Họ chỉ có thể là “sản phẩm của một chế độ xã hội tự do, nhân bản và khai phóng
Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông.
Chợt nhớ lại, khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức,
giáo sư, tiến sĩ… mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có
một Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài
cái Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo
“quốc doanh”.
Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng
CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa
bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.
Còn đối với tất cả những ai từng biết
và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của
miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một
thi sĩ… thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng, mỗi một người như vậy ra đi, là mất
luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự
do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.
Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế
độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh
vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật. Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm
Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương… Sẽ không có Nguyễn Tất
Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền,
Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê…; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy
Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm
Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc
Biên…
Sẽ không có những tên tuổi trong mảng
nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn
Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài
Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm,
Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định…
Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư
tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương
Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật… các tạp
chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các
nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học
nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách
Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói…
Sẽ không có một nền phật học rực rỡ,
những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v.
Không thể kể hết những thành tựu về
con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.
Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm
tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội
bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét
lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày,
sách, báo, truyện, nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện
tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách
Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím… chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy
sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch – ta, lý thuyết
cách mạng nọ kia…
Thanh niên vẫn có khung trời dành cho
tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức
vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết
học Đông – Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng
của Mao…
Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội
thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm,
cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt
tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến
đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó
cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để
lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu
mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm
qua.
Xã hội Việt Nam bây giờ đã hơn 50 năm
trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều.
Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một
ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều
người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng.
Rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số
lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: Thiếu
sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính
khai phóng. Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên
cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm.
Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc
tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo
điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn,
và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền,
chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì
làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy
tư, và lắng đọng?
Song Chi (baotiengdan.com)
Người chuyển bài – HV - USA

No comments:
Post a Comment