờ mông, khi say rượu thì không chịu ngủ trong nhà mà cứ ra thành giếng nằm. Lạ một điều là lão nằm thành giếng thì ngủ ngon mà không hề hấn sơ sẩy gì. Trong làng, ít ai ưa lão, nhiều người coi lão không ra gì. Nhưng với tôi thì vẫn trọng, bởi đơn giản lão chính là ân nhân của tôi.

Nhà của tôi và lão Đà cùng nằm trên trục chính đường làng. Mùa gặt, con đường phơi đầy rơm rạ. Tôi thường xách xe đạp chạy lăng quăng để hưởng cảm giác dập dềnh trên lớp đệm rạ rơm. Trong khi đạp xe tôi thường thấy lão Đà tay chắp sau đít vừa đi vừa lẩm bẩm một mình. Chúng tôi ít khi trò chuyện với nhau. Nhưng mà lão Đà cũng ít khi có mặt ở làng, lão thường xuyên ngoài ruộng. Lão là thợ cày cự phách của làng tôi. Nhớ những ngày mùa đông, trong cái lạnh canh hai tôi đã nghe tiếng lão lùa trâu lục sục ra đồng. Tiếng lão ho khan và tiếng nhổ bã trầu nghe có vẻ giận dữ điều gì. Lão thường bên trâu, không trâu thì một mình. Lâu lâu lão đánh trâu lên gò mả, nhập vào đám trẻ chăn bò chúng tôi là lúc lão có tâm sự, muốn kể chuyện chơi. Cũng toàn là chuyện tục tĩu, bậy bạ, chỉ phù hợp cho đám chăn bò. Thường khi kể xong lão hỏi: “Nghe hay không, tụi mày?”. Đám trẻ cười khoái chí, có đứa bảo: “Hay, nhưng bậy quá”. Lão Đà cười: “Mẹ mày, đã hay còn bậy, bậy thì đừng có nghe nữa”. Có đứa đề nghị: “Thôi, ông kể chuyện ma đi, nghe hay mà không bậy”. Lão Đà bảo: “Chuyện ma phải kể vào ban đêm mới hay. Mình ngồi nghe như vầy, ma nó cũng hiện lên ngồi vịn vai mình mà nghe lén. Thế mới hay”. Có đứa kêu: “Vậy sợ chết”. Lão Đà cười: “Sợ gì, sợ cái đáy quần”. Cả bọn cười. Một đứa dạn miệng hỏi: “Lão Đà, sao lão cứ hay nói là sợ cái đáy quần?”. Lão Đà nheo mắt bảo: “Cha mày, cái đáy quần mày nó mà rách thì mày có sợ không?”.

Sau lần tôi suýt chết đuối, không lâu  thì ba tôi bán bò. Tôi chuẩn bị lên học cấp ba nên không thể cứ bò nghé mãi được. Giờ đây tôi chỉ có mỗi việc là học. (Tất nhiên là cũng làm thêm nhiều việc linh tinh trong nhà và vài việc ngoài đồng như cắt cỏ bờ, thăm lỗ mậu, be bờ cản tháo nước vào ruộng, mùa gặt thì đi vần công vài ba công v.v...). Ngoài giờ học tôi thường lang thang trong làng. Làng tôi rộng, thoáng đãng. Trên con đường trước nhà tôi thường có những đám ma đi qua để đến khu nghĩa địa bên kia dông gần núi Một. Đám ma không xe mà khiêng đòn vai, đi qua làng, vòng qua dông rồi thẳng hướng núi. Đám ma nào lão Đà cũng ghé vai vào cộng sức. Nhưng lão không bao giờ đi đến tận nghĩa địa. (Trừ những cái chết của người thân). Lão thường xuất phát từ nhà lão rồi tách ra khi đến nhà già Tạ gần ở cuối làng. Lần nào lão cũng ghé nhà già Tạ uống trà. Già Tạ là người chỉ làm nghề vườn không làm ruộng duy nhất làng tôi.

Tôi thường đứng nhìn những đám ma đi qua trước ngõ nhà. Đoàn người bước chậm cúi đầu. Cho người chết được nằm thăng bằng, cho trang thờ, lọ hoa, đèn dầu không ngã đổ. Có thăng bằng và chậm rãi mới đi được quãng đường xa. Bước chậm. (Trong những bước chậm của thời gian). Tôi thường đứng đó, im lặng nhìn, trong bóng mát của một cây rơm to. Những thông tin về người chết đó lập tức được mẹ tôi thông báo. Người đó tên gì, bao nhiêu tuổi, ở thôn nào, vì sao chết. Nhưng cũng có khi mẹ chạy đi hỏi: “Sao mà chết vậy, tại sao?’’. Một hôm tôi đang đứng xem đám ma đi ngang nhà thì lão Đà chạy vào nắm tay tôi. Lão bảo: ‘’Ghé vai vào chút, thanh niên. Đám này nặng quá, mà ít người’’. Tôi ghé vai vào ngay phía trước lão Đà. Người chết nặng hơn tôi tưởng rất nhiều. Lão Đà nói: ‘’Nặng quá phải không, nhưng nhớ đừng gồng vai, chỉ ghé vai vào thôi, cho quen đã’’. Tôi hỏi: ‘’Sao nặng quá vậy?’’. Lão đáp: ‘’Sống thì nhẹ, chết rồi nặng, ai chả thế. Đám này chết đuối nên càng nặng’’. Tôi đã một lần suýt chết đuối, nên nghe những lời đó, tự dưng như muốn khóc.

Ai rồi cũng chết. Tôi bắt đầu nghĩ rồi lại hay nghĩ về điều đó. Lão Đà, già Tạ rồi sẽ chết trước tôi. Nhưng cũng không cứ nhất định như vậy. Điều đó làm cho tôi buồn. Chết rồi thì sẽ ra sao? Chúng ta sẽ là cái gì sau khi đã chết?. Tôi nghĩ đến đó rồi tự xua những ý nghĩ đó đi. Tôi còn có nhiều việc phải lo nghĩ khác nữa. (Vả lại, tôi nghĩ làm chi những điều không thể trả lời). Tôi vẫn tiếp tục ghé vai vào đòn khiêng những đám ma đi ngang nhà. Năm đó tôi 14 tuổi, rồi năm 15, 16, 17, 18 tuổi tôi vẫn tiếp tục làm việc đó. Nhưng cũng có khi không có tôi mà chỉ có lão Đà, có khi ngược lại. Đó là những lúc tôi đang ở trường học, chỉ nghe được tiếng trống, hay đang ở ngoài đồng mắt chỉ loáng thoáng từ xa. Lòng tôi cứ vân vi mãi, những ý nghĩ cứ miên man rối bời. Tôi luôn hình dung mình bước chậm đi khắp trong làng. Bước chậm. (Trong những bước chậm của thời gian). Những bước chậm của thời gian đó là do tôi nghĩ ra, tạo ra, dùng để sử dụng cho riêng tôi, chứ thời gian làm gì có bước nhanh bước chậm. Thời gian vốn mang bản chất của sự trùng phức liên tục mải miết. Nó tạo nên những nếp gấp không thể nào phục hồi... Đại khái là như vậy, như sau này tôi đã có thêm chút cảm biết và có điều kiện để chứng minh. Nói tóm lại là tôi thích đi những bước chậm trong thời gian và cũng mong sao có những bước chậm của thời gian để cùng cộng hưởng. Tôi vẫn cho rằng những người chết được quyền đi trong những bước chậm đó.

Lão Đà là người thợ cày giỏi nhất làng. Già Tạ là người làm vườn giỏi nhất làng. Tôi rất tự hào đã quen thân với hai người đó. Họ đều là những người lao động lương thiện mà tôi luôn muốn sau này cũng sẽ được như vậy. Nhưng tôi không thể công khai với mọi người là tôi có quen thân với một kẻ trộm giỏi nhất làng. Nói là giỏi nhất vì nó chưa bao giờ bị bắt quả tang. Kẻ trộm đó không ai xa lạ mà chính là thằng Quỳnh cùng xóm. Quỳnh cùng lứa tuổi tôi, học dốt từ hồi nhỏ. Hồi đó Quỳnh thường nhờ tôi viết bài giùm rồi rẩy mực lên bôi lem nhem để cô giáo không phát hiện ra và mong được chấm 5 điểm. Quỳnh bỏ học sớm, ở nhà chuyên đi hốt trấu bán cho mấy lò bánh tráng. Ngoài tài trộm, Quỳnh còn có tài leo dừa và bắn ná (giàn thun). Nói đúng hơn tài leo dừa và bắn ná hỗ trợ cho tài trộm của Quỳnh rất nhiều. Mùa mưa, thân dừa vừa trơn vừa nhớt nhưng Quỳnh vẫn có thể leo như sóc trong đêm, rồi hai tay hai trái miệng ngậm một trái tụt xuống mà không tiếng động nhỏ. Còn bắn ná thì khỏi chê, bách phát bách trúng. Những buổi trưa hè Quỳnh thường men theo mép mương, nhìn thấy cá bơi là nó kéo giàn thun thật mạnh, viên đạn xuyên qua làn nước làm cho con cá chết cắm đầu. Theo như tôi biết thì Quỳnh chỉ trộm gà. Nó khoái ăn thịt gà. Tôi cũng vậy. Quỳnh thường làm món gà nướng đất sét rồi kéo tôi ra ngoài đồng. Chúng tôi tìm những đống cỏ khô trên những bờ vùng, vừa nằm vừa ăn. Tôi hỏi: “Gà ai đây?”. Quỳnh cười cười: “Gà của thằng Quỳnh săn được”. Tôi hỏi: “Nếu như bị bắt thì mày làm sao hở Quỳnh?”. Quỳnh nói: “Tao cũng không biết. Chắc là tao sẽ khóc thật to”. Tôi cười: “Mày mà khóc”. Quỳnh bảo: “Chứ mày bảo tao bị bắt mà cười hả”. Năm chúng tôi 17 tuổi thì Quỳnh bỏ làng ra đi. Quỳnh đi được ba năm thì tôi cũng đi. Chúng tôi đến thành phố.

Tôi xa làng đã mười lăm năm. Tôi đã lấy vợ, sinh con, mua nhà. Vợ chồng tôi đều làm hợp đồng cho doanh nghiệp tư nhân. Thằng Quỳnh cũng đã lấy vợ, sinh con nhưng chưa mua được nhà. Quỳnh đã làm đủ thứ nghề, cuối cùng thì làm nghề chạy ba gác máy. Vợ nó bán xăng lẻ, thuốc lá ở bến xe. Vợ chồng Quỳnh làm cũng có tiền nhưng còn phải gởi về quê nuôi bà mẹ già bệnh nặng. Cũng nhờ vậy mà vợ chồng nó thường về quê hơn tôi. Còn gia đình tôi thì gần như đã chuyển hết vào miền Nam. Thỉnh thoảng gặp nhau Quỳnh cho tôi biết, lão Đà và già Tạ nay đã yếu lắm rồi. Già Tạ gần như nằm một chỗ, hôm nào khỏe lắm mới chống được gậy ra trước ngõ. Lão Đà thì còn đi được, còn ăn trầu, uống rượu, còn cả cái tật rờ xoa mông mình, nhưng khi say lão đã thôi ra nằm thành giếng. Làng tôi cũng đã thay đổi nhiều. Đám ma không còn khiêng nữa mà đã có xe tang chạy băng trên đường đổ bê tông. Quỳnh không thân mật gì với hai lão già đó nên chuyện về họ tôi biết cũng qua loa. Tôi nhớ và thương họ, nhất là lão Đà. Tôi vẫn coi lão là ân nhân. Có lần Quỳnh về quê, tôi nhờ nó gởi cho lão Đà chai rượu. Lão Đà nhận, cảm động lắm. Lão bảo: “Nhắc thằng Cu (là tên tôi hồi nhỏ), khi nào tao chết thì nhớ về ghé vai đưa tao ra nghĩa địa nghe chưa”. Rồi lão cười: “Mà làng mình bây giờ đâu còn cái đòn khiêng, chết đã có xe đưa ra nghĩa địa, nhanh lắm”. Nhưng rồi tôi cũng ít gặp Quỳnh. Vì sau này tôi nghe nó làm đại ca, lập băng nhóm, thanh toán lẫn nhau để dành địa bàn làm ăn. Những chuyện đó tôi sợ. Tôi vốn là người yếu đuối.

Ngày nào tôi cũng chạy xe ngoài đường. Ngày nào cũng có mắc kẹt ở đâu đó. Có khi là nhích lên từng chút, vuốt mặt dưới mưa. Rất nhiều đêm giấc ngủ mệt nhọc, khó khăn. Giấc mơ chìm đáy nước đôi khi chợt trở lại giữa những khoảng thời gian dài không mơ tưởng điều gì. Nửa đêm thức giấc bần thần. Lại nhớ làng. Nhớ bao chuyện linh tinh mà không thể nào kể cho ai cùng nghe. Những lúc như thế tôi lại nhắm mắt hình dung mình bước chậm. Một mình tôi bước chậm trong làng. Thật chậm trong những bước chậm của thời gian.

Trần Nhã Thụy

 

Di Chúc Bắc Kỳ Tự Do - Tuấn Khanh

 

Di Chúc Bắc Kỳ Tự Do

Câu chuyện kỷ niệm 60 năm về hành trình đến miền Nam của hơn một triệu người trôi qua lặng lẽ. 20 tháng 7, 1954 trở thành lịch sử thế giới, nhưng chưa bao giờ đủ với những câu chuyện kể về số phận và suy nghĩ của riêng người Việt. Tôi chờ đọc một áng văn nào đó, nói về suy nghĩ của những người miền Nam khi nhìn thấy dòng người Bắc Kỳ này, khi họ đến đồng bằng, chảy về thành phố, nhưng không thấy. Tràn ngập những bài viết chỉ là nỗi nhớ tha hương, là ký ức và lòng kiêu hãnh của những người tìm tự do từ phía Bắc. Vì vậy, tôi muốn ghi ra chút ít ở đây, về cái nhìn của một người miền Nam, về cha mẹ, ông bà của bạn bè Bắc Kỳ, dù họ còn hay đã mất.




Hai tiếng “Bắc Kỳ” xuất hiện trên miệng trẻ con miền Nam, và cả của tôi, suốt một thời gian dài, chỉ là sự trêu chọc ban bè cùng lứa, vì một kiểu ngữ âm rất khác mình. “Bắc Kỳ” trong ký ức từng là một tâm cảm bị ám thị, thiếu thiện cảm hơn cả khi so sánh với “Ba Tàu”. Chỉ khi tạm đủ chữ trong đầu, biết thêm về đất nước này, hai chữ “Bắc Kỳ” trong tôi mới thật sự thay đổi. Có lẽ cũng giống như tôi, nhiều người miền Nam hời hợt kỳ thị đã tự làm cho mình bớt xấu hổ bằng cách lập ra những hạng mục khác như Bắc kỳ 9 nút (54), Bắc kỳ 2 nút (75)… để bày tỏ rõ hơn trong nhìn nhận.

Nhưng không đủ.

Phải mất đến hơn nửa đời người, tôi mới nhận ra rằng không hề có một giai cấp nào trong đồng bào miền Bắc của đất nước mình, mà chỉ có một cuộc sống không được chọn lựa nào đó đã phủ chụp lên từng miền, từng vùng đã ảnh hưởng cùng cực đến họ, tạo ra những điều khó tả nhưng vậy. Ở mọi miền, Nam hay Trung hay Bắc, người ta cũng đều có thể nhìn thấy kẻ vô lại trong giống nòi, nhưng sự khó khăn nhìn nhận luôn thường dành cho phía Bắc, như một ám chỉ về một vùng đất phải chịu sự khác biệt về chính trị trong nhiều năm, như đã ám toán mọi sinh lực sống bình thường của con người.

Tôi nhận ra điều đó, ở một ngày khi thấy chung quanh mình có rất nhiều bạn, kể cả thầy cô, là những người Bắc mà tôi tin cậy. Họ đại diện cho những người “Bắc kỳ” mạnh mẽ, vượt qua số phận và hoàn cảnh của mình để không bị đè bẹp, không hèn hạ hoặc chết, như F. Nietzsche đã viết “những gì không giết được chúng ta, sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn” (That which does not kill us makes us stronger).

60 năm của những người Bắc di cư vào Nam, cho tôi và thế hệ của mình được nhìn rõ họ hơn, nhắc tôi phải nói về một bản di chúc lớn, một bản di chúc vĩ đại mà hơn một triệu người từ bến tàu Hà Nội, Hải Phòng… mang đến cho cả đất nước. Bản di chúc cũng được lưu giữ trong mắt, trong lời nói của từng người Việt tha hương khắp thế giới: bản di chúc về tự do.

Cả miền Nam sau 1954 cần phải có một lời cám ơn văn chương Bắc Kỳ, âm nhạc Bắc Kỳ, báo chí Bắc Kỳ… đã góp tay dựng lên một nền văn hóa của cả đệ nhất và đệ nhị cộng hòa của miền Nam. Nền văn hóa ngắn ngủi nhưng đủ trường tồn và mạnh mẽ vượt qua một chướng ngại, tồn tại trong lòng người từ sau 1975 đến nay, ở Việt Nam và trên cả thế giới. Cùng với những người anh em từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, những người Bắc đó đã làm tất cả để bù đắp, để dựng xây… cho thỏa sức, việc họ phải rời bỏ rất xa quê nhà, thậm chí trơ trọi, chỉ để đổi lại hai chữ tự do.

Rất nhiều năm sau đó, con cháu của những người Bắc 54 cũng lớn lên ở miền Nam hay vượt đại dương đến nơi nào đó, không ít người trong họ vẫn âm thầm mang theo một bản di chúc có thể sống mãi đến nhiều thế hệ sau về tự do, và chọn lựa vì tự do. Trong một lần ở Mỹ, tôi nghe phát thanh viên của một đài radio người Việt bình luận về một nỗi nhớ quê nhà Hà Nội. Nhớ con đường quanh Hồ Gươm, nhớ con hẻm có bán canh bún nhỏ… Giọng Bắc của anh ta trầm buồn như mới ngày hôm qua còn nhìn thấy những thứ đó, trong khi tôi biết rõ anh chưa về Việt Nam một ngày nào, kể từ tháng 4/1975. Sau lần phát thanh đó, gặp anh, tôi trêu là sao anh nói cứ như là cứ vừa ở Việt Nam về. Đột nhiên giọng anh trầm lại “Phải cố gắng nhớ dù chỉ là tưởng tượng lại. Phải nhớ như nhớ lời của ông bà mình xua mình xuống tàu, trối dặn mình phải sống với tự do”. Tim tôi như thoáng ngừng đập trong tíc tắc. Dòng người mờ ảo trong những cuốn phim tài liệu trắng đen về số phận Việt Nam chia cắt ập về. Tôi cũng nhận ra rằng bản di chúc tự do đó, không phải những người Bắc Kỳ chia cho nhau, mà còn chia lại cho tôi, cho bạn, cho cả dân tộc này. Từng người chúng ta đã được nhận. Chọn lựa mình hôm nay khốn nạn hay tử tế, là do mình đã không chịu nhìn thấy di sản của cha ông gửi lại, qua bản di chúc không thành văn này.



Tôi nhìn thấy người bạn trẻ của tôi, con một người Bắc di cư, nay sống ở Biên Hòa. Anh đưa lên facebook một tấm ảnh kỷ niệm 60 năm người Bắc xuống tàu vào Nam. Khi bên ngoài người ta nói về những điều lớn lao như hiệp định Genève và các chính quyền, thì cũng có một dòng người không nhỏ đưa lại những hình ảnh thuộc về con người như vậy. Có những tấm ảnh khiến mình phải lặng đi khi thấy cụ già bước gấp vào Nam, hành lý trên tay quý nhất chỉ là tấm hình Đức Mẹ. Người bạn trẻ của tôi đưa lên tấm ảnh người ta chen chúc chia tay nhau ở một bến tàu. Khó mà biết được ông bà hay cha mẹ của anh đã có mặt ở đó hay không, trong những chấm li ti như cát bụi. Bản thân người bạn trẻ đó thì giờ cũng là phần li ti trong hàng triệu người Bắc 54 đã lớn lên, đã thành đạt ở miền Nam này hôm nay.

 Và tôi nhận ra rằng, bản di chúc tự do đó cũng vẫn đang âm thầm trong anh, như bao phần li ti khác đang trỗi lên, trên đất nước này.

Tuấn Khanh