Monday, December 8, 2014

Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi - Yên Hà


Tôi Yêu Tiếng Nước tôi

 Đọc xong cái này muốn điên luôn các bạn ơi! Nói tiếng ngoại ngữ coi bộ còn dễ hiểu hơn. Đọc rối đọc lại vẫn ú ớ.

   

 

     Đồng-hồ không người lái có cửa sổ của tôi chỉ ba giờ rưỡi chiều.Trong máy bay, ngồi nhìn ra cửa sổ bên ngoài, tôi lặng nhìn đất nước thân yêu, và tôi chợt thở dài. Thấy vậy, người hành-khách ngồi bên cạnh quay sang hỏi:- Trông anh có vẻ căng lắm? Ngồi trong nội-thất chiếc phi-cơ mà trông ông hình như bức-xúc làm sao?- Vâng thưa ông, tôi về Việt-Nam lần này là lần thứ nhất, sau bốn mươi năm xa nhà nên có phần hồi-hộp, tôi đáp.- À, ra thế, tâm-trạng ông hiển-thị trên nét mặt rõ lắm. Ông rời xứ lâu như vậy, tôi đoán lúc trước ông phải là du-sinh đi chuyên tu ở đâu đó; người Việt mình vốn trọng-thị vấn đề học-vị lắm mà.- Vâng, ông đoán không sai, lúc trước, tôi có được đi du-học bên Pháp, nhưng thú thật với ông, riêng tôi không coi-trọng bằng cấp cho lắm, nhất là thời-buổi này-tôi nói tiếp.- Tôi thống nhất ông, chủ-yếu là phải biết triển-khai tính năng-nổ, rồi tranh-thủ vào đó, khẳng định tài-nghệ mình thì mới thành công một cách tiên-tiến được.- Ông muốn nói là ông đồng ý với tôi, điều quan trọng là mình phải khai-triển tính siêng năng tháo vát, cố gắng sao cho tài-nghệ mình được công nhận để có thể thành công mỹ-mãn? tôi hỏi lại cho chắc.- Đúng vậy. À này, ông cũng nên cập-nhật lại ngôn-ngữ văn-hoá hiện-đại của mình đi thì hơn. Chúc ông thư-giãn và đi tham-quan tốt những cảnh-quan nước nhà.- Cám ơn ông.

    Một lúc sau, gần đến cửa khẩu Tân Sơn Nhất, người lái cho biết Trung tâm quản lý đường bay đã cho phép phi-cơ đáp xuống đường băng. Chúng tôi đã đến Sài-Gòn. Vào đến trạm kiểm tra, người cán-bộ hỏi tôi:- Hộ-chiếu đâu?- Dạ thưa, hộ-chiếu là gì ạ? tôi ngớ ngẩn hỏi lại.- Giấy tờ du-lịch do cơ-quan chủ quản cấp chứ là gì nữa? Xin ông nghiêm-túc một chút - người cán-bộ sẵng giọng.Tôi chìa sổ thông-hành ra.- Ông sống bên Mỹ à? Bang nào? người cán-bộ hỏi tiếp.- Dạ thưa, tiểu bang New Jersey.- Đem vào bao nhiêu kiều-hối?- Dạ thưa, kiều-hối là gì ạ? tội lại ú ớ.- Ông không biết từ này à? Ông đừng có linh tinh nữa, khẩn trương lên đi, người cán-bộ bắt đầu sốt ruột. Hoảng quá, chắc ông ta nói tôi vớ-vẩn và dục tôi phải nhanh lên. Nghĩ đến chữ "hối-xuất", tôi đoán mò.- Dạ, ngoại-tệ tôi có 1000 mỹ-kim.- Thôi được rồi, ông đi đi. Có vấn nạn gì thì cứ đến Phòng công-tác người nước ngoài mà hỏi.- Cám ơn Ngài.


     Lấy hành-lý xong, qua trạm hải-quan, không có gì để khai quan-thuế, tôi bước ra ngoài. Tôi thở phào, nhẹ nhõm. Mới đến có vài giờ mà đã ấn-tượng như vậy. Dáo dác nhìn quanh, tôi vẫy một cái tắc-xi để về khách sạn.Thấy cái mặt "nai vàng ngơ ngác" của tôi, bác tài-xế chào hỏi:- Hoan nghênh ông, chắc ông là Việt-Kiều về thăm nhà? Lần này về, ông có dự-kiến làm gì không, em chỉ giúp cho? - Ờ, xem nào, ăn ngon thì ông đề-nghị đi đâu?- Muốn ăn ngon thì em xin đề-xuất nhà hàng này, em đảm-bảo chất-lượng, thực đơn cao-cấp, giá rẻ, ông có thể ăn uống vô-tư, chứ đừng có mà đi tìm những nơi hoành-tráng khác, có khả năng đắt khủng lắm, bình quân 100 Đô-La một người đó, nhất là nếu ông là người nước ngoài.- Ui chao, có thể trung bình 100 Đô? Quả nhiên đắt khủng khiếp thật.- Nhưng ngược lại, ông vào mấy tiệm chui thì cũng có khả-năng bị chũm lắm đấy.Đúng rồi, những nơi lén lút, không ai kiểm-soát, bị gạt là cái chắc.- Thi thoảng, ông có muốn đi tươi mát để hộ lý cho khoẻ không? bác tài hỏi tới.- Tươi mát? Hộ lý? ông muốn nói gì? Tôi hỏi lại- Thì chuyện quan-hệ đàn ông - đàn bà đó mà? Về Việt-Nam, ai mà không biết cái đó? bác tài cười mỉm chi.- Thôi, cám ơn ông, chắc không cần đâu. À về đến khách sạn tôi có xa không? tôi ngượng-nghịu đánh trống lảng.- Từ đây vào thành phố không có đường cao tốc, nhưng đi giờ này không sợ ùn-tắc đâu, nếu không gặptai tệ nạn trong một sự cốgiao-thông gì, sẽ nhanh lắm.- Không có xa-lộ, nhưng giờ này, nếu không gặp tại nạn xe cộ hay cản trở lưu-thông gì thì chả sợ kẹt đường, sẽ nhanh thôi. Tôi lẩm bẩm trong đầu như để học khoá cấp-tốc tiếng Việt mới.Bác tài-xế nói xong, phóng vun vút và chẳng bao lâu tôi về đến khách sạn. Đăng ký xong, tôi lên phòng nằm xem chiếu bóng hộp chỉ được năm phút là lăn quay ra ngủ một mạch đến sáng.Mấy hôm sau, một người bạn sinh-sống tại đây liên-hệ với tôi và đề-nghị:- Tụi tao có quy-hoạch một buổi tiểu-trà để chiêu-đãi mày thứ bẩy này nhé.- Cám ơn tụi mày đã định làm một buổi tiệc nhỏ để thết-đãi tao. Về đây chơi, có thổ-công như tụi mày thì nhất rồi. Tối hôm đó, tôi đến nơi hẹn. Nhà hàng này cũng nhỏ, nhưng rất sạch-sẽ, tươm-tất, có cả một ban nhạc sống nữa. Không biết mấy thằng bạn quỷ có mưu mô gì nhưng chúng đã bố-trí một cuộc gặp, cho tôi ngồi cạnh M., một cô gái xinh trẻ, rồi lấy máy ảnh kỹ-thuật số ra chụp tôi với em.

     Nói chuyện, ăn uống một lúc, tôi làm ly cà-phê cái nồi ngồi trên cái cốc, còn đang miên man suy-nghĩ thì M. lay tôi, gọi:- Anh ơi (cô ấy chỉ bằng tuổi con tôi mà dám gọi tôi bằng "anh"), anh đang tư duy gì vậy? Bên kia, mấy người nghệ-nhân đang chơi nhạc kìa, mình ra hát đôi đi, hay là anh thích múa đôi?Mấy thằng bạn cũng đốc vào nên tôi cũng đành ra sàn nhẩy với M.- Anh ơi, bên Mỹ, anh làm nghề gì, thu-nhập tầm được bao nhiêu? M. bắt đầu hỏi chuyện.Trời ơi, tiền lương tôi khoảng bao nhiêu, cô ấy hỏi làm gì? Tôi trả-lời qua loa cho xong, nhưng M. tiến-công tiếp:- Anh ơi, em phát-hiện là em cảm thấy rất hứng-thú với anh. Anh là đối-tượng của em rồi, em hồ-hởi quá. Hay là anh quản-lý đời em đi anh?- Tôi quản-lý đời cô hay cô quản-lý đời tôi đây? Nhưng thí-dụ như tôi chịu thì mình như thế nào? Tôi hỏi đùa.- Trước hết, mình phải tuyên-bố.- Tuyên bố gì?- Tuyền bố là lễ hứa-hôn đó anh. Sau đó, anh mua cho em một căn hộ; và lần hồi, mình sẽ đả-thông nhau, rồi mình sẽ...- Trời ơi, tôi làm gì có tiền mua nhà cho cô? - Em nghe nói bên Mỹ, ai cũng sở-hữu một căn hộ mà, anh bán nó đi rồi sang đây mua hộ cho em. Sang bên này, anh bảo-quản tốt cho em, em sẽủng-hộ anh triệt để. Anh xử-lý cho em đi, nhe?(Quan-hệ, ủng-hộ kiểu này thì hệ-quả chắc phải bị cao huyết áp, tai-biến mạch máu não sớm !!!)Cứ thế cô tích-cực tiến-công tôi hầu gia tăng sức ép đến mức tầm cỡ:- Anh ơi, anh đừng có chảnh với em mà, em giản đơn lắm.Chảnh? Lần đầu tiên trong đời, tôi nghe chữ này, hỏi ra, mới biết là "làm bộ", "làm eo".Cuối cùng, M. đột-xuất ra chiêu độc:- Anh ơi,bú mồm em đi.Xốc quá, choáng quá, tôi bất-tỉnh tại chỗ.


Vài hôm sau, tôi muốn ra Huế chơi. Hỏi dưới văn-phòng khách-sạn xem trạm xe-lửa ở đâu, người
tiếp-viên cho tôi biết:- Cục đường sắt gần đây thôi. Ông đi bộ cho mát, hôm nay đài thuỷ-văn cho biết trời đẹp lắm.Ngoài nhà ga, tôi mua một vé đi Huế.- Một vé tầu-lửa đi Huế? Ghế mềm hay ghế cứng?- Cứng thì bao nhiêu? Mềm bao nhiêu? tôi hỏi lại.Rốt cuộc, giá không xê-xích bao nhiêu nên tôi mua ghế mềm, ngồi cho sướng ... bàn toạ.Đến nơi, tôi đi thăm vài danh lam, thắng cảnh xong, ngồi nghỉ chân một lúc rồi tôi phải hỏi một ông khách qua đường.- Xin lỗi ông, tôi đang đau bụng quá, gần đây có chỗ nào cho tôi đi không ạ?Ông khách chỉ sang bên nọ và trả-lời:- Cuối đường có cáinhà ỉa kia, ông lại đó đi. Nhưng còn tuỳ ông đi nặng hay đi nhẹ nữa, vì đi nặng thì dịch-vụ đắt tiền hơn.- Trời!!! .........

    Đến đây, tôi chợt thức tỉnh. Hoá ra chỉ là một giấc mơ, nhưng sao hãi-hùng quá. Lâu lắm rồi, tôi không được về thăm nhà, bây giờ có về, không lẽ tôi phải có thông-dịch viên đi theo sao?Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời... Tiếng nước tôi, tiếng nói đồng-bào tôi mà sao nghe lạ tai quá? Bây giờ, khi xem phim với phụ-đề tiếng Việt, tôi lại còn khó hiểu hơn là không có phụ-đề nữa; đọc những bài thâu lượm trên Internet thì nhiều khi cứ phải đoán mò, và khó chịu làm sao khi đọc chữ "Y" cứ bị thay thế bằng "I". Nhưng điều tôi không thể hiểu nổi là tại sao có những tờ báo Việt-Nam bên Mỹ này cũng hùa theo cái "phong-trào" ấy, như để "khoe" là mình "văn minh hiện đại" (?) Vẫn biết sinh-ngữ nào chả biến-đổi cho thích-hợp với thời-đại nhưng sao thay đổi "khủng" quá? Không biết cụ Nguyễn Du hay cụ Trần Trọng Kim, nếu còn sống sẽ nghĩ gì về tiếng Việt mới này? Hay có lẽ chúng tôi quá "cổ hủ"?

    Dầu sao đi nữa, chúng tôi sẽ không cầm bút để viết lịch-sử Việt-Nam nên chúng tôi chắc chắn là sai lầm. Nhưng thôi, đất nước tôi không còn là đất nước tôi, tôi cũng không còn thẩm-quyền gì để phê-bình, tôi chỉ có quyền buồn (ít ra, cái tự-do này, không có chính-quyền nào có thể cấm-đoán được).

    Tôi buồn, nhưng thôi, như đã chia-xẻ trong bài "Thế-hệ bánh mì kẹp", chỉ vài mươi năm nữa, vấn-đề này sẽ không còn là vấn-đề nữa, một khi chúng tôi sẽ lũ-lượt rủ nhau đi hết. Lúc đó, chúng tôi sẽ lại được nói lại "tiếng Việt cũ" với bố mẹ, ông bà chúng tôi. Ôi, tiếng nước tôi.

 
Yên Hà

 (304Đen – Lượm lặt trên trang mạng)

Từ Ngày Bác Vô Đây - 304Đen




Từ Ngày Bác Vô Đây

Bài thơ đầy nước mắt của một cô gái đang sống dật dờ tại thành phố Cần Thơ



 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lúc mà các bác chưa có vô đây
Cháu chưa có mặt trên đất nước này
Má cháu còn đi đến trường mỗi sáng
Đúng tuổi trăng tròn, đôi má hây hây.

Kể từ sau ngày các bác vô đây
Ông Ngoại bỗng nhiên bị bắt, tù đày
Bà Ngoại nhớ chồng rưng rưng mỗi tối
Má cháu ưu sầu đánh mất thơ ngây.

Hai năm sau ngày các bác vô đây
Một sáng mùa Đông sương trắng giăng đầy
Các bác đến nhà, lưng đeo súng đạn
Bắt Má đi làm thủy lợi miền Tây.

Một tháng đi làm thủy lợi miền Tây
Má về ốm o, thân xác hao gầy
Má ôm Ngoại khóc, thì thầm kể lể:
Cán bộ hiếp con, có lúc cả bầy!

Rồi cháu ra đời không Ba, có Má
Ngoại vừa nằm xuống nên Má trắng tay
Bán buôn tảo tần Má nuôi cháu lớn
Dù không biết rằng Ba cháu là ai!

Mười tám năm sau ngày bác vô đây
Tài sản, cửa nhà không cánh mà bay
Má cháu qua đời sau cơn bạo bệnh
Còn gì bán nữa? – Ngoài thân cháu đây?

Gần hai mươi năm sau ngày bác vô
Cháu mười sáu tuổi thân xác héo khô
Vậy mà phải bán, lấy tiền mua gạo
Tính ra sáng chiều – chỉ khoảng một tô!
(304Đen - Lượm lặt trang mạng – Không có tên tác giả)


 

Miến Điện: Dịch Ma Túy - Thuyên Huy



MIẾN ĐIỆN: DỊCH MA TÚY TRÊN BẾN SÔNG IRRAWADDY

    
   Mới thoạt nhìn, cái thị trấn ven sông Irrawaddy xem ra yên bình, xanh tươi và thịnh vượng. Nơi đây là chỗ dân làng tập trung buôn bán đá quý, cẩm thạch lấy được từ những mõ đá trên đồi cao của vùng đất phía bắc lãnh địa Kachin. Nhưng đối với những người đứng đầu các nhóm dân sống tại đây thì, hút tận trong rừng hoang sâu thẳm là nơi nghiện ngập ma túy đáng sợ trên đất Miến.

Ngay cả trong sân trường đại học do nhóm Kachin lập nên, trường Myitkyina, kim chích dùng rồi, còn vết máu ngập tràn trên các thùng rác bằng thiếc, có in hàng chữ dặn người chích ma túy xong, nên bỏ vào đúng nơi quy định để tránh sự lan truyền bệnh HIV. Nhiều kim chích quăng bừa bải trên các khe đá dọc theo bờ con sông Irrawaddy, gần bến tàu đò, nơi người ta lên xuống xăng nhớt, rau cải và rãi rác đôi ba người khách du lịch ngoại quốc xuôi ngược trên dòng. Người sống ở đây cho biết, một cách ước tính là con số thanh thiếu niên ghiền ma túy trong vùng này nhiều vô số kể. Theo lời một mục sư Tin Lành, người đứng đầu nhóm nhà thờ Kachin Baptist Convention, nhóm nhà thờ lớn nhất trong vùng lảnh thổ Kachin, gần như gia đình nào cũng có người dùng, có lẻ từ 65% đến 70%.

Kachin là một nhóm sắc tộc thiểu số, phần lớn theo đạo Tin Lành ở Miến Điện nơi đa số người dân theo đạo Phật. Gần nửa thế kỷ qua, vùng Kachin là vùng đánh nhau giữa quân chánh quyền Miến Điện và quân võ trang có tên Quân Đội Kachin Độc Lập. Một vài người đứng đầu ở đây không ngần ngại cho là, con số người chết vì dùng ma túy nhiều hơn con số chết vì chiến tranh. Đã có khoảng hơn 100 ngàn dân phải chạy bỏ cửa nhà trong ba năm qua vì chiến trận. Người chỉ huy trưởng lực lượng chống ma túy ở Myitkyina bác bỏ điều này khi nói rằng, hình ảnh việc ống kim chích bỏ đầy trên đường phố ở đây không tệ như họ nói. Vấn nạn ma túy không phải chỉ có riêng ở vùng Kachin mà còn ở cả đất nước Miến Điện nữa. Ông này thêm, trước đây những cố gắng giảm thiểu nạn dùng ma túy của chánh quyền Miến xem ra đã thành công nhưng bản báo cáo hàng năm của LHQ gần đây cho thấy có kết quả ngược lại
    Bản báo cáo của LHQ cho biết, số lượng cây thuốc phiện sản xuất tại Miến Điện đã tăng gấp đôi giữa năm 2006 và 2013 trong khi bạch phiến thì nhảy vọt từ 26% trong năm 2012 và năm 2013. Miến Điện được xếp hạng là quốc gia sản xuất thuốc phiện lớn nhất trên thế giới sau A Phú Hản. Tại thị trấn Myitkyina, những người có trách nhiệm cai quản trong vùng đã tìm đủ mọi cách để ngăn chận tệ nạn dùng xài ma túy. Họ đã kêu gọi người dân tình nguyện đi thu nhặt, lượm lặt các kim chích vứt bỏ trên đường phố trong khi người của nhà thờ tổ chức các cuộc lụt xét tìm bắt những người đầu nậu buôn bán ma túy, cho dân làng xem các hình ảnh và băng hình của ma túy mà họ lấy được, trước khi đem thiêu hủy.
Trong một đoạn phim ngắn khác được phổ biến bởi nhóm Ram Hkye (có nghĩa là Cứu Người Trẻ tuổi), một người mục sư đội nón an toàn đứng rao giảng bằng cái loa gắn pin cho khoảng mười mấy thanh niên, ngồi trên lề con đường bụi bậm với ống chích trên tay. Người mục sư, được sự phụ trợ bởi một người khác đánh đàn ghi ta, phân phát các tập sách nhỏ về tôn giáo cho đám người nghiện ma túy này, một trong nhóm họ, lắc lư theo nhịp nhạc trong khi tay thì thản nhiên chích thuốc vào gân máu cương cứng. Ở đây, những người lãnh đạo Kachin cũng cho lập nên các trung tâm chửa trị cai nghiện. Có ít nhất là năm sáu chỗ hoạt động trong hai năm qua. Một trong các trung tâm đó là trung tâm The Light of the World, nằm trên bờ sông Irrawaddy, bao quanh bởi dãy hàng rào thiếc cao hơn ba bốn thước và có cả chòi canh gát. Cổng chính khóa từ bên ngoài. Phía trong cánh cổng không có tay cầm. Zau Tu, người mục sư trưởng toán điều hành trại này cho biết trại cần phải có rào tường. Bên cạnh đó, người ta còn được biết là những người làm nghề thợ đào đá đều chích ma túy, chuyện này không là lùng gì, vì thuốc có thể mua dễ dàng từ các tiệm bán bên đường.


    Tại các trại cai nghiện như trung tâm “The Light of the World” chẳng hạn, những người cố vấn tâm lý không dùng thuốc mê-tha-đôn để làm dịu bớt cơn ghiền như bên ngoài thường dùng mà họ dùng lời rao giảng của Chúa trời. Nding Ahga, được điều trị và không còn nghiện nữa đã lập nên một trung tâm giúp đở người nghiện ngập tên “the Youth for Christ”, cách trung tâm “the Light of the World”, phía trên nguồn sông chừng hai cây số. Trung tâm của Ahga lập nên không có rào tường nhưng tuần lễ đầu cai nghiện, bệnh nhân phải bị khóa kính trong phòng như tù nhân mà Ahga gọi là Phòng Cầu nguyện. Tất cả 12 người cai nghiện tại đây đều là công nhân, họ đến từ vùng mõ đá Hpakant, cách Myitkyina chừng 7 giờ đồng hồ lái xe hơi. No San, 29 tuổi, không ngại gì khi đưa hai cánh tay cho thấy những dấu kim chích trên gân sau bao nhiêu năm nghiện ngập. Anh cho biết trong tuần lễ đầu trị liệu, toàn thân anh lúc nào cũng nóng như bị thiêu bị đốt. Các người đi cai này cho biết, bạch phiến và các loại ma túy khác được bày bán một cách công khai tại khu chợ lộ thiên gần mỏ đá cẩm thạch.

No San nói thêm, họ có thể mua ma túy dễ dàng khắp nơi tại Hpakant. Nding Ahga cho coi đoạn phim mà anh quay lén trong chuyến đi thăm một khu bán ma túy ở Hpakant mới đây. Đoạn phim cho thấy một dãy sạp và quán hàng được dùng làm nơi cho người mua chích thuốc mà không phải sợ gì luật pháp cả. Được hỏi tại sao các nhân viên chống ma túy của chính quyền không can thiệp thì Sai Thein Zaw, người trưởng toán này đổ lỗi là tình hình an ninh do quân phiến loạn Kachin gây ra, không có an toàn cho họ làm việc. Do đó rất khó cho chính quyền áp dụng các chương trình nhằm loại bỏ nạn ma túy trong vùng. Bất chấp những cố gắng của hai bên, chính phủ Miến cũng như những người lãnh đạo Kachin về việc này, người dân ở đây tiên đoán là chuyện tồi tệ nhất chưa tới đâu. Mặt khác, vì con số người thất nghiệp ở đây quá nhiều cho nên, theo lời của mục sư Hkalam thì nhiều người nghiện sau khi cai xong đã nhanh chóng trở lại đường cũ. Hình ảnh cái nghĩa trang quá lượng người chết, gần một khu tạm cư của những gia đình chạy lánh nạn súng đạn, đã diễn tả đầy đủ dịch ma túy hoành hành vùng này ra sao.
     Hàng trăm, không nói là hàng ngàn, các kim và ống chích bỏ đầy trên mộ cũng như trước mô bia không người dọn dẹp. Nơi này cũng là chỗ thuận tiện cho hai người đàn ông nghiện ngập ốm yếu gầy còm, ung dung chích thuốc giữa lúc mặt trời lên mỗi ngày. Ngạc nhiên vì có người lạ, hai người vội vàng che dấu kim chích dưới đất. Một trong hai anh, chỉ cho biết là nông dân, 30 tuổi, đã dùng mấy cái lá từ bụi rậm nào đó, quẹt lau vết máu đang rỉ ra từ cánh tay. Anh ta nói có thể mua một liều ma túy với giá 4 ngàn kyat (khoảng 4 Mỹ kim) và nếu anh có tiền, anh sẽ dùng ma túy nhiều hơn, không có gì giới hạn.

    Sau mười phút nói chuyện với khách lạ, cả hai leo lên xe gắn máy chạy đi, dọc theo đường mòn, bỏ lại mấy cái kim chích còn vết máu, nằm lăn lóc trên lớp cỏ úa vàng giữa các ngôi mộ lặng yên.

 
Thuyên Huy
Radio FM974

 

 

Sài Gòn: Những Người Lặng Lẻ Mưu Sinh - Văn Lang


 Sài Gòn: Những người lặng lẽ mưu sinh

    Sài Gòn thành phố đông dân nhất Việt Nam với gần 10 triệu người, có vẻ càng như đông hơn khi dân khó khăn từ tứ xứ đổ về nhất là sau khi Ðà Nẵng thành phố đông dân nhất miền Trung thẳng tay truy quét ăn mày cùng những người bán hàng rong trên phố.
Nhịp sống Sài Gòn luôn ồn ào sôi động với những dòng xe cộ ngược xuôi hối hả, triền miên trên khắp các ngả đường, ít ai thấy, hay dừng lại để nhìn những thân phận người lặng lẽ mưu sinh nơi đường phố, dù cho mưa nắng.
Một chiều, chúng tôi dừng chân nơi bùng binh Hồ Con Rùa để trò chuyện với những chị em bán hàng rong nơi đây.

Khi chúng tôi đưa máy chụp hình lên, cô gái bán bánh tráng nướng đứng chắn ngang nhất quyết không cho chúng tôi chụp hình bằng một giọng khá gay gắt của người miền Bắc. Nhưng khi chúng tôi mua một cái bánh thì cô gái khoảng 20 mươi tuổi này nhanh nhẹn nướng bánh, quết lên đó một chút pa-tê tự làm, chút mỡ hành, chút tôm chà, đập thêm cái trứng cút... chưa đầy 3 phút cô trao cho chúng tôi cái bánh pizza “Made in SaiGon” với giá 7 ngàn đồng. Vị bánh khá lạ, hèn chi hai cô gái ngồi trên xe Honda gần chúng tôi nãy giờ đã thong thả dùng tới cái... thứ ba.

 


Hỏi thăm, cô gái bán bánh tráng nướng trứng cúc cho biết cô quê Nam Ðịnh, vô Sài Gòn thuê nhà ở đã hơn ba năm nay, chồng đi phụ hồ, cô bán bánh tráng trừ các chi phí một ngày cô cũng thu nhập hơn một trăm ngàn đồng. Nghề này là do một người trong xóm trọ truyền cho cô, nghề thì không cực, chỉ cực mỗi cái căn chạy xe dẹp lòng lề đường của công an...

Gần chỗ cô bán bánh tráng nướng trứng cút là một chiếc xe đẩy bán bánh tét, loại bánh nhỏ, năm ngàn đồng một cái. Cô gái bán bánh nhỏ con, lặng lẽ, khi chúng tôi mua bánh, hỏi thăm mãi thì cô cũng chỉ cho biết có hai điều, thứ nhất là cô quê Bến Tre, thứ hai cô mười tám tuổi, ngoài ra thì cô chỉ cười cười, không cho biết thông tin gì thêm.

Thấy một chị bán nước ngọt và khô mực khá lớn tuổi gần đó, chúng tôi ngồi uống nước và hỏi thăm.

 Chị L., ngoài năm mươi tuổi, gương mặt buồn, cho chúng tôi biết chị là dân Sài Gòn gốc, đi kinh tế mới trở về bán ở khu Hồ Con Rùa này đã được mười mấy năm.

Theo chị L. cho biết thì mỗi ngày từ bốn giờ chiều cho tới 11 giờ đêm bất kể trời mưa hay nắng, ngày lễ, ngáy Tết hay là ngày Chủ Nhật, chị đều có mặt tại đây, đó là chưa kể những đêm Giáng Sinh chị thức bán tới hai, ba giờ sáng.

Sau 1975, gia đình chị phải rời bỏ Sài Gòn đi kinh tế mới, mấy năm lăn lóc trên vùng đất đỏ Long Khánh, không sống nổi, chị trở về Sài Gòn tá túc nhà người em ở quận Bình Thạnh. Lấy chồng, chồng bỏ đi từ khi đứa con gái còn nhỏ xíu, chị làm đủ thứ nghề để kiếm sống, để nuôi con, cuối cùng chị may mắn “dừng chân” nơi Hồ Con Rùa. Niềm an ủi lớn nhất của đời chị bây giờ là cô con gái đã lớn, đã biết phụ mẹ và tỏ ra ngoan hiền, hiếu thảo.

Khi chúng tôi trò chuyện với chị L., cô con gái tới phụ mẹ có tới chào chúng tôi. Khác với vẻ mệt mỏi, buồn phiền của người mẹ, cô con gái của chị L. khá xinh xắn, với dáng vẻ tươi tắn của thiếu nữ tuổi đôi mươi.

 

 

 Chị L. cho biết, hiện con gái chị đang đi làm cho một công - ty chuyên về trang điểm tạo kiểu tóc của người Hàn Quốc. Lương rất thấp, chỉ có một triệu rưỡi mỗi tháng, nhưng sống được nhờ tiền “boa” của khách. Con gái chị đang mơ ước khi đã thành thạo về các kiểu tóc sẽ ra mở một tiệm riêng, vì ở Sài Gòn này nếu tay nghề đã giỏi thì không bao giờ sợ thiếu khách.

Công ty mà con gái chị L. làm chúng tôi có biết, đây là nơi khá nổi tiếng ở Sài Gòn, vào những tháng cao điểm khách tới làm tóc phải lấy số thứ tự chờ tới lượt. Nhưng vì trả lương quá thấp nên nhân viên ở đây đã không ít lần phải “đình công”.

Những lúc như vậy, các cô thợ “rỉ tai” khách tới làm tóc tại một tiệm của một nhân viên cũ ở đây ra mở tiệm tại một con hẻm tại quận 3, chất lượng y chang mà giá thành chỉ bằng 1/3 của công ty Đại Hàn.

 

 

 Ðiều chị L. buồn phiền nhất hiện nay là, khi cơn mưa xuống co ro núp dưới gốc cây lo mấy con khô mực bị ướt, ế ẩm không bán được.
Lo bị trật tự hốt về phường là mất vốn.
Chị cho biết, thường họ cũng “phân biệt đối xử” lắm, dân bán vỉa hè nếu là cư dân có hộ khẩu ở phường sở tại thì thường được đóng phạt, thậm chí có thể xin tha mà không bị nộp tiền. Còn những người ở xa như chị, chưa bao giờ xin được, dù chỉ một lần.
Chúng tôi rất hiểu những nỗi lòng như chị L. và những người bị “xúc” đi kinh tế mới về.
Họ bị mất hộ khẩu thường trú tại thành phố, dù lỗi không do họ, nhiều người thậm chí đến lúc chết vẫn còn ao ước có mảnh giấy lận lưng.
Bởi lẽ họ không cam lòng làm cư dân “lậu” trên chính mảnh đất của ông bà, tổ tiên họ để lại.

 

 


 
    Chính sách kinh tế sai lầm của một thời, như một kinh tế gia (giấu tên) đã gọi việc “ép” dân Sài Gòn đi kinh tế mới là “đem con bỏ chợ”, đang lẽ bây giờ phải xin lỗi dân, xem xét thiệt hại, bồi thường và cấp lại giấy tờ, hộ khẩu cho họ, chứ không thể đối xử với họ như những cư dân “vô thừa nhận”. Thực tế dân kinh tế mới gốc Sài Gòn hiện sống lây lất còn thua cả dân nhập cư từ các tỉnh thành khác về, vì dân nhập cư còn có giấy tờ, hộ khẩu gốc, trong khi dân kinh tế mới về bị “xóa trắng” giấy tờ gốc, trở thành những cư dân “lậu”.
Chuyện “hộ khẩu” và “hậu khổ” thì chỉ có ai sống dưới chế độ XHCN “ưu việt” thì mới hiểu được. Bên Trung cộng có lúc người ta đã kiến nghị bỏ chế độ hộ khẩu nhưng vẫn chưa được.
Sau 1975, những người miền Bắc XHCN đem vào cho nhân dân miền Nam câu nói, mà qua kinh nghiệm sống dưới chế độ họ tổng kết được, đó là: “Nhất thân, nhì thế, tam ngân, tứ tài”, nhưng người miền Nam sau 30 năm sống với chế độ họ tổng kết ngăn gọn hơn: “Nhất thân, nhì... liều!”

 Chúng tôi đã từng chứng kiến một tay giang hồ Sài Gòn dạy vợ bán thuốc lá trên vỉa hè Sài Gòn, như sau: “Mày để tủ thuốc đây bán, trật tự đi dẹp mầy đập bể tủ lấy kiếng rạch tay, máu chảy rồi lu loa lên, tao sẽ ra mặt. Sau nầy tao đi ăn cướp hay đi buôn xì-ke thì tao nói trên vận động giang hồ hoàn lương, nhưng phường không muốn dân lương thiện yên ổn làm ăn!”

     Câu chuyện vỉa hè Sài Gòn thì còn dài, nhưng chúng tôi muốn tạm dừng bằng câu hỏi của một bác giáo già đã nghỉ hưu: “Nếu nhà báo các anh không viết về nỗi khổ, nỗi oan khuất của người dân thì các anh viết báo để làm gì?!”

Chúng tôi thì tự hỏi, có thay đổi được gì không, những phận người lặng lẽ mưu sinh nơi hè phố Sài Gòn?

 
Văn Lang
 
(304Đen - Lượm lặt trên trang mạng)

 

Kỷ Niệm Ấu Thơ - Phạm Vĩnh Thanh


Kỷ Niệm Ấu Thơ

 
    Thực sự tôi không phải là người mê cỗ nhạc dù là Nam, Trung hay Bắc, lại càng chưa bao giờ đi xem cải lương để nhìn thấy nghệ sĩ gạo cội Út Trà Ôn tận mặt trên sân khấu, ngoại trừ những bức ảnh thấy trên các bích chương quảng cáo khi còn bé đạp xe đi học. Một hôm trên đường đi làm về, nghe ‘radio’ tôi đươc thông báo người ca sĩ lão thành vừa qua đời ở Việt Nam, ông mất ở một tuổi khá thọ, 83. Đáng lẽ cũng như bao nhiêu cái chết khác của những cụ già mà ngày nào cáo phó, phân ưu cũng đưa tin, tôi sẽ quên ngay sau vài phút, thế nhưng, khi tin ông chết tôi lại bùi ngùi nhớ lại một kỷ niệm của chính mình.

    Vào khoảng 1950 -1951, khi tôi độ hai ba tuổi, thì tình hình chiến sự dâng cao, mỗi lần có những vụ càn quét thì chúng tôi phải chạy loạn, nghĩa là di tản ra nhựng làng mạc và đồng ruộng, chờ quân Pháp đi rồi thì quay về nhà. Vùng tôi ở là một làng quê ở giữa hai bên nên có thể là nạn nhân của bất cứ phe nào. Khi đó gia đình tôi có một cái máy hát chạy bằng dây cót, loại máy hát mà cái cần gắn kim khoằng khoằng như cái cổ ngỗng, những chiếc kim hát phải mài đi mài lại để dùng vì muốn mua phải lên tận Hà Nội mới có. Tôi không nhớ gia đình tôi có bao nhiêu cái đĩa hát (hay chỉ có một cái duy nhứt không chừng) nhưng tôi chỉ thích bài “Bàng Quyên- Tôn Tẩn mà về sau tôi mới biết rằng, đó là bài Tôn Tẩn giả điên do danh ca Út Trà Ôn hát. Những đêm khuya, nghe người nhà kể lại, tôi khóc rất dai cho đến khi chú tôi phải vặn bài hát này cho tôi nghe xong tôi mới chịu đi ngủ. Bài hát đó bây giờ tôi còn nhớ đúng một câu: “Trời đất ơi, nổi đoạn trường, chỉ vì tôi quá tin thằng Bàng Quyên nên nó mới chặt..ư ư..đứt một bàn chưn tôi..”, thế nhưng tiếng hát đó vẫn văng vẳng trong đầu tôi năm mươi ba năm qua, không phai mờ mặc dù khi nhắc đến thì chỉ là một kỷ niệm nhạt nhẽo và vu vơ, thực không đáng kể lại cho ai nghe.
 

    Sáng nay tôi nhận được một cái “e-mail” trong đó bạn tôi chuyển cho một bảng Câu Đố nhận được từ ai đó. Những câu đố này đúng ra là một bài học về nhân sinh, trong đó người viết đưa ra một loạt câu hỏi: “cho biết tên 5 người nhận giải Pulitzer năm năm qua, cho biết tên 5 người nhận giải Nobel năm năm qua, cho biết tên 5 người được bầu làm hoa hậu nước Mỹ trong năm năm qua..”. Một loạt danh nhân vẫn thường là những hàng tít lớn trên báo chí hàng ngày chúng ta hằng thấy nhưng có lẽ bạn cũng như tôi, không ai có cái trí nhớ siêu phàm để nhắc được tên các người đó. Kế đó, người đưa ra tiếp một số câu hỏi khác: “cho biết thầy giáo nào đã ảnh hưởng và làm cho bạn nhớ đến nhất, cho biết người giúp đỡ bạn và có những kỷ niệm nhiều nhất, cho biết người nào đã khuyến khích và hướng dẫn đời bạn..”. Sau khi nghiền ngẫm những câu hỏi này, chúng ta mới chợt nhớ ra rằng cuộc đời mình không được hằn dấu bằng những danh nhân to lớn của thời đại như mình vẫn tưởng, trái lại chúng ta có những kỷ niệm nhỏ, những người bạn khi còn học ở trung học, tiểu học, những mối tình rất vô tình nhưng vẫn đánh dấu một thuở hoa niên, có khi ngay ở lớp nhì lớp nhất chứ không phải khi đã khôn lớn.

    Cách đây không lâu, một người bạn tôi ở bên Úc có sáng kiến rủ rê và tìm kiếm những bạn bè cùng học với nhau từ năm đệ Thất ở Chu Văn An, để làm một cái diễn đàn nho nhỏ, viết nhằng viết cuội, ăn tục nói phét với nhau như khi còn là những đứa trẻ mười một mười hai. Quả thực, những cái “e-mail” qua lại gợi cho nhau nhiều kỷ niệm be bé mà đôi khi chúng ta quên bẳng đi nhưng vẫn còn in đậm trong óc một người bạn cũ của mình. Cái thú vị đó cũng có thể là một dấu hiệu của tuổi xế trưa khi ai nấy bước vào tuổi tri thiên mệnh rồi nhưng cũng có thể là một thực tế mà đến tận bây giờ chúng ta mới nhận ra. Người ta ít khi nhớ đến những bữa ăn đầy cao lương mỹ vị như những tiệc cưới, những buổi họp mặt, những vụ gây quỹ đã trở thành nhàm chán ở xứ Cờ Hoa này mà chúng ta phải đóng bộ, đóng kịch hàng tuần, hàng tháng như một món nợ miệng phải trả cho xong. Trái lại, những ngày khó khăn, chia với nhau một củ khoai, một điếu thuốc lại gợi nhớ nhiều hơn và cũng êm đềm hơn.

   Quả đúng vậy, đến lúc này, chúng tôi không viết để hỏi nhau về sự nghiệp, về bằng cấp, về gia sản và danh tiếng mỗi người đã thu đạt trong bốn chục năm qua. Chúng tôi nhắc cho nhau những bài thơ của Trần Trung Phương, Bàng Bá Lân, Tản Đà và những đoạn văn của Hà Mai Anh, Thanh Tịnh... Có những bài thơ giản dị mà đầy ý nghĩa chúng tôi đã nhắc lại, chẳng hạn:

“Thằng Ba đeo cặp kính râm

Than rằng trời đất tối tăm mịt mờ

Vội vàng đổi kính màu lơ

Cười rằng trời đất bây hóa xanh

Ba ta lại muốn chơi tinh

Thay đổi kính trắng nhìn quanh khắp nhà

Kêu rằng muôn vật đều nhòa

Mẹ Ba thấy vậy nhủ Ba đôi lời

Muốn trông cho rõ sự đời

Mà con đeo kính nực cười lắm thay

Dùng đôi mắt thật họa may

Hảy mau bỏ kính ra ngay

Dùng đôi mắt thật họa may đở nhầm”.

 Hay một bài ngăn ngắn khác:

“Chua cay mặn đắng ngọt bùi

Ở đời phải nếm đủ mùi mới hay

Nực cười cho thế gian này

Ngọt bùi ưa ít chua cay ưa nhiều”.

 

Những bài thơ giản dị đó vẫn còn nhớ rất kỹ sau hơn bốn mươi năm. Thành thử nếu tôi có bồi hồi đến giọng ca của ông Út Trà Ôn trong cái khung cảnh một đứa trẻ nhỏ cố tìm ra cái người bé tí xíu nào đó trong trong cái hộp hát vọng ra thì cũng là một lẽ thường.


    Có lẽ vì thế, đã lâu nay tôi ít khi đọc hồi ký của những danh nhân, những người đã từng đóng vai trò quan trọng trong các khúc quanh lịch sử của vài chục năm qua vì những chi tiết trong đó,  không còn thích thú như mấy cái “e-mail” của một tên bạn cũ học với nhau hồi còn bé hay tại vì thế mà cái chết của một ông tướng cũ ở Nam Cali lại ít gây xúc động cho tôi hơn cái chết của một người nghệ sĩ già ở Việt Nam.

 
Phạm Vĩnh Thanh

(Tuần báo Chuông Sài Gòn số 24 – Melbourne)

 

 

 

 

Sunday, December 7, 2014

Mưa Đêm Nay - Trường Anh


Mưa Đêm Nay
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 

Thăm thẳm đường trường
Sông hồ gió lộng
Mòn gót giày cắm trọ quán đêm nay
Mưa Cẫm Giang như niềm đau ai khóc
Sương sụt sùi trong mấy nẽo truông lầy
Cho cốc cà phê
Cô hàng xanh tóc
Ta uống đắng cay hay mắt em say
Nghe đâu đây ai cười lên vỡ ngọc
Nhớ nhau nửa đời một giấc ngủ say

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Cổng biên thùy
Lòng tham luôn dời cọc
Rồi với thời gian rặng cỏ xanh cây
Cho thêm nữa cà phê sao em khóc
Ta hiểu rồi
Lòng đã cảm thương vay
Nước sông Vàm Cỏ nguồn xuôi trong lọc
Trăng gió mang  ta về với quán đêm nay.

Trường Anh

Về Nơi Người Đã Ở & Thoáng Bụi Xưa - Thuyên Huy


 

Về Nơi Người Đã Ở
 

Về Tây Ninh nhớ Ngũ Long
Nghe Vàm Cỏ nhận làm sông một đời
Cổng biên thùy gió không vui
Quán đêm hong lửa chờ người khách xưa
Gò Dầu mấy ngõ me thưa
Em  theo bụi đó cuốn mùa Hạ đi
Ừ thôi biết nói năng gì...
 Thuyên Huy
 
Thoáng Bụi Xưa
 

Ở đây cây cỏ buồn tênh
Long Hoa bốn cửa cũng hình dáng xưa
Dài theo từng khóm trúc thưa
Em hong tóc cũ giữa mùa nắng hanh
Bỏ Tha La thôi cũng đành
Thương hoa Gạo trắng thương tình gác chuông
Thì thôi bụi ở cuối đường...
 Thuyên Huy