Friday, June 26, 2026

Nguyễn Thị Cẫm Giang - Thuyên Huy

 

Nguyễn Thị Cẫm Giang


1.

    Một chiều đầu hè năm đệ Thất, ba tôi đi đâu đó về, dắt theo đứa bé gái trạc chừng năm tuổi, má tôi chưng hửng nhưng nhìn cười, không có gì ngạc nhiên cho lắm, có lẽ bà vui, chắc là một cái vui bất chợt. Nó biết chào biết dạ thưa, chừng như đã quen rồi với mấy chuyện này. Từ hôm đó, nhà tôi có thêm người và tôi có đứa em gái, và cũng từ hôm đó, nhà tôi có thêm tiếng cười. Ba đặt cho em tên “Nguyễn thị Cẫm Giang”, vì ông xin nó ở Cẫm Giang, rồi dẫn ra trụ sở xã, bên kia đường, nhờ chú tư Bình, xã trưởng làm cho cái giấy “thế vì khai sanh” với tên mà ba đã đặt, để có giấy tờ đi học trường xã nay mai.

2.

    Trên tỉnh về, thấy trời còn sớm, mới lưng chừng giữa trưa, ba tôi xuống xe ở Cẫm Giang, sẳn tiện đường, ghé nhà anh chị năm Thiết, hỏi chuyện thu hoạch vườn dừa bên Bến Cầu của nhà mà ông giao khoán cho vợ chồng anh ta lo từ bao nhiêu năm qua mùa này, ghe cộ, chi phí đủ thiếu ra sao. Nhà anh năm Thiết, nằm dọc theo bờ sông, cách cái quán cơm trên dốc, ngó xuống ngay bến tàu đò, chị năm dẫn thằng con lớn đi đâu đó trên chợ chưa về, hỏi qua hỏi lại, chợt anh năm nhắc chuyện muốn kiếm một đứa con về nuôi cho vui nhà vui cửa, hỏi ông có còn ý định đó không, ba cười vẫn còn.

    Anh năm đưa ba tôi đi qua cái nhà mái tôn nhỏ, cách nhà anh ba bốn căn, chị năm vừa về tới cũng nhanh chân chạy qua theo. Tới ngạch cửa, có tiếng đọc kinh trong nhà, chị năm nhanh miệng gọi trước, ba và anh năm đứng sau chờ. Không lâu, một bà bác khá già, chậm yếu, mặt phúc hậu bước ra, bà cười gật đầu chào, có đứa bé gái đi theo sau lưng, chị năm quay qua, không biết nói nho nhỏ gì đó với bà, bà mĩm cười gật gù xem ra có gì vui trên mặt, che chút lằn nhăn, làm quen ba, một người khách lạ. Cũng đã quá trưa, chuyến tàu đò về lại Bến Cầu đi từ lâu, bến vắng khách, cái quán cơm cũng vắng người, chờ chuyến tàu qua sáng mai, nước con sông Vàm, sóng gập ghềnh đưa từng mảng lục bình đi xuôi, về ngược, nắng vẫn nắng, rớt từng mảnh, lấp lánh màu ửng hồng của trời mùa hạ.

*

    Bà bác già, bà con hàng xóm ở đây ai cũng biết, người ta quen gọi bà là bà Ba chay trường và bà tu tại gia, hiền từ, nhân đức, giúp người không nề hà, thằng con trai anh năm thường chạy qua chơi với đám bạn cùng trang lứa trước nhà, khi nắng chiều bên kia sông buông xuống, lúc đó bà thường ra ngồi trên cái ghế cây trước ngạch cửa, nhìn cười, dặn hết đứa này tới đứa kia,”coi chừng té, coi chừng té”. Chị năm chắc cũng thường qua lại nên tự động đứng dậy, lấy ấm trà nóng trong cái bình bằng vỏ dừa khô, nấp đậy cũng của trái dừa đó, đem tới, rót ra cái tách sành, thay bà, bà cầm lấy mời ba tôi và anh năm ngồi ở đầu bên này bộ ván gõ, đứa bé gái nấn níu, bẻn lẻn, bên bà ngồi đầu đằng kia, bà gọi tên nó là bé, vậy thôi, chị năm chào ba tôi rồi về bên nhà, ba tôi nóng lòng nghe chuyện, cầm tách trà trên tay mà chưa uống, chờ.

*

    Đầu năm ngoái, phía bên Long Chữ, Long Giang, mấy chỗ sát biên giới Miên bị cuồng phong bão dữ dội từ hướng Miên kéo về, thổi ngang, đất trời tối đen, mưa trút như thác đổ, lụt lủ dâng cao hơn nóc nhà, kèm theo gió hú rùng rợn suốt hai ba ngày, nhà cửa, gió thổi tróc nóc, cây cối bật gốc, trôi lềnh bềnh khắp chỗ, người ta réo, người ta kêu, hớt hơ hớt hãi, chèo ghe, chèo xuồng kiếm nhau, mạnh ai nấy lo thân, không đủ sức chịu đựng trước những trận mưa cuồng sóng lũ có một không hai đó.

    Nước rút, giông gió dịu đi, trời bắt đầu sáng, nhà cửa không còn gì, mái tranh, mái tôn, cửa cây cửa lá dồn lại từng đống chỗ này chỗ kia. Có người chết chưa tìm thấy xác, bà Ba chỉ con bé, dân làng cứu được nó nằm co ro trên mảng lực bình dày đặc, lớn hơn cái nhà, nằm lắc lư dính vào bờ tường rào trụ sở ấp, người quen biết nó là con gái của hai vợ chồng anh hai Tằn, chuyên làm ruộng mướn, ở căn nhà tranh nhỏ cuối triền dốc ấp, không xa cái truông nứa, và không may đã chết, dân trong ấp đem xác vợ chồng về chôn ở nghĩa địa làng cùng với một số người chết khác. Chú trưởng ấp đem nó tới gởi cho gia đình ông bác giữ đình Long Chữ tạm trông nom rồi tính sau.

   Bà Ba đi Bến Cầu sau đó vài hôm, rồi qua Long Chữ, nhờ người bà con giúp trả tiền công cho mấy người gặt đám ruộng năm rồi, người bà con đó là ông bác vai anh, lo trông nom trong ngoài cái đình. Ở lại đó, hôm sau bà rời Long Chữ, xuống tàu đò Bến Cầu về lại Cẫm Giang với con bé gái, mặt mài dễ thương và bộ quần áo cũ rộng thùng thình.

*

   Cẫm Giang, em tôi đẹp lắm, hai má lúm đồng tiền, miệng cười rạng rỡ, bà con quen ở phố chợ, ai cũng trầm trồ “con nhỏ đẹp quá chừng”, Cẫm Giang gặp ai cũng chào cũng dạ, sáng theo má tôi ra chợ thì ôi thôi, bạn hàng, bất kể chị cô thiếm bác, đều phải chận lại nựng một cái mới được, nó cười luôn miệng đáp lễ, Cẫm Giang dễ dạy, và sáng dạ, ba tôi dạy đánh vần, tập viết chữ, cái nào nó cũng thuộc nhanh làm giỏi. Cẫm Giang dễ hòa đồng với đám con nít nhà trong chợ dù mới về không bao lâu, chiều nào tan trường về ngang nhà, tụi nó cũng xúm xa xúm xích ngoài cổng, ơi ới Giang hởi Giang ơi. Em tôi mới chừng đó tuổi đầu, mà thấy má giặt đồ, nấu cơm, phơi củi thì khỏi nói, cứ quấn quít theo hỏi “má cho con làm má cho con làm”.

    Suốt hè năm đó, bây giờ là “anh hai”, tôi thường dắt em đi theo, chỉ em chỗ này chỗ nọ, dường như chỗ nào có tôi thì có em. Mỗi tối ngồi học bài, em cũng ngồi kế bên, nhìn sách nhìn vở, hỏi cái nọ cái kia, mấy lúc đó, như ba, tôi dạy em chữ này chữ kia cho vui. Có Cẫm Giang, không chỉ ba má tôi vui hơn trước nhiều, vắng nó một chút là “Cẫm Giang ơi con đâu rồi”, mà tôi cũng vậy. Ba tôi thì mỗi tháng, tới ngày lảnh lương dưới văn phòng hảng về thế nào em tôi cũng có, áo mới hay món này món nọ như tôi đã có từ ngày còn nhỏ, mỗi lẩn có đồ chơi hay bánh kẹo gì, nó cũng gặn hỏi “của anh hai đâu của anh hai đâu”, ba má tôi xoa đầu “anh hai lớn rồi, mai mốt ba cho anh hai cái khác”, nó nủng nịu, nắm tay tôi cười khoái chí.

*

    Tựu trường năm sau, tôi lên đệ Lục, em vào lớp năm trường xã, vì ở nhà đã dạy, biết đọc biết viết, nên chưa mấy ngày thì cô Hiền cũng như bác hiệu trưởng, đều biết ba má tôi, gặp ba cho biết cho em nhảy lên lới tư, Cẫm Giang siêng học, chăm chỉ, biết nghe lời thầy cô nên, gặp ba má tôi ai nấy đều khen hết. Bạn bè trong lớp, trong trường, nhứt là đám con nhà giàu phố bên kia chợ đều khoái chơi với em, cứ tìm em “đánh đôi đánh đọ”, bày đủ thứ trò chơi con gái ở mấy sạp bán hàng, khi chợ chiều không nhóm cho tới góc sân trường.




    Buổi sáng, khi tôi đi ra bến xe lam đi học sớm, lúc nào cũng đi theo ra tới cổng nhà, cái cổng cây so le cao chừng hơn đầu gối người lớn một chút, nhìn theo, chiều nào tan trường về cũng kêu ba dẫn ra bến xe đón “anh hai” cho được, tung tăng cười toe cười toét nắm tay tôi về nhà. Lên lớp ba, Cẫm Giang đã biết phụ má nhúm lửa bếp than, biết vo gạo cho má nấu cơm, biết phụ má đem quần áo giặt ra phơi ngoài sân sau, biết dọn chén dọn đủa, làm cái nào cũng đàng hoàng, ngăn nắp.

    Tết nào ba má tôi cũng dắt Cẫm Giang đi Cẫm Giang, tôi ít khi đi theo,  thăm bà Ba và vợ chồng anh năm Thiết, biếu bà Ba chút quà trà bánh cùng ít tiền lì xì, chúc bà vui khỏe, gặp lại em, ba Ba tròn mắt, ôm nó hun đầu hun trán không biết bao nhiêu lần, em cũng rờ chân rờ tay bà “bà khỏe hông hả bà, bà ngủ môt mình buồn hông…”, nghe em hỏi mà bồi hồi xúc động, bà muốn rơi nước mắt, anh chị năm cứ ôm nó mà trầm trồ, con đẹp quá vậy, ba má tôi cười mà sung sướng trong lòng. Ở chơi tới hơn quá trưa, bà Ba chậm chậm theo ra đường tiễn, không quên ôm hôn Cẫm Giang mấy lần, mới để cho nó lên xe.

*

   Rồi hết năm này tới năm kia, năm nào Cẫm Giang cũng lảnh phần thưởng hạng Nhứt trong trường. Cuối năm lớp Nhất em đậu vào đệ Thất trường quận cùng với hai ba đứa khác cùng lớp nhưng họ lại lên trường tỉnh, tôi xuống Sài Gòn vào năm đầu Đại học. Chưa có thứ Bảy chủ Nhật nào mà tôi ở Sài Gòn, có anh có em, chuyện này chuyện nọ, vậy đó như thói quen, chuyến xe đò sớm đầu ngày về tới nhà, xe chưa ngừng đã thấy Cẫm Giang bên đường lộ chờ. Ba má tôi thương em lắm, có khi thương còn hơn tôi nữa, tôi cũng thương em không khác gì ổng bả.

3.

   Tôi ra trường, lên Lái Thiêu làm cũng hơn một năm, Cẫm Giang lên đệ Nhị rồi đậu Tú Tài Một hạng cao, cả trường quận đều biết, người phố chợ đồn lan ra, tiệm quán, cha mẹ học trò, nhất là cha mẹ đám học lớp đệ Nhị đệ Nhất. Đoán chừng cũng đúng, làm việc ngồi ở văn phòng, hôm nào cũng vậy nhớ ngày em thi, tôi đứng ngồi không yên, tôi nghỉ phép vài ngày, nhờ một anh nhân viên đưa từ Lái Thiêu về Sài Gòn, bằng xe Honda, không quên mang theo cái đồng hồ Seiko con gái dây bạc đã mua từ trước đó, dành quà cho em khi có dịp, đón xe về kịp buổi trưa, ngay hôm ở nhà làm bữa ăn, không dám gọi là bữa tiệc vì dân nhà quê mà tiệc với tùng cái gì trừ nhà ai đó có đám cưới đám hỏi. Nhà có thêm mấy cô, mấy cậu chung lớp từ dưới quận lên chung vui, bữa ăn không có gì, gỏi cuốn, cà ri gà, canh chua cá lóc, đám bạn giờ biết tôi, nên cũng tự nhiên, vui cười “anh hai anh hai”.

    Để ý một chút, có một cậu, khá đẹp trai, cười nhiều nói ít, tên Trọng, hỏi ra biết nhà Trọng, có tiệm bán tạp hóa đầu ngã ba xuống chợ quận, là con một, học giỏi nhất trong lớp, xem ra được cô em tôi lăng xăng lo cho hơn mấy người khác, thỉnh thoảng Trọng lén nhìn tôi ra chiều e ngại, nhìn sơ qua, ngay cả ba má tôi cũng như tôi đều biết trong bụng là, chắc hai đứa này có gì đây, mà nếu có thì cũng mừng.

    Bữa ăn xong, trời cũng còn sớm, mới lưng lửng trưa, nắng hè vẫn là nắng của trời giữa Hạ, rưng rung đổ một trời hồng. Rồi cũng chia tay, tôi theo đưa bọn họ ra đón xe lam chuyến chiều của bác tư cuối phố chợ ra về, bác tư nổ máy xe chờ, thấy đám nhỏ bịn rịn không chịu lên cho trọn, nhìn tôi lắc đầu cười, xe chạy ra đường, đứa nào cũng vẫy tay “anh hai ơi, anh hai hởi”. Hôm sau, buổi sáng ra đầu chợ đón xe đò về lại Lái Thiêu, chuyện của cô ta với anh chàng Trọng, hai anh em nói nhau nghe đêm qua rồi, tôi không hỏi thêm gì trước khi xe tới, cười dặn dò mấy câu, ráng học và phụ giúp ba má, vây thôi, em cười hứa chắc.

3.

    Nửa năm em học đệ Nhất, tôi về nhà ăn Tết. Anh em bên nhau, thấy em lo học cho mùa thi, nên không cần hỏi gì, cứ kể chuyện trường, chuyện đời cho vui nhà vui cửa, tôi an tâm, yên lòng và thương Cẫm Giang, em tôi, không biết bao nhiêu mà nói, ba má cũng vậy, xem ra má cưng cô nàng hết sức, nhắc ăn nhắc ngủ mỗi ngày. Vậy đó, cả nhà vui theo ngày tháng đi qua.

   Mùa thu tới, thi xong, chờ kết quả, một ngày em cảm thấy mình mệt mỏi, bần thần, ăn uống qua loa, chóng mặt, dù trong người không nóng, mới đầu ba má nghỉ chắc lo học thi quá nên như vậy, má bắt em nằm nghỉ, chuyện nhà để má lo, ba đưa em mấy thứ thuốc cảm, thuốc nhức đầu hình viên trứng nhện, nhưng không thấy có hiệu quả gì cả.




   Gần tới sáng, má vào phòng, em ngất xỉu hồi nào, bà la hoáng lên, ba chạy xuống nhà bác tư, lấy xe lam chở em xuống bệnh viện quận, bác sĩ làm đủ thứ, thử nghiệm máu, chụp hình quang tuyến, đo tâm biểu đồ, chích thuốc trợ tim, kháng sinh cũng không có kết quả, thay vì chuyển lên tỉnh, ba quyết định mướn xe hơi tư ngay trong ngày đưa em xuống bệnh viện St Paul, theo lời giới thiệu và kết quả kiểm nghiệm, định bệnh của bệnh viện quận. Cẫm Giang nằm đó, nhờ hai bác sĩ mình và sự trợ giúp của một vị bác sĩ người Pháp, hôm sau em tỉnh lại, nói chuyện nhiều, ăn uống được chút đỉnh.

    Được tin, tức tốc tôi bỏ nhiệm sở, mượn xe Honda chạy ngay xuống Sài Gòn. Lên tới phòng em nằm trên lầu, ba má tôi có đó, nhìn tôi lắc đầu, thấy tôi em cười thật tươi một cách bình thường, bình thường như cái cười mà em vẫn có từ ngày còn nhỏ. Tôi ở lại Sài Gòn hai ba hôm, gần như ngày nào cũng trong bệnh viện cả ngày, ba má tôi thì thay phiên nhau, đêm về ngủ ở nhà ông cậu bên Gò Vấp, tuổi già rồi làm sao thức suốt ngày này qua ngày kia nổi.

4.

    Em nằm bệnh viện gần hai tuần, hôm về lại chỗ làm, Cẫm Giang còn cười tươi nhắc nhớ về thăm em, yên lòng, xoa đầu em tôi đi. Buổi chiều, chiều thứ Bảy, ông bác sĩ người Pháp và hai anh bác sĩ người mình, hai người đã ngày đêm lo cho em tôi, mời ba má ra ngoài hành lang, cho biết tin buồn, em đã bị ung thư tủy sống thời kỳ cuối, chắc không còn sống bao lâu nữa, má khóc òa lên “trời ơi, con tôi”, họ bắt tay chào, rồi bỏ đi, ba đứng chết lặng, nhìn vào trong, em tôi nằm ngủ như mơ, bấy giờ ba mới bật khóc nhưng nghẹn không thành tiếng.

    Vậy mà, chưa kịp sáng, chập chửng vào thu, em tôi mất, ra đi một cách thanh thản sau khi cố ngồi lên gượng cười gọi “má ơi ba ơi”, và cũng cùng hôm đó, bảng niêm yết danh sách đậu kỳ thi Tú Tài Hai ở trường Trưng Vương, ai cũng thấy nét mực in rõ chữ “Nguyễn thị Cẫm Giang” ở vần N. Trước đó năm sáu ngày, bà Ba chay trường ở bến tàu Cẫm Giang cũng qua đời.

*

    Sau hôm đám cúng 49 ngày “thất tuần”, buổi sáng, trước khi đón xe đò trở lại Lái Thiêu, trời rựng hồng, nắng cuối thu về khá sớm, hong chút hơi ấm đầu ngày, chơ xã nhóm từ lâu. Đi ra chưa gần tới cổng vào nghĩa địa, tôi bật khóc, như lần đám tang Cẫm Giang tôi đã khóc, từ xa nhìn, ai đó đang ngồi trước mộ em, đầu gục xuống, có mùi nhang thơm thoang thoảng theo chiều gió sớm về ngang, tôi chậm bước tới sau lưng, Trọng ngồi đó, vội vàng đứng dậy gật đầu “anh hai”, nước mắt lưng tròng, đỏ hoe, không kìm lòng được, tôi ôm lấy Trọng, cả hai cùng khóc sụt sùi, dù cho trong hình mộ bia, em tôi đang cười tươi thật tươi, nụ cười mà cả phố chợ, cả trường quận đều thương đều mến, hai anh em ngồi nói với Cẫm Giang nhiều lắm, một lúc lâu vì sợ trễ chuyến xe, để Trọng ở lại, tôi bỏ đi xa rồi, quay lại Trọng vẫn còn ngồi đó.

5.

    Từ đó, từ ngày em mất đi, những tiếng cười vui của nhà tôi đã theo em vào nơi ngàn năm yên nghỉ và tôi cũng không còn tìm đâu được nữa một buổi chiều hè đầu năm đệ Thất. Bây giờ thì ba má, tôi chắc rồi sẽ gặp lại em ở một nơi xa xăm và một ngày nào đó. Em tôi đó, Nguyễn Thị Cẫm Giang.

Thuyên Huy 

Chuyện tưởng tưởng từ tình tiết tới tên người  

   

   

   

 

  

   

   

    

   

   

No comments: