“Giang tuyết” của Liễu Tôn Nguyên
Thi pháp của
Liễu Tôn Nguyên trong “Giang tuyết” không chỉ có thơ mà gồm luôn họa, vừa thơ vừa
họa trút thêm băng giá, khiến càng tăng sảng khoái lạ lùng.
Lê Vĩnh
Húy
千山鳥飛絕 Thiên sơn điểu phi tuyệt
萬徑人蹤滅
Vạn kính nhơn tung diệt
孤舟蓑笠翁
Cô châu thoa lạp ông
獨釣寒江雪
Độc điếu hàn giang tuyết
(Ngàn ngọn núi chẳng một bóng chim,
Muôn nẻo đường bặt dấu chân người.
Duy ông già khoác nón lá áo tơi trên chiếc xuồng
lẻ loi,
Một mình thả cần câu giữa trận tuyết trên
sông).
Bài thơ chỉ hai chục chữ, nhưng mỗi chữ đều
toát lên hàn khí căm căm, khiến trải hơn ngàn năm, người ta ngâm đọc hoài không
chán.
Chỗ độc đáo của Đường thi là ở phép biền ngẫu.
Nhiều khi chỉ cần đặt hai vế đối nhau, không cần nói gì thêm, nhưng ý tại ngôn
ngoại, qua đó mà nói lên nhiều điều.
Nhưng chỉ vỏn vẹn hai mươi chữ mà đối chọi,
tương phản tầng tầng lớp lớp, tưởng xưa nay chỉ mỗi bài Giang tuyết.
* * *
Thoạt đầu, cha nội trật ót ngước nhìn tuốt
trên đầu ngọn núi, thấy ngàn non không bóng chim; lại buông tầm mắt ra xa, dòm
hoài muôn nẻo cũng chẳng dấu chân người. Nhìn khắp cao xa cho đã chớ thấy dấu vết
sự sống, mới hạ tầm mắt xuống con sông, ngó tới chiếc xuồng có ông câu nón lá
áo tơi, một mình thả câu giữa tuyết lạnh.
Bốn câu chia làm hai cặp, mỗi cặp đối nhau đã
đành; mà cặp 1~2 còn đối lại cặp 3~4. Đó là tương phản giữa cao với thấp, chết
chóc với sinh tồn. Khung cảnh hoàn toàn tĩnh lặng, tới ông câu cũng chớ thấy
nhúc nhích. Nhưng chỗ đột ngột đổi hướng nhìn nầy tạo ra cảm giác chuyển động mạnh
mẽ, cho thấy sâu tuốt dưới sông lạnh kia vẫn còn sự sống.
Kế đó là chỗ tương phản giữa “ngàn non muôn nẻo”
minh mông với chiếc xuồng và cái cần câu lẻ loi. “Thiên sơn vạn kính” bày ra
quang cảnh hùng vĩ, lấn cho “cô châu độc điếu” thành ra chút téo. Chỗ trái ngược
nầy khiến chiếc xuồng và ông câu thêm phần cô quạnh. Nhưng độc đáo ở chỗ cảnh
tượng ấy không hiu hắt thê lương, mà trái lại bốc lên ngạo khí ngất trời.
Còn chỗ tương phản tuy không nói ra nhưng bày
trước mắt. Là trước kia trên ngàn núi từng có chim bay, khắp muôn nẻo từng thấy
đông người. Nhưng bây giờ hết thẩy vắng bặt, chớ thấy tăm hơi. Trận tuyết rơi
dày đặc khiến bao sự sống tưởng chôn vùi. Để rồi nẩy ra ông câu làm mầm sống
mong manh, cục cựa ngoi lên.
Chỗ tương phản nữa là giữa hư vô với hằng hữu.
Chim đã mất tăm, người càng biệt tích, khiến đất trời thành quạnh quẽ, trắng
xóa một màu. Đó là vẽ cảnh hư vô. Cái hư vô đó cốt làm nổi bật hình ảnh ông
câu. Chiếc nón lá áo tơi hiện ra làm chứng giữa càn khôn, là con người vẫn hằng
hữu.
Cái hư vô vắng quạnh bao trùm, khiến chiếc xuồng
câu càng ra nhỏ bé, chỉ còn là một chấm nhỏ giữa bạt ngàn tuyết trắng. Vậy mà
Liễu Tôn Nguyên vẫn nhìn ra trên xuồng đó có lão nón lá áo tơi. Lão đó đang thả
cần câu, bắt gợi ra sợi dây câu mỏng tang đang lung lay nhí nhảnh theo làn nước.
Chỗ tương phản giữa hư vô với hằng hữu, tới đây càng được đẩy lên hết nấc…
* * *
Phần số Liễu Tôn Nguyên ngắn ngủi, chỉ góp mặt
trên trần thế bốn mươi bẩy năm. Đã vậy khéo xui, còn đầu thai lầm thế kỷ. Hai
mươi tuổi, ông đậu tiến sĩ ra làm quan, để rồi suốt hăm bẩy năm sau đó lao đao
miết giữa bể hoạn ba đào.
Bài Giang tuyết nầy Nguyên làm lúc bị biếm ra
Vĩnh Châu. Xứ đó nằm về mé nam tỉnh Hồ Nam ngày nay, vốn thuộc vùng ôn nhiệt,
ít khi có tuyết. Vậy mà chỉ một trận tuyết hiếm hoi, đủ khiến ông vọt ra hai
mươi chữ để đời.
Với lại nói nghe nè, bài nầy không biết tác giả
vô tình hay hữu ý, còn là thơ khoán thủ. Hổng tin cứ đọc mấy chữ đầu câu thì biết.
Lê Vĩnh Húy
304Đem – llttm - sgtc

No comments:
Post a Comment