Nguyễn Thị Cẫm Giang
1.
Một chiều đầu hè
năm đệ Thất, ba tôi đi đâu đó về, dắt theo đứa bé gái trạc chừng năm tuổi, má
tôi chưng hửng nhưng nhìn cười, không có gì ngạc nhiên cho lắm, có lẽ bà vui,
chắc là một cái vui bất chợt. Nó biết chào biết dạ thưa, chừng như đã quen rồi
với mấy chuyện này. Từ hôm đó, nhà tôi có thêm người và tôi có đứa em gái, và
cũng từ hôm đó, nhà tôi có thêm tiếng cười. Ba đặt cho em tên “Nguyễn thị Cẫm
Giang”, vì ông xin nó ở Cẫm Giang, rồi dẫn ra trụ sở xã, bên kia đường, nhờ chú
tư Bình, xã trưởng làm cho cái giấy “thế vì khai sanh” với tên mà ba đã đặt, để
có giấy tờ đi học trường xã nay mai.
2.
Trên tỉnh về, thấy
trời còn sớm, mới lưng chừng giữa trưa, ba tôi xuống xe ở Cẫm Giang, sẳn tiện
đường, ghé nhà anh chị năm Thiết, hỏi chuyện thu hoạch vườn dừa bên Bến Cầu của
nhà mà ông giao khoán cho vợ chồng anh ta lo từ bao nhiêu năm qua mùa này, ghe
cộ, chi phí đủ thiếu ra sao. Nhà anh năm Thiết, nằm dọc theo bờ sông, cách cái
quán cơm trên dốc, ngó xuống ngay bến tàu đò, chị năm dẫn thằng con lớn đi đâu
đó trên chợ chưa về, hỏi qua hỏi lại, chợt anh năm nhắc chuyện muốn kiếm một đứa
con về nuôi cho vui nhà vui cửa, hỏi ông có còn ý định đó không, ba cười vẫn
còn.
Anh năm đưa ba tôi
đi qua cái nhà mái tôn nhỏ, cách nhà anh ba bốn căn, chị năm vừa về tới cũng
nhanh chân chạy qua theo. Tới ngạch cửa, có tiếng đọc kinh trong nhà, chị năm
nhanh miệng gọi trước, ba và anh năm đứng sau chờ. Không lâu, một bà bác khá
già, chậm yếu, mặt phúc hậu bước ra, bà cười gật đầu chào, có đứa bé gái đi
theo sau lưng, chị năm quay qua, không biết nói nho nhỏ gì đó với bà, bà mĩm cười
gật gù xem ra có gì vui trên mặt, che chút lằn nhăn, làm quen ba, một người
khách lạ. Cũng đã quá trưa, chuyến tàu đò về lại Bến Cầu đi từ lâu, bến vắng
khách, cái quán cơm cũng vắng người, chờ chuyến tàu qua sáng mai, nước con sông
Vàm, sóng gập ghềnh đưa từng mảng lục bình đi xuôi, về ngược, nắng vẫn nắng, rớt
từng mảnh, lấp lánh màu ửng hồng của trời mùa hạ.
*
Bà bác già, bà con
hàng xóm ở đây ai cũng biết, người ta quen gọi bà là bà Ba chay trường và bà tu
tại gia, hiền từ, nhân đức, giúp người không nề hà, thằng con trai anh năm thường
chạy qua chơi với đám bạn cùng trang lứa trước nhà, khi nắng chiều bên kia sông
buông xuống, lúc đó bà thường ra ngồi trên cái ghế cây trước ngạch cửa, nhìn cười,
dặn hết đứa này tới đứa kia,”coi chừng té, coi chừng té”. Chị năm chắc
cũng thường qua lại nên tự động đứng dậy, lấy ấm trà nóng trong cái bình bằng vỏ
dừa khô, nấp đậy cũng của trái dừa đó, đem tới, rót ra cái tách sành, thay bà,
bà cầm lấy mời ba tôi và anh năm ngồi ở đầu bên này bộ ván gõ, đứa bé gái nấn
níu, bẻn lẻn, bên bà ngồi đầu đằng kia, bà gọi tên nó là bé, vậy thôi, chị năm
chào ba tôi rồi về bên nhà, ba tôi nóng lòng nghe chuyện, cầm tách trà trên tay
mà chưa uống, chờ.
*
Đầu năm ngoái, phía
bên Long Chữ, Long Giang, mấy chỗ sát biên giới Miên bị cuồng phong bão dữ dội
từ hướng Miên kéo về, thổi ngang, đất trời tối đen, mưa trút như thác đổ, lụt lủ
dâng cao hơn nóc nhà, kèm theo gió hú rùng rợn suốt hai ba ngày, nhà cửa, gió
thổi tróc nóc, cây cối bật gốc, trôi lềnh bềnh khắp chỗ, người ta réo, người ta
kêu, hớt hơ hớt hãi, chèo ghe, chèo xuồng kiếm nhau, mạnh ai nấy lo thân, không
đủ sức chịu đựng trước những trận mưa cuồng sóng lũ có một không hai đó.
Nước rút, giông gió
dịu đi, trời bắt đầu sáng, nhà cửa không còn gì, mái tranh, mái tôn, cửa cây cửa
lá dồn lại từng đống chỗ này chỗ kia. Có người chết chưa tìm thấy xác, bà Ba chỉ
con bé, dân làng cứu được nó nằm co ro trên mảng lực bình dày đặc, lớn hơn cái
nhà, nằm lắc lư dính vào bờ tường rào trụ sở ấp, người quen biết nó là con gái
của hai vợ chồng anh hai Tằn, chuyên làm ruộng mướn, ở căn nhà tranh nhỏ cuối
triền dốc ấp, không xa cái truông nứa, và không may đã chết, dân trong ấp đem
xác vợ chồng về chôn ở nghĩa địa làng cùng với một số người chết khác. Chú trưởng
ấp đem nó tới gởi cho gia đình ông bác giữ đình Long Chữ tạm trông nom rồi tính
sau.
Bà Ba đi Bến Cầu sau
đó vài hôm, rồi qua Long Chữ, nhờ người bà con giúp trả tiền công cho mấy người
gặt đám ruộng năm rồi, người bà con đó là ông bác vai anh, lo trông nom trong
ngoài cái đình. Ở lại đó, hôm sau bà rời Long Chữ, xuống tàu đò Bến Cầu về lại
Cẫm Giang với con bé gái, mặt mài dễ thương và bộ quần áo cũ rộng thùng thình.
*
Cẫm Giang, em tôi đẹp
lắm, hai má lúm đồng tiền, miệng cười rạng rỡ, bà con quen ở phố chợ, ai cũng
trầm trồ “con nhỏ đẹp quá chừng”, Cẫm Giang gặp ai cũng chào cũng dạ,
sáng theo má tôi ra chợ thì ôi thôi, bạn hàng, bất kể chị cô thiếm bác, đều phải
chận lại nựng một cái mới được, nó cười luôn miệng đáp lễ, Cẫm Giang dễ dạy, và
sáng dạ, ba tôi dạy đánh vần, tập viết chữ, cái nào nó cũng thuộc nhanh làm giỏi.
Cẫm Giang dễ hòa đồng với đám con nít nhà trong chợ dù mới về không bao lâu,
chiều nào tan trường về ngang nhà, tụi nó cũng xúm xa xúm xích ngoài cổng, ơi ới
Giang hởi Giang ơi. Em tôi mới chừng đó tuổi đầu, mà thấy má giặt đồ, nấu cơm,
phơi củi thì khỏi nói, cứ quấn quít theo hỏi “má cho con làm má cho con làm”.
Suốt hè năm đó, bây
giờ là “anh hai”, tôi thường dắt em đi theo, chỉ em chỗ này chỗ nọ, dường
như chỗ nào có tôi thì có em. Mỗi tối ngồi học bài, em cũng ngồi kế bên, nhìn
sách nhìn vở, hỏi cái nọ cái kia, mấy lúc đó, như ba, tôi dạy em chữ này chữ
kia cho vui. Có Cẫm Giang, không chỉ ba má tôi vui hơn trước nhiều, vắng nó một
chút là “Cẫm Giang ơi con đâu rồi”, mà tôi cũng vậy. Ba tôi thì mỗi
tháng, tới ngày lảnh lương dưới văn phòng hảng về thế nào em tôi cũng có, áo mới
hay món này món nọ như tôi đã có từ ngày còn nhỏ, mỗi lẩn có đồ chơi hay bánh kẹo
gì, nó cũng gặn hỏi “của anh hai đâu của anh hai đâu”, ba má tôi xoa đầu
“anh hai lớn rồi, mai mốt ba cho anh hai cái khác”, nó nủng nịu, nắm tay
tôi cười khoái chí.
*
Tựu trường năm sau,
tôi lên đệ Lục, em vào lớp năm trường xã, vì ở nhà đã dạy, biết đọc biết viết,
nên chưa mấy ngày thì cô Hiền cũng như bác hiệu trưởng, đều biết ba má tôi, gặp
ba cho biết cho em nhảy lên lới tư, Cẫm Giang siêng học, chăm chỉ, biết nghe lời
thầy cô nên, gặp ba má tôi ai nấy đều khen hết. Bạn bè trong lớp, trong trường,
nhứt là đám con nhà giàu phố bên kia chợ đều khoái chơi với em, cứ tìm em “đánh
đôi đánh đọ”, bày đủ thứ trò chơi con gái ở mấy sạp bán hàng, khi chợ chiều
không nhóm cho tới góc sân trường.
Buổi sáng, khi tôi
đi ra bến xe lam đi học sớm, lúc nào cũng đi theo ra tới cổng nhà, cái cổng cây
so le cao chừng hơn đầu gối người lớn một chút, nhìn theo, chiều nào tan trường
về cũng kêu ba dẫn ra bến xe đón “anh hai” cho được, tung tăng cười toe
cười toét nắm tay tôi về nhà. Lên lớp ba, Cẫm Giang đã biết phụ má nhúm lửa bếp
than, biết vo gạo cho má nấu cơm, biết phụ má đem quần áo giặt ra phơi ngoài
sân sau, biết dọn chén dọn đủa, làm cái nào cũng đàng hoàng, ngăn nắp.
Tết nào ba má tôi
cũng dắt Cẫm Giang đi Cẫm Giang, tôi ít khi đi theo, thăm bà Ba và vợ chồng anh năm Thiết, biếu bà
Ba chút quà trà bánh cùng ít tiền lì xì, chúc bà vui khỏe, gặp lại em, ba Ba
tròn mắt, ôm nó hun đầu hun trán không biết bao nhiêu lần, em cũng rờ chân rờ
tay bà “bà khỏe hông hả bà, bà ngủ môt mình buồn hông…”, nghe em hỏi mà
bồi hồi xúc động, bà muốn rơi nước mắt, anh chị năm cứ ôm nó mà trầm trồ, con đẹp
quá vậy, ba má tôi cười mà sung sướng trong lòng. Ở chơi tới hơn quá trưa, bà
Ba chậm chậm theo ra đường tiễn, không quên ôm hôn Cẫm Giang mấy lần, mới để
cho nó lên xe.
*
Rồi hết năm này tới
năm kia, năm nào Cẫm Giang cũng lảnh phần thưởng hạng Nhứt trong trường. Cuối
năm lớp Nhất em đậu vào đệ Thất trường quận cùng với hai ba đứa khác cùng lớp nhưng
họ lại lên trường tỉnh, tôi xuống Sài Gòn vào năm đầu Đại học. Chưa có thứ Bảy
chủ Nhật nào mà tôi ở Sài Gòn, có anh có em, chuyện này chuyện nọ, vậy đó như
thói quen, chuyến xe đò sớm đầu ngày về tới nhà, xe chưa ngừng đã thấy Cẫm
Giang bên đường lộ chờ. Ba má tôi thương em lắm, có khi thương còn hơn tôi nữa,
tôi cũng thương em không khác gì ổng bả.
3.
Tôi ra trường, lên Lái
Thiêu làm cũng hơn một năm, Cẫm Giang lên đệ Nhị rồi đậu Tú Tài Một hạng cao, cả
trường quận đều biết, người phố chợ đồn lan ra, tiệm quán, cha mẹ học trò, nhất
là cha mẹ đám học lớp đệ Nhị đệ Nhất. Đoán chừng cũng đúng, làm việc ngồi ở văn
phòng, hôm nào cũng vậy nhớ ngày em thi, tôi đứng ngồi không yên, tôi nghỉ phép
vài ngày, nhờ một anh nhân viên đưa từ Lái Thiêu về Sài Gòn, bằng xe Honda, không
quên mang theo cái đồng hồ Seiko con gái dây bạc đã mua từ trước đó, dành quà
cho em khi có dịp, đón xe về kịp buổi trưa, ngay hôm ở nhà làm bữa ăn, không
dám gọi là bữa tiệc vì dân nhà quê mà tiệc với tùng cái gì trừ nhà ai đó có đám
cưới đám hỏi. Nhà có thêm mấy cô, mấy cậu chung lớp từ dưới quận lên chung vui,
bữa ăn không có gì, gỏi cuốn, cà ri gà, canh chua cá lóc, đám bạn giờ biết tôi,
nên cũng tự nhiên, vui cười “anh hai anh hai”.
Để ý một chút, có một
cậu, khá đẹp trai, cười nhiều nói ít, tên Trọng, hỏi ra biết nhà Trọng, có tiệm
bán tạp hóa đầu ngã ba xuống chợ quận, là con một, học giỏi nhất trong lớp, xem
ra được cô em tôi lăng xăng lo cho hơn mấy người khác, thỉnh thoảng Trọng lén
nhìn tôi ra chiều e ngại, nhìn sơ qua, ngay cả ba má tôi cũng như tôi đều biết
trong bụng là, chắc hai đứa này có gì đây, mà nếu có thì cũng mừng.
Bữa ăn xong, trời
cũng còn sớm, mới lưng lửng trưa, nắng hè vẫn là nắng của trời giữa Hạ, rưng
rung đổ một trời hồng. Rồi cũng chia tay, tôi theo đưa bọn họ ra đón xe lam
chuyến chiều của bác tư cuối phố chợ ra về, bác tư nổ máy xe chờ, thấy đám nhỏ
bịn rịn không chịu lên cho trọn, nhìn tôi lắc đầu cười, xe chạy ra đường, đứa
nào cũng vẫy tay “anh hai ơi, anh hai hởi”. Hôm sau, buổi sáng ra đầu chợ
đón xe đò về lại Lái Thiêu, chuyện của cô ta với anh chàng Trọng, hai anh em
nói nhau nghe đêm qua rồi, tôi không hỏi thêm gì trước khi xe tới, cười dặn dò
mấy câu, ráng học và phụ giúp ba má, vây thôi, em cười hứa chắc.
3.
Nửa năm em học đệ
Nhất, tôi về nhà ăn Tết. Anh em bên nhau, thấy em lo học cho mùa thi, nên không
cần hỏi gì, cứ kể chuyện trường, chuyện đời cho vui nhà vui cửa, tôi an tâm,
yên lòng và thương Cẫm Giang, em tôi, không biết bao nhiêu mà nói, ba má cũng vậy,
xem ra má cưng cô nàng hết sức, nhắc ăn nhắc ngủ mỗi ngày. Vậy đó, cả nhà vui
theo ngày tháng đi qua.
Mùa thu tới, thi
xong, chờ kết quả, một ngày em cảm thấy mình mệt mỏi, bần thần, ăn uống qua
loa, chóng mặt, dù trong người không nóng, mới đầu ba má nghỉ chắc lo học thi
quá nên như vậy, má bắt em nằm nghỉ, chuyện nhà để má lo, ba đưa em mấy thứ thuốc
cảm, thuốc nhức đầu hình viên trứng nhện, nhưng không thấy có hiệu quả gì cả.
Gần tới sáng, má vào
phòng, em ngất xỉu hồi nào, bà la hoáng lên, ba chạy xuống nhà bác tư, lấy xe
lam chở em xuống bệnh viện quận, bác sĩ làm đủ thứ, thử nghiệm máu, chụp hình
quang tuyến, đo tâm biểu đồ, chích thuốc trợ tim, kháng sinh cũng không có kết
quả, thay vì chuyển lên tỉnh, ba quyết định mướn xe hơi tư ngay trong ngày đưa
em xuống bệnh viện St Paul, theo lời giới thiệu và kết quả kiểm nghiệm, định bệnh
của bệnh viện quận. Cẫm Giang nằm đó, nhờ hai bác sĩ mình và sự trợ giúp của một
vị bác sĩ người Pháp, hôm sau em tỉnh lại, nói chuyện nhiều, ăn uống được chút
đỉnh.
Được tin, tức tốc tôi
bỏ nhiệm sở, mượn xe Honda chạy ngay xuống Sài Gòn. Lên tới phòng em nằm trên lầu,
ba má tôi có đó, nhìn tôi lắc đầu, thấy tôi em cười thật tươi một cách bình thường,
bình thường như cái cười mà em vẫn có từ ngày còn nhỏ. Tôi ở lại Sài Gòn hai ba
hôm, gần như ngày nào cũng trong bệnh viện cả ngày, ba má tôi thì thay phiên
nhau, đêm về ngủ ở nhà ông cậu bên Gò Vấp, tuổi già rồi làm sao thức suốt ngày
này qua ngày kia nổi.
4.
Em nằm bệnh viện gần
hai tuần, hôm về lại chỗ làm, Cẫm Giang còn cười tươi nhắc nhớ về thăm em, yên
lòng, xoa đầu em tôi đi. Buổi chiều, chiều thứ Bảy, ông bác sĩ người Pháp và
hai anh bác sĩ người mình, hai người đã ngày đêm lo cho em tôi, mời ba má ra
ngoài hành lang, cho biết tin buồn, em đã bị ung thư tủy sống thời kỳ cuối, chắc
không còn sống bao lâu nữa, má khóc òa lên “trời ơi, con tôi”, họ bắt
tay chào, rồi bỏ đi, ba đứng chết lặng, nhìn vào trong, em tôi nằm ngủ như mơ,
bấy giờ ba mới bật khóc nhưng nghẹn không thành tiếng.
Vậy mà, chưa kịp
sáng, chập chửng vào thu, em tôi mất, ra đi một cách thanh thản sau khi cố ngồi
lên gượng cười gọi “má ơi ba ơi”, và cũng cùng hôm đó, bảng niêm yết danh
sách đậu kỳ thi Tú Tài Hai ở trường Trưng Vương, ai cũng thấy nét mực in rõ chữ
“Nguyễn thị Cẫm Giang” ở vần N. Trước đó năm sáu ngày, bà Ba chay trường
ở bến tàu Cẫm Giang cũng qua đời.
*
Sau hôm đám cúng 49
ngày “thất tuần”, buổi sáng, trước khi đón xe đò trở lại Lái Thiêu, trời
rựng hồng, nắng cuối thu về khá sớm, hong chút hơi ấm đầu ngày, chơ xã nhóm từ
lâu. Đi ra chưa gần tới cổng vào nghĩa địa, tôi bật khóc, như lần đám tang Cẫm
Giang tôi đã khóc, từ xa nhìn, ai đó đang ngồi trước mộ em, đầu gục xuống, có
mùi nhang thơm thoang thoảng theo chiều gió sớm về ngang, tôi chậm bước tới sau
lưng, Trọng ngồi đó, vội vàng đứng dậy gật đầu “anh hai”, nước mắt lưng
tròng, đỏ hoe, không kìm lòng được, tôi ôm lấy Trọng, cả hai cùng khóc sụt sùi,
dù cho trong hình mộ bia, em tôi đang cười tươi thật tươi, nụ cười mà cả phố chợ,
cả trường quận đều thương đều mến, hai anh em ngồi nói với Cẫm Giang nhiều lắm,
một lúc lâu vì sợ trễ chuyến xe, để Trọng ở lại, tôi bỏ đi xa rồi, quay lại Trọng
vẫn còn ngồi đó.
5.
Từ đó, từ ngày em mất
đi, những tiếng cười vui của nhà tôi đã theo em vào nơi ngàn năm yên nghỉ và
tôi cũng không còn tìm đâu được nữa một buổi chiều hè đầu năm đệ Thất. Bây giờ
thì ba má, tôi chắc rồi sẽ gặp lại em ở một nơi xa xăm và một ngày nào đó. Em
tôi đó, Nguyễn Thị Cẫm Giang.
Thuyên Huy
Chuyện tưởng tưởng từ tình tiết tới tên người

No comments:
Post a Comment