Đã Hơn 70 Năm, T.T.Kh. Và Chuyện Tình Thơ “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” Vẫn Tươi Nguyên Màu Bí Ẩn.
Hai sắc hoa ti gôn, bài thơ có số phận kì lạ và bí ẩn như chính
tác giả của nó.
Bài thơ “Hai sắc hoa Ti-gôn” của T.T.Kh., đăng
trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy năm 1937
Thật vậy, đã hơn 70 năm – đã gần qua một đời
người với biết bao thăng trầm dâu bể mà chuyện tình thơ Hai sắc hoa ti
gôn của T.T.Kh vẫn tươi nguyên màu bí ẩn; bài thơ vẫn
tồn tại một câu hỏi chưa lời đáp: T.T.Kh là ai?
Có người đã nhận rằng T.T.Kh chính
là người yêu của mình… vì thương nhớ mà viết thành thơ về mối tình ngang trái.
Chẳng phải họ cố tình nhận bừa đâu mà là ngộ nhận trong tình huống gần giống
nhau.
Kể từ đó đã có biết bao nhiều bài viết về T.T.Kh. và Hai
sắc hoa ti gôn; người ta xem xét từng góc cạnh, xét nét từng phong cách của
bài thơ… Họ cho là cách viết này là phù hợp với học vấn của một học sinh trường
Tây, cách viết kia mang khẩu vị của trường phái thơ “hành” v.v…
Có người đã bỏ nhiều công sức để gặp gỡ kẻ mà họ ngờ là nhân vật trong thơ. Nhiều
cuộc tranh cãi, bao nhiêu thắc mắc, bao nhiêu cuốn sách được xuất bản; rồi thư
đi-tin lại, rồi giận hờn, trách móc… thậm chí người ta còn muốn vận đến luật
pháp để luận tội người viết này người viết kia đã xâm phạm đến đời tư…(1).
Từ những rắc rối mịt mù ấy, người hay chữ
nghĩa thì gọi nó là một Nghi án Văn học. Nghi án về một bài thơ có
một số phận thật kì lạ.
Nói chuyện “kì lạ” của bài thơ là nói ở bước
khởi đầu lên báo, bản thảo bài thơ đã bị thư kí tòa soạn vò đi, bỏ vào sọt giấy
vụn để rồi qua một phút định mệnh lạ lùng nó lại lên mặt báo để thành một tiếng
vang lớn trong làng thơ Việt. Hãy nghe Anh Chi kể :
“…Một buổi trưa, cuối năm 1937, ở tòa soạn
báo Tiểu thuyết thứ bảy các đồng
nghiệp trong tòa soạn đã ra về, chỉ còn lại Trúc Khê Ngô Văn Triện và Ngọc
Giao. Trúc Khê còn nán lại để dịch “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ ra quốc ngữ.
Ngọc Giao đã tiến lại chỗ mắc áo để lấy mũ và ra về. Nhưng khi đó có tiếng kèn
đám ma, đám tang đi qua phố Hàng Bông. Ngọc Giao là người rất sợ kèn đám ma nên
mới nán lại thêm, cho xe đám đi qua đã. Đã khoác áo, đội mũ, nên ông kéo ghế ngồi
tạm lại ở chỗ gần cái sọt đựng giấy vụn. Không biết điều gì xui khiến, ông đưa
tay vào sọt, nhặt lên mấy tờ giấy bị vo tròn quăng vào sọt để chờ đi đổ xe rác.
Tẩn mẩn, ông vuốt một tờ ra đọc. Đó là một tờ giấy học trò khổ nhỏ. Một bài
thơ. Chữ viết nguyệch ngoạc bằng bút chì, nét run, nét mờ, như thể viết ra một
lần gửi đi luôn cho tòa báo. Lệ của của báo là lai cảo phải viết trên một mặt
giấy sạch sẽ. Còn bài thơ nét chữ bút chì này lại viết trên cả hai mặt giấy.
Nhưng, bài thơ đã khiến Ngọc Giao rung cảm lạ thường: Hai sắc hoa ti
gôn của T.T.Kh! Ngọc Giao bước vội đến, đưa bài thơ cho Trúc Khê, yêu cầu
ông đọc ngay. Trúc Khê thấy Ngọc Giao quá xúc động, cũng bỏ bút, cầm đọc bài
thơ. Và ông đã cảm động, ngồi lặng đi, rồi đọc lại lần nữa. Ông già Trúc Khê vỗ
tay xuống bàn, nói với Ngọc Giao: “Sao lại có bài thơ tuyệt đến thế này!”. Ngay
sau đó, thư ký tòa soạn Ngọc Giao gọi ông cai thợ sắp chữ nhà
in lên, bảo xếp chữ ngay bài thơ ấy. Và Hai sắc hoa ti gôn đi
vào đời sống thi ca nước nhà… Kể câu chuyện tâm sự hơn sáu mươi năm cũ, nhà văn
Ngọc Giao còn ghi vào cuốn sổ lưu niệm của một người bạn văn cùng thời: Phạm
Văn Kỳ, cũng từng làm thư ký tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ năm. Những
dòng Ngọc Giao ghi vào lưu bút của Phạm Văn Kỳ là: “…Bài thơ ra đời trong hoàn
cảnh bị bỏ rơi sọt rác như vậy đó. Nó càng được bạn đọc nhắc đến bao nhiêu, tôi
càng ân hận về lỗi làm ăn cẩu thả, sơ suất bấy nhiêu… Nếu không có cái đám ma
qua phố thổi kèn rầu rĩ đó, thì tôi đã đội mũ lên đầu, không cúi xuống sọt rác…
thì đóa hải đường “Hai sắc hoa ti gôn” đành an phận nằm trong đó, rồi người ta
mang đi, theo thường lệ, người ta phóng lửa đốt tất cả… Trong đó, rất có thể cả
những áng văn hay mà cái anh thư ký tòa soạn quan liêu nhác lười, cẩu thả đã
ném đi!” …(2)
Kể từ đó, năm 1937 – năm Hai sắc hoa
ti gôn xuất hiện trên Tiểu thuyết thứ bảy – đến năm
1941 là năm Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh-Hoài Chân ra đời
thì bài thơ đã có tuổi đời bốn năm. Lúc bấy giờ Thi nhân Việt Nam viết: “…xóm
nhà văn bỗng xôn xao. Có đến mấy người nhất quyết T. T. Kh. chính là người yêu
của mình. Và người ta đã phê bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho hai
bài ấy là những áng thơ kiệt tác…
…Bốn năm đã qua từ ngày tờ báo vô tình hé mở
cho ta một cõi lòng. Ai biết “con người vườn Thanh” bây giờ ra thế nào?
Liệu rồi đây người có thể lẳng lặng ôm nỗi buồn riêng cho đến khi về chín suối?” (3)
Ấy chỉ là là mới 4 năm, còn bây giờ đã là hơn
70 năm rồi mà người ta vẫn không ngớt tìm kiếm: T.T.Kh. là ai
?
Nghĩ cho kĩ nguyên nhân thì sở dĩ có chuyện rộn
rã trong làng thơ như thế trước hết là vì bài thơ hay, hay vì cái tình của nó
được bộc lộ rất “thực“, cái tình của một phụ nữ đã yêu và rồi cố
tình quên đi, đào sâu chôn chặt mối tình đau xót, bất hạnh nhất của mình (4) . Viết
thơ lên báo rồi, người phụ nữ ấy cũng muốn ẩn giấu mình đi. Bài thơ hay ngay ở
những câu thơ đầu: tình ý thơ ngây cho đến cuối bài thơ thì xót xa đau đớn
lắm. Có câu, ý thơ bình dị, gần với suy tưởng, ngôn ngữ của quần chúng nên nhiều
người đọc, nhiều người thuộc, kể cả một số người bình dân nhất cũng biết; nhiều
câu lại được cách điệu mang dáng vẻ hiện đại của thơ phương Tây:
“….
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu,
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng.
Người ấy sang sông đứng ngóng đò…
Nếu
biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ,
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng ? ”
Trong cuộc đời, mỗi ngày qua lại có biết bao mối
tình tan vỡ nhưng đã có mấy ai viết được những vần thơ tả tình rất thực
như Hai sắc hoa ti gôn ? Tình trong thơ gần gũi với cái tình
chung của nhiều người lắm, nhất là lứa tuổi thanh niên. Lúc còn là học sinh
trung học, có mấy ai là không chép chuyền tay cho nhau những bài thơ hay trong
đó Hai sắc hoa ti gôn có lẽ là bài thơ không thể thiếu trong
những cuốn sổ chép thơ nho nhỏ…?
Trở lại vấn đề mà Hoài Thanh-Hoài Chân đã viết
trong Thi nhân Việt Nam : ” Có đến mấy người nhất
quyết T. T. Kh. chính là người yêu của mình…”: Trước hết hãy nói đến
nhà văn Thanh Châu, người khơi nguồn cho chuyện tình thơ: ngày 27/9/1937
, Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 174 đăng truyện ngắn “Hoa
ti gôn” của Thanh Châu. Lúc này ông mới 25 tuổi, mới bước vào nghề
văn khoảng 3 năm. Truyện kể một chuyện tình buồn của một họa sĩ: Họa sĩ
Lê Chất đi tìm cảnh đẹp để vẽ mà cũng chính là đi tìm một thiếu nữ yêu kiều
chàng mới gặp chiều qua: lúc đạp xe qua một biệt thự cũ, tình cờ thấy một
thiếu nữ dưới giàn hoa ti gôn – người con gái mặc áo cánh lụa, hai má đỏ hồng với
một vẻ đẹp cao quý, một vẻ đẹp rất hiếm hoi khiến người ta trông thấy một lần
là nhớ mãi. Thiếu nữ vô tình, mãi khi sắp vào nhà, mới trông thấy có người đứng
nhìn mình. Từ đó, hôm nào chàng cũng đạp xe vào làng Mọc nhưng thiếu nữ động thấy
bóng là lẩn vào nhà ngay. Lê Chất được gặp nàng vài lần nữa rồi thôi, ngôi nhà
hình như vắng người và chỉ còn thấy có một ông già cuốc cỏ ở trong vườn. Những
nhớ nhung cứ thế triền miên cả đến khi chàng đã trở nên giàu có. Một mùa đông,
họa sĩ Chất đi vẽ ở vùng Vân Nam phủ. Trong một bữa tiệc, chàng chợt gặp lại
người xưa. Tám năm rồi, nhưng quên làm sao được khuôn mặt người mình yêu. Mai Hạnh
là tên thiếu phụ, nàng đã lấy một người chồng quyền thế và giàu có.
Những ngày sau, cuộc tình lãng mạn đã đến:
nàng vẫn thường đến chỗ trọ thăm chàng. Hai người yêu nhau và như sống trong
cơn mê. Mai Hạnh tuy cố chống chọi lại với ái tình nhưng sau cùng cũng nhận
lời cùng Lê Chất sắp đặt để cùng trốn đi xa nhưng rồi cuối cùng lại vì sợ bị
khinh bỉ, tai tiếng ở đời nên từ chối. Cuộc tình chấm dứt. Bốn năm sau, họa sĩ
được báo tin: nàng đã chết.
Từ sau ngày đặt lên mồ người yêu những dây hoa
ti gôn màu máu, hình quả tim vỡ cho đến cuối đời, cứ đến mùa hoa tigôn nở,
không buổi sáng nào chàng không mua một ôm hoa ti gôn về để thay cho hoa cũ
trong phòng vẽ…
Câu chuyện tình của Thanh Châu kết thúc. Hơn một
tháng sau, tòa soạn Tiểu thuyết thứ bảy nhận được bài
thơ “Hai sắc hoa ti gôn” ký tên T.T.Kh. do một
thiếu nữ mang đến tòa soạn. Bài thơ được đăng ngay trên số
báo 179, ngày 30/10/1937. Hai mươi ngày sau tòa soạn lại nhận được một bài thơ
nữa: Bài thơ thứ nhất (đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy số
182, ngày 20/11/1937). Khoảng chưa đầy một năm sau, tạp chí Phụ nữ thời
đàm đăng bài thơ Đan áo cho chồng; bài thơ vừa
đăng thì lại có thêm Bài thơ cuối cùng được gửi tới Tiểu
thuyết thứ bảy (đăng trên số báo 217 ngày 23/7/1938). Cả thảy
trước sau có bốn bài cùng kí tên: T.T.Kh; rồi từ đó bặt luôn,
các báo không còn nhận thêm bài thơ nào nữa.
Nhiều người ngờ lắm: Cuộc tình trong thơ khiến
họ nghĩ ngay đến nhân vật chính của truyện Hoa ti gôn. Người khẳng
định chắc chắn là nhà văn Thế Phong trong Lược sử văn nghệ VN (Nxb Vàng
Son – Saigon 1974) đã cho rằng T.T.Kh. là người yêu của Thâm Tâm nhưng
mới đây, Thế Phong (soạn chung với nhà thơ Trần Nhật Thu, ký tắt : Thế Nhật)
trong cuốn “T.T.Kh. – Nàng là ai” (Nxb Văn Hoá Thông Tin-1994) lại
bác bỏ giả thiết đó và khẳng định: T.T.Kh. tên thật là Trần Thị Chung (Trần Thị
Vân Chung), sinh ngày 25/8/1919 tại Thanh Hoá, nguyên là người yêu cũ của Thanh
Châu sau đó vâng lời gia đình lấy luật sư Lê Ngọc Chấn. Ô. Trần Đình Thu trong
cuốn “Giải mã nghi án văn học” (NXB Văn hóa Sài Gòn; 2007)
cũng cho rằng T.T.Kh là Trần Thị Vân Chung nhưng đến nay thì hình như điều này
là không đúng: Thanh Châu lúc gần cuối đời đã phủ nhận những đồn
đoán; lời phủ nhận của Thanh Châu ít nhiều bộc lộ sự bất bình: “…Không!
Không phải! Bà Vân Chung không phải là T.T.Kh … Toàn là bày vẽ chuyện “ (5).
Bà Vân Chung lúc bấy giờ đang ở Pháp cũng viết thư về phản đối tác giả Thế Nhật
và Trần Đình Thu đồng thời khẳng định mình không phải là T.T.Kh.
(6).
Vậy là rõ; T.T.Kh. không phải
là Vân Chung, hơn nữa các nhà nghiên cứu cũng đã đi quá xa để so sánh những nét
tương đồng về nhân thân của Vân Chung với T.T.Kh. được cho là
người yêu cũ của Thanh Châu, là nhân vật “tôi” trong bài thơ. Tỉ mỉ hơn một
chút, so sánh truyện“Hoa ti gôn” với bài thơ “Hai sắc hoa
ti gôn” thì chuyện tình được kể trong hai tác phẩm không giống nhau, một
bên là thiếu phụ đã có chồng, yêu một chàng họa sĩ rồi ôm mối hận tình cho đến
chết, một bên là một cô gái trẻ, vì sức ép của lễ giáo phải lấy một người chồng
mình không yêu để rồi suốt cuộc đời phải chôn chặt trong tim mối tình riêng của
mình…Điểm giống nhau duy nhất của hai tác phẩm chỉ là cả hai đều lấy hình tượng “hoa
ti gôn”, loài hoa có màu máu, hình quả tim vỡ làm biểu tượng cho tình
yêu tan nát…
Gần đây ta lại biết thêm một chi tiết để có thể
phủ nhận ức đoán trên: chuyện tình trong truyện ngắn “Hoa ti gôn” chẳng
phải là chuyện tình của Thanh Châu với bà Trần Thị Vân Chung như một số người
đã lầm tưởng mà đây chỉ là truyện được nhà văn Thanh Châu hư cấu nên từ cuộc đời
thực của một người bạn làm họa sĩ: họa sĩ Lê Phổ, người đã tốt nghiệp khóa đầu
của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, sinh năm 1907 và đã mất tại Pháp năm 2002.
(7) …
Vậy nên chăng: ta chỉ khẳng định được một điều
là truyện ngắn “Hoa ti gôn” là nguồn cảm hứng để T.T.Kh. viết
nên bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”.
Thứ đến, hãy nói về nhà thơ Nguyễn Bính: khi đọc
đến một đoạn của “bài thơ thứ nhất” – một đoạn thơ khá hay và nhiều ẩn
ý:
“…Ở
lại vườn Thanh có một mình
Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh
Yêu trăng lạnh lẽo rơi trên áo
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành…”
,
Nguyễn đã đoán rằng T.T.Kh. là người mình yêu ở
Thanh Hóa.
Số là Nguyễn Bính lúc trẻ đã bao lần lê gót viễn
du suốt từ Nam chí Bắc. Một lần qua Thanh, gặp đêm mưa lớn, vào trọ một điền
trang, được người lão bộc tiếp đãi. Nhà có khu vuờn đẹp, trong nhà có cô gái trẻ
đang ngồi quay tơ – mà ông gọi là “Người vườn Thanh” – Vốn là
thi sĩ đa tình, Nguyễn Bính xúc động lắm. Mấy năm sau, lại có dịp qua Thanh,
tìm đến vườn xưa, lại được người lão bộc tiếp và kể cho nghe “một thiên hận
tình” của cô chủ. Bẵng đi một thời gian, Nguyễn Bính chợt đọc được những bài
thơ của T.T.Kh. trên Tiểu thuyết thứ bảy và đã viết bài “Dòng
dư lệ” với những câu:
“…Truyện
xưa hồ lãng quên rồi,
Bỗng đâu xem được thơ người vườn Thanh.
Bao nhiêu oan khổ vì tình,
Cớ sao giống hệt chuyện mình gặp xưa?
Phải chăng? Mình có nên ngờ,
Rằng người năm ngoái bây giờ là đây?.”
Viết Dòng dư lệ, Nguyễn Bính
cho rằng “Người vườn Thanh” chính là T.T.Kh. Một số
ít người đã nghĩ như Nguyễn Bính, nhiều người khác thì cho rằng đây chỉ là ngộ
nhận của một thi sĩ đa tình.
Cục diện thế giới những năm kế tiếp nhiều biến
động; ở Việt Nam, Nhật đảo chính Pháp, nạn đói Ất Dậu hoành hành, người chết
như ngả rạ…Sau Cách mạng tháng Tám, ai cũng chỉ chú tâm vào cuộc giải phóng dân
tộc; rồi kháng chiến trường kì gian khổ 9 năm bùng nổ… người ta quên đi chuyện
tình thơ của T.T.Kh suốt một thời gian dài mãi đến năm 1969, ở miền Nam,
thi-văn sĩ Nguyễn Vỹ –vốn là người đã ra làm báo trước 1945 ở Hà Nội-
là bạn của Thâm tâm, đã viết đến 15 trang (từ trang 253 đến trang 267) trong “Văn-Thi-sĩ
tiền chiến” (Nxb Khai Trí -1969) kể lại khá tỉ mỉ một
chuyện tình:
Khoảng tháng 2/1936, lúc bấy giờ Thâm Tâm là
thi sĩ kiêm họa sĩ (họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình). mới 19 tuổi làm quen với cô gái
tên Trần Thị Khánh 17 tuổi, nhà ở phố Sinh Từ, Hà Nội nơi vốn được trồng nhiều
antigone (hoa ti gôn). Nhà cô Khánh cũng gần vườn Thanh (THANH
GIÁM: miếu thờ Khổng Tử được xây từ thời nhà Lý, lúc bấy giờ ngoài tên Temple
de Confucius Pháp vẫn hay gọi nơi này là Pagode des corbeaux –
chùa Quạ). Thâm Tâm hò hẹn tại nơi đây được hai lần thì cô Khánh bỏ đi lấy chồng
– một người chồng giàu có – khiến Thâm Tâm rất đau khổ. Để đỡ niềm yêu nhớ đơn
phương, bớt mặc cảm vì bị người yêu phụ rẫy và cũng để làm cho mấy người bạn khỏi
chế nhạo, đùa bỡn, chính Thâm Tâm đã thức suốt một đêm làm bài thơ Hai
sắc hoa ti gôn rồi nhờ một cô em họ, con của một bà cô ở phố Cửa Nam
chép bằng nét chữ con gái, bỏ vào bì niêm kín mang đến gửi tại tòa soạn Tiểu
thuyết thứ bảy.
Trong những trang sách này, Nguyễn Vỹ cũng đã
khẳng định chắc chắn rằng “Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ
làm thơ cả!” . Tất cả những bài thơ kí tên T.T.Kh. đều do Thâm Tâm làm
và gửi báo.
Đọc kĩ những trang viết của Văn-thi-sĩ
tiền chiến, ta hình dung được đây là những kỉ niệm kể khá chân thực
qua hồi ức nhiều năm tháng của một đời làm báo. Chỉ tiếc một điều là Nguyễn Vỹ,
người bạn thân thiết của Thâm Tâm đã ra đi bởi tai nạn xe ở Long An năm 1971 –
hôm nay không thể cùng ai để bàn luận chuyện này nữa.
Đến 1970, Vũ Bằng trên tạp chí Văn số 103 lại
đột nhiên công bố những điều mới, làm xôn xao dư luận: T.T.Kh. chính là nhà thơ
J.Leiba (Lê Văn Bái) lúc bấy giờ bị lao phổi, đang chán đời bèn cùng với Vũ Bằng
giả cách làm thơ rồi kí tên T.T.Kh. để làm trò vui, giải sầu…
Về sau, Mã Giang Lân cho rằng Vũ Bằng chỉ là
người giỏi bịa chuyện.(8) Nhà văn Thanh Châu cũng nhận định tương tự: “Những
ai đã từng làm báo với họ Vũ cũng đều thuộc “ngón” làm ăn này của Vũ… Leiba là
lớp trước Thâm Tâm, không quen biết gì nhau. Đây chỉ là cách làm báo phao tin
“giật gân” cho chạy báo…”. (9)
Đến năm 1989, nhằm trả lời câu hỏi T.T.Kh.
là ai? Hoàng Tiến viết 2 bài; riêng bài trên báo Nhân dân chủ nhật ngày 23/
7 đã nêu chứng cớ với người thật-việc thật như sau:
“…Số là vào dịp hội đền Bà Tấm năm nay (Kỷ Tỵ,
1989), chúng tôi rủ nhau sang Phú Thụy dự hội. Cùng đi có nhà thơ Lương Trúc,
năm nay đã 74 tuổi (tên thật là Phạm Quang Hòa), bạn thân với các nhà thơ Thâm
Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. …Nhà thơ Lương Trúc là người cung cấp tư
liệu, và tất nhiên ông sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về họ tên tác giả Hai sắc
Hoa ti-gôn được công bố dưới đây. Cùng nghe hôm đó với tôi có nhà thơ Trần Lê
Văn và nhà thơ Tú Sót:
T.T.Kh. tên thật là Trần Thị Khánh, người yêu
của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau, nhưng biết không lấy được nhau, hẹn giữ kín mối
tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này. Cô Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy
in truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu (số tháng 9-1937) xúc động, tự thổ lộ
câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn và gửi đăng Tiểu thuyết thứ bảy.
… Nay được biết T.T.Kh. về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bây
giờ bà con hay mất, nhưng cứ xin phép cho chúng tôi được công bố điều bí mật
trên…”
Vậy là Hoàng Tiến tuy đồng ý với Nguyễn Vỹ về
mối tình giữa Trần Thị Khánh với Thâm Tâm nhưng lại cho rằng bài thơ “Hai sắc
hoa ti gôn” là do chính cô Khánh làm mang gửi báo..
Vậy là đến hôm vẫn mãi tồn tại câu hỏi : T.T.Kh.
là ai? Hơn 70 năm rồi mà chưa ai tìm được lời giải xác đáng – và
rồi mãi mãi ta cũng sẽ không tìm được bởi vì hiện giờ, ngoài Thâm Tâm-Nguyễn Vỹ
ra thì tất cả những người có liên quan khác như Thanh Châu, Nguyễn Bính… đều
không còn nữa kể cả những người bị cho là bịa chuyện như Vũ Bằng, J.Leiba cũng
đã ra người thiên cổ. Chỉ còn lại T.T.Kh.là không biết còn hay mất? Nếu bà là
có thật và còn ở trên cõi đời này thì kẻ hậu sinh hôm nay xin được thưa với bà
rằng: chúng tôi rất trân trọng, trân trọng một nhân cách, trân trọng một cuộc
tình thơ đã từng gây sóng gió trên thì đàn Việt Nam, trân trọng một hồn thơ
lãng mạn của phong trào thơ mới bởi vì chính bà – chính T.T.Kh. đã có
công cùng Chế Lan viên, Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mạc Tử…thổi vào
thi đàn Việt Nam một luồng sinh khí mới./.
Nguyễn Cẩm Xuyên
CHÚ THÍCH:
(1)&(6)“Giải
mã nghi án T.T.Kh. của Trần Đình Thu-Chưa rõ đúng sai nhưng chắc là phạm luật”; VIỆT
DUY – Paris, 20/3/2007 –Thanh Hải; Pháp luật 18/3/2007.
(2) “Suýt
nữa không có bài HAI SẮC HOA TI GÔN” ; Anh Chi; Tạp chí Khuyến Học&Dân
Trí. Gần đây bài viết này được đăng lại trên Báo điện tử Người đại biểu
nhân dân ngày 08/09/2008 và nhiều báo khác. Sông Cửu Long
online cũng có bài tương tự với tựa đề “TRÚC KHÊ LÀ NHÂN CHỨNG BIẾT VỀ BÀI
THƠ “HAI SẮC HOA TI GÔN”.
(3) Hoài
Thanh-Hoài Chân; Thi nhân Việt Nam.
(4)&(9)
“Nói thêm về T.T.Kh.” – Thanh Châu ; http://www.thivien.com. ngày
06/06/2006.
(5)“Nhà
văn Thanh Châu ra đi, T.T.Kh vẫn bí ẩn!” Trần Đình Thu; http://www.nld.com.vn ngày
13/5/2007
(8) Văn
nghệ số 13 – tháng 3 năm 1990
Nguồn: Từ trang DĐQGHCUC
No comments:
Post a Comment