Sunday, August 7, 2016

Hoa Hèn - Không Đề Tên Tác Giả


"Hoa hèn"



 

    Hoa Anemone coronaria là loại hoa thân thấp cao từ 15 đến 25 cm ,yếu ớt dễ tàn không chịu đuợc nắng mưa vùi dập ,thường mọc ở các bãi cỏ hoang ,viả hè ,ít ai dùng hoa này chưng trên bàn thờ hay đem tặng nhau trong các buổi kỷ niệm ,vì thế người đời ví von là loại "hoa hèn" ,tội nghiệp cho hoa này .Nhưng không phải chỉ có hoa ,mà những người phụ nữ xinh đẹp thường đuợc người đời (cũng người đời ) gọi là "hoa " và những phụ nữ bất hạnh không may ,gặp gian nan ,đau khổ đủ đuờng thì ví von như những bông "hoa hèn" .Trong quyển sách " Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh " của tác giả Phạm giật Đức (nếu tôi không nhớ lầm ) xuất bản cách đây trên 60 năm ,ở mấy trang đầu có một bài thơ ,trong đó có đoạn :
Ai về qua Bần Thứa,
Ai về qua Văn Giang,
Ghé vào thăm Xứ Lực ,
Xem anh du kich đốt làng,
Phất phơ cờ máu,tan hoang chùa chiền.
Rồi một hôm mai ,giầy đinh khua lũ giặc,
Mắt xanh trợn trừng,chúng men đường quốc lộ,
Về đây dốt xóm tranh.
Bờ tre gió bãi cưạ mình,
Người con gái ấy ,tiết trinh qua đời,
Hoa hèn khóc héo đôi môi,
Tình ta vời vợi mộng đời đắng cay.

Bài thơ diễn tả về đời sống của người dân miền Bắc lúc đảng cs do tên hán gian "hồ chí minh " lãnh đạo , dù nước Nhật sau khi đầu hàng đồng minh đã trao trả độc lập cho Viêt Nam , muốn có công trước dân chúng và lịch sử rước Pháp vào lại và lấy cớ chống Pháp dành độc lập tạo cuộc chiến tranh "chống Pháp " .Hô hào “tiêu thổ khắng chiến “ đốt nhà phá chợ không cho dân chúng sống yên lành dưới sự bảo hộ của người Pháp .Vì vậy quân Pháp kéo đên truy lùng cs ,
bọn cs thực sự đã bỏ chạy sau khi đốt phá , chỉ còn lại người dân ú ớ trở thành nạn nhân , cứ thế một cổ hai tròng ,đàn ông con trai bị bắt đi dân công bắt theo làm du kích đốt nhà phá chợ bắn giết đồng bào mình ,đàn bà con gái lại bị những tên lính Lê Dương hãm hiếp khi họ đi lùng cs .Những phụ nữ nơi thôn quê trong cuộc chiến tranh "chống Pháp" đã phải khóc hết nước mắt vì mất chồng mất con ,vì mái tranh nghèo đơn sơ bị đốt vì thân xác bị hành hạ ,có rất nhiều người đã gã gục bỏ lại con thơ bơ vơ trong cảnh hỗn loạn của xã hội ,họ như những bông hoa yếu đuối ,mảnh khảnh trước mưa gió bão bùng của thiên nhiên trước những bàn tay bàn chân hung bạo của kẻ qua đuờng dẫm đạp .
Tưởng rằng dân chúng sẽ hết khổ ,những người con gái thôn quê sẽ không còn là những bông hoa hèn khóc hết nước mắt khi cs đã thắng,
đang từ là những tên bần cố nông ,những tên ăn cắp trong chợ Đồng Xuân Hà Nội chạy theo tên Hán gian hồ chí minh ,con tố cha ,vợ tố chồng ,tá điền đấu tố điạ chủ ,học trò đấu tố thầy giáo ...nay đuợc chia nửa nước Việt Nam ,nắm quyền miền Bắc theo hiệp định Geneve 1954 .
Nhưng họ ,những tên lãnh đạo đảng cs không dừng tại đó ,không lo xây dựng đời sống cho người dân ,kiến thiết đất nước sau hàng chục năm chiến tranh tàn phá ,họ đi tìm kẻ thù mới ,tuyên truyền đối trá là dân chúng miền Nam đang bị Mỹ kìm kẹp đói khổ hô hào “ chống Mỹ cứu nước “ ,”sinh Bắc tử Nam “ ,”đánh cho Mỹ cút ngụy nhào “ ,dân chúng miền Bắc bị lùa hết vào Nam lấy súng đạn của Nga của Tầu bắn giết nhân dân miền Nam Việt Nam
, những cảnh đốt nhà phá chợ ,đặt mìn trên các quốc lộ ,pháo kích bừa bãi vào các thành phố đông dân ,chiến tranh lại triền miên trên khắp nẻo quê hương miền Nam .Máu đổ thành sông ,xương chất thành núi ,nước mắt của bà mẹ gìa của người vợ trẻ ,của những em nhỏ thơ ngây tuôn trào như suối giòng dã suốt 20 năm trời .Miền Nam bỏ cuộc ,buông súng để những kẻ lãnh đạo cs miền Bắc mừng vui chiến thắng ,chỉ mong cho mọi người dân đuợc sống yên lành trở lại ,cho em bé có cơm ăn ,mẹ gìa có áo mặc ,cho nước mắt đừng đổ trên từng gò má gầy gò của người vợ trẻ .cho đẹp như đoạn kết của bài thơ dẫn trên :

Non sông hết loạn đời trong giọng hò ,
Kể rằng đất cũ quê xưa ,thương ai lửa giặc mưa trưa xúng đồn.
Mai này con trở về thăm mẹ,
Mang theo tấm áo xồi thâm ,
Vài vuông luạ tím vải hồng tỉnh Nam
Mẹ may áo mặc huy hòang ,
Mẹ đi chẩy hội đò sang Đan Hoài,
Mẹ tôi Dân Tộc ,tên người Việt Nam .

Nhưng một lần nữa những tên cs khốn kiếp ,bọn bần cố nông đấu tố chủ ,bọn ăn cắp trong chợ Đồng Xuân Hà Nội ,lũ đá cá lăn dưa trong chợ Cầu Ông Lãnh Sài Gòn đuợc làm chủ nhân ông của cả ba miền Trung Nam Bắc Việt Nam ,nắm quyển lãnh đạo cả một đất nước trải dài trên 2000 cây số với trên 40 triệu người dân .Trong ánh sáng của hào quang chiến thắng chúng huyênh hoang “ chủ nghĩa Các Mác -Lê Nin bất diệt “ ,” đánh thắng ba đế quốc Mỷ Pháp Nhật “ ,” kẻ thù nào cũng đánh thắng ,khó khăn nào cũng vượt qua “ ,kẻ thù ngoại quốc đã không còn ,đảng cs vốn chỉ là những kẻ vô học ,chúng không biết quản lý đất nước ,không biết làm kinh tế ,chúng chỉ biết giết người ,chỉ biết làm cho người dân khốn khổ ,chúng lại tìm kẻ thù mới .Kẻ thù ở trong dân chúng miền Nam Việt Nam ,kẻ thù là những người dân có học thức , làm ăn lương thiện mà trở thành giầu có ,chúng hô hào “ đánh tư sản “ ,” đánh mại bản “ ,đánh cả tiểu thương ,chúng cướp hết nhà cửa hãng xướng ,đất đai ruộng vườn của nhân dân miền Nam Việt Nam ,xua đuổi gia đình quân dân cán bộ của chính quyền cũ lên các vùng rừng thiêng nước độc ,không đuờng xá ,chợ buá ,bệnh viện trường học và công ăn việc làm ,mục đích mượn tay thiên nhiên giết chết họ ,sau khi đã bắt giữ chồng cha con của họ vào các trại tù chung thân .
Hai mươi năm nhân danh “chống pháp dành độc lập” ,hai mươi năm nhân danh “chống Mỹ cứu nước” gây bao nhiêu cảnh lầm than khổ ải cho dân chúng khắp ba miền ,vẫn chưa thỏa mãn cái thú tính tàn độc của bọn lãnh đạo đảng cộng sản ,cái thú tính thích giết người cướp của ,thích độc quyền lãnh đạo ,thích làm anh hùng chiến thắng tất cả nên cứ phải đi tìm kiếm kẻ thù để đánh ,chúng không nghĩ đến đất nước ,không nghĩ đến người dân ,chúng sẵn sàng làm tôi tớ của Nga Tầu của kẻ chủ nhân khai sinh ra đảng cộng sản mà chúng đang tôn thờ ,thân xác người dân lại ngã xuống ,xương trắng lại chồng chất lên nhau ,máu đỏ lại tran hòa trên các giòng sông ,những em thơ mẹ gìa còm cõi dắt díu nhau lê lết ,và người vợ trẻ lại uất nghẹn chết trong đêm khuya mưa gió ,những cảnh như thế đã xẩy ra hàng giờ ,hàng giờ từ những thành phố ,đến các miền thôn quê hẻo lãnh ,hay trong các trại tù khổ sai từ Nam chí Bắc , xẩy ra trong “hòa Binh” sau cái gọi là “hòa ước Paris 1973” kết thúc cuộc chiến tranh "chống Mỹ cứu nước ".
Đất nước Việt Nam dưới sự cai trị của đảng cộng sản không chỉ có những người con gái là những bông “hoa hèn khóc héo đôi môi “ mà cả dân tộc Việt Nam đều bị phải là những bông hoa hèn khóc héo cả thân xác vì bị cướp đoạt nhà cửa ,ruộng vườn ,bị khủng bố bắn giết ,bị lùa bán đi làm nô lệ lao động nô lệ tình dục khắp năm châu ,bị phải sống trong môi trường nhiễm độc hóa chất từ các nhà máy phế thải ra của quan thầy Trung Quốc .bị làm những tên lính đánh thuê cho chính những kẻ thù mà ngày trước họ hung hăng đòi đánh và làm bia đỡ đạn cho quan thầy hiện tại ,làm thân kẻ nô lệ khi cộng sản Việt Nam qùy dâng hiến tòan thể lãnh thổ của tổ tiên cho Trung Quốc vào năm 2020 sắp đến
.

Không đề tên tác giả

304Đen - Llttm


Tuesday, August 2, 2016

Bên Bờ Hạnh Phúc & Mưa Sao Băng Đẹp Mỹ Miều - vkp Phượng tím


BÊN BỜ HẠNH PHÚC 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Duyên nợ con người do trời định sẵn
Không phải do mình lỡ để mất nhau
Quá nửa trăm năm tình vẫn dạt dào
Định mệnh khiến xui cho mình gặp lại...

*
Tìm đâu dư hương ngày xưa vụng dại?
Thuở học trò chôn dấu mối tình câm
Để giờ đây nước mắt cứ âm thầm
Tuôn chảy mãi theo dòng đời xuôi ngược...

*
Số phận khắc khe có cho tiếp bước
Chung cuộc hành trình nồng ấm yêu thương?
Bởi phong ba bão táp khắp nẻo đường
Đẩy chúng mình chùn chân trong tuyệt vọng!

*
Dạ sầu khắc khoải, tâm can nóng bỏng
Lữa tình đỏ máu rực cháy trong tim
Mơn man sóng vỗ ngọt bờ môi mềm
Lạc lỏng chơi vơi bên bờ hạnh phúc...

    
Saigon 29/7/2016

Vkp phượng tím

 
MƯA SAO BĂNG ĐẸP MỸ MIỀU   

 















 
Sao băng rơi xuống lầu thơ
Hai ta dệt lại mộng mơ ảo tình
Sao Anh thắp sáng lung linh
Sao Công Chúa Nhỏ niềm tin rạng ngời
Chiếu rọi khắp cả bầu trời
Nơi xưa chốn cũ buông lơi tình đầu
Chắp tay quỳ gối nguyện cầu
Trăm năm còn được có nhau cuối đời
Cho dù vật đổi sao dời
Trăng tròn rồi khuyết chẳng rời thương yêu
Mưa sao băng đẹp mỹ miều!!!

Saigon 30/7/2016
Vkp phượng tím

 

 

Thạch Lam & Một Cơn Giận - Không Đề Tên Tác Giả



Thạch Lam - nhà văn của 36 phố phường
 
 
Nói tới Hà Nội , là phải biết Hà Nội xưa có 36 phố phường . Và nhắc tới 36 phố phường , thì không thể quên Thạch Lam .

Hãy cùng tìm hiểu về Thạch Lam và thành quả văn học của ông , đã để lại cho đời :
Thạch Lam là một trong những nhà văn chiếm được nhiều cảm tình của người đọc. Các tác phẩm văn chương của ông tuy ít (ông mất năm 32 tuổi ) nhưng có giá trị nghệ thuật cao nên ông vẫn đứng vào hàng ngũ các nhà văn lớn của nền văn chương cận đại Việt Nam.

Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân, ông sinh ngày 7/7/1910, tại Hà Nội, trong một gia đình công chức, gốc quan lại.

Thuở nhỏ, Thạch Lam sống với gia đình ở quê ngoại, sau đó theo cha chuyển sang Thái Bình và tiếp tục học tiểu học. Lớn lên, ông cùng gia đình chuyển ra Hà Nội.

Sau khi đỗ bằng Thành chung năm 1927 và học một năm ở Trường Canh nông, Thạch Lam xin vào học ở Trường Albert Saraut - trường dành riêng cho con em Tây và các gia đình quan lại, giàu có. Năm 1931, Thạch Lam đỗ bằng Tú tài phần thứ nhất. Sau đó ông theo anh trai là Hoàng Đạo vào Sài Gòn và bắt đầu viết văn, làm báo.

Năm 1933, Thạch Lam lập gia đình và về ở trong một căn nhà đơn sơ nhưng ấm cúng tại làng Yên Phụ.

Cũng trong năm này, anh trai Thạch Lam là Nhất Linh thành lập nhóm “Tự lực văn đoàn.” Thạch Lam cùng Hoàng Đạo tham gia nhóm này. Tự lực văn đoàn là một nhóm thanh niên trí thức gồm bảy người: Nhất Linh (tức Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (là Trần Khánh Dư), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) và Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu).

Tham gia Tự lực văn đoàn, nhưng khác với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Khái Hưng, Thạch Lam có khuynh hướng đi gần với hiện thực và tình cảm nghiêng về người nghèo. Trong bài giới thiệu tập truyện ngắn “Gió đầu mùa” , Thạch Lam viết:

"Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly trong sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn." Đó có thể coi là Tuyên ngôn văn học của Thạch Lam. Quả thật, trong toàn bộ gia tài sáng tạo của ông, hầu như không một trang viết nào lại không thắm đượm tinh thần đó.

Được coi là một trong những cây bút chính của nhóm Tự Lực văn đoàn, song trước sau văn phong Thạch Lam vẫn chảy riêng biệt một dòng. Đề tài quen thuộc của nhóm Tự Lực văn đoàn là những cảnh sống được thi vị hóa, những mơ ước thoát ly mang mầu sắc cải lương, là những phản kháng yếu ớt trước sự trói buộc của đạo đức phong kiến diễn ra trong các gia đình quyền quý.

Thạch Lam, trái lại, đã hướng ngòi bút về phía lớp người lao động bần cùng trong xã hội đương thời. Khung cảnh thường thấy trong truyện ngắn Thạch Lam là những làng quê bùn lầy nước đọng, những phố chợ tồi tàn với một bầu trời ảm đạm, những khu phố ngoại ô nghèo khổ, buồn, vắng ...

Trong khung cảnh ấy, các nhân vật cũng hiện lên với cái vẻ heo hút, ảm đạm của số kiếp lầm than - đó là mẹ Lê, người đàn bà nghèo khổ, đông con, góa bụa ở phố chợ Đoàn Thôn; là bác Dư phu xe ở phố Hàng Bột; là Thanh, Nga với bà nội và cây hoàng lan trong một làng quê vùng ngoại ô; là cô Tâm hàng xén với lối đường quê quen thuộc trong buổi hoàng hôn.

Tất cả những cảnh, những người ấy đều được mô tả bằng một số đường nét đơn sơ, thưa thoáng nhưng vẫn hết sức chân thực. Tác phẩm của Thạch Lam vì thế có nhiều yếu tố hiện thực, tuy nhân vật không dữ dội như Chí Phèo, lão Hạc của Nam Cao, hay bị đày đọa như chị Dậu của Ngô Tất Tố... Cái riêng, cái độc đáo, cái mạnh của Thạch Lam chính là ở lòng nhân ái và vẻ đẹp tâm hồn quán xuyến trong mọi tác phẩm của ông.

Nhân vật của Thạch Lam, bất luận ở hoàn cảnh nào, vẫn ánh lên trong tâm hồn cái chất nhân ái Việt Nam. Thạch Lam đôi khi còn đặt nhân vật của mình vào vùng ranh giới tranh chấp giữa cái thiện và cái ác, để rồi tự bản thân con người bằng việc thức tỉnh của lương tri, của phẩm giá, xác lập chỗ đứng tốt đẹp cho mình trong cuộc sống đầy bùn nhơ của xã hội cũ. Đó là trường hợp của nhân vật Thanh trong truyện ngắn “Một cơn giận” hoặc Thành trong truyện ngắn “Sợi tóc.”

Sáng tác của Thạch Lam rất gần với văn học hiện thực phê phán và phản ánh sự phân hóa theo hướng tiến bộ của văn xuôi lãng mạn thời kỳ Mặt trận dân chủ. Tuy nhiên, do chưa thật hiểu biết sâu sắc về đời sống nhân dân lao động, tình cảm trong tác phẩm của ông chân thành song còn trừu tượng.

Thạch Lam có sở trường viết truyện ngắn. Văn phong của ông giản dị, trong sáng, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, thâm trầm. Nhiều người cho rằng ông là người đầu tiên biết khai thác chất thơ trong đời sống hàng ngày.

Truyện của Thạch Lam xa lạ với mọi thứ hấp dẫn bề ngoài, nhiều truyện dường như không có cốt truyện song vẫn có sức lôi cuốn riêng.

Ông là cây bút có đóng góp đáng kể cho sự phát triển của thể loại văn xuôi trong văn học Việt Nam

Các tác phẩm chính của Thạch Lam như tập truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” được xuất bản vào năm 1937; “Nắng trong vườn”, xuất bản vào năm 1938; “Sợi tóc”, 1942; truyện dài “Ngày mới”, xuất bản vào năm 1939; bình luận văn học “Theo giòng”, 1941; bút ký “Hà Nội băm sáu phố phường”, 1943...

Hầu hết sáng tác của ông được đăng báo trước khi in thành sách.

Thạch Lam mất ngày 27/6/1942 vì căn bệnh lao phổi, năm ông 32 tuổi./.



Một Cơn Giận

 

Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.

Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:

- Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.

Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.

Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:

- Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.

- Thầy cho sáu xu.

- Không, bốn xu là đúng giá rồi.

Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: "Bốn đồng xu từ đây về nhà bò". Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:

- Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.

Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:

- Lại đây đi mà.

Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:

- Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.

Anh xe cãi lại:

- Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!

- Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.

Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.

Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu "con lợn" cái tên hiệu cũng xứng đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.

- Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.

- Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!

Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:

- Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.

Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.

Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.

- Ê! Đứng lại!

Người kéo xe dừng chân... Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:

- Lạy thầy... thầy nói giúp con... thầy làm ơn...

Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.

Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:

- Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!

Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.

- Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?

Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:

- Tôi đi từ phố hàng Bún.

- Vậy phiền ông xuống xe.

Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:

- Allez! Đi về bót!

Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.

Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?

Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.

Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.

Tôi nhất đinh đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.

Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.

Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:

- Bẩm thầy muốn gì?

Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.

- Bác Dư có nhà không?

- Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.

Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:

- Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.

Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:

- Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?

Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:

- Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.

Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:

- Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.

- Thế bây giờ bác ta đâu?

Bà cụ trả lời:

- Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.

Tôi yên lặng, trong lòng náo nức.

Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:

- Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?

Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.

- Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.

Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhíc lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.

Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bươc ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.

Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà.

Đứa bé con đã chết.

Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:

- Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.

Thạch Lam

Tiếng Lốc Cốc Gõ Vào Ký Ức - Lê Văn Nghĩa



 
Tiếng lốc cốc gõ vào ký ức
 


Sáng sớm, người Sài Gòn xưa nằm trong nhà đã nghe tiếng xe và vó ngựa lóc cóc.

Xe thổ mộ chạy lên Gò Vấp chở hàng bông về Chợ Lớn. Từ lộ trình lên Gò Vấp, nhiều xe còn ghé Chợ Lớn tranh thủ đón thêm khách. Thông thường xe tập trung tại bến xe ngựa trên đường Mã Lộ (Q.1) hay ghé đậu bến xe ngựa ở chợ Bến Thành.

Thùng xe thổ mộ dài 1,18 m, cao 1 m, ngang khoảng 0,8 m bằng gỗ mít chở khoảng 6 người, ngồi co chân đối mặt “tập thể” trên tấm chiếu bạc lót trên sàn xe. Thùng xe được vít cứng trên một cái nhíp bốn lá hình ô van để tạo sự đàn hồi, giữ thăng bằng cho thùng khi rong ruổi trên đường. Phía đầu thùng xe hai bên là cặp tai đèn. Hai cái vè chở hàng (porte bagage) bằng gỗ bề ngang hơn tấc tay, uốn lượn như dợn sóng. 24 cây căm xe bằng gỗ giáng hương to tổ chảng. Phía ngoài vành bánh xe được bọc bởi vỏ xe hơi nên xe ngựa chạy cũng khá là êm.

Giày dép của khách thì máng ở hai cọc sắt phía sau xe ở góc thùng. Một người ngồi ngay chỗ bàn đạp dành cho khách lên xuống. Dù chật hẹp như vậy nhưng không ai cảm thấy ngột ngạt vì bên hông thùng xe để hở cho gió lùa vào. Mỗi khi trời mưa, khách có thể kéo tấm rèm xuống che mưa. Phía trên nước mưa chảy xuống hết hai bên vì nóc là một cái mái khum tròn như ngôi mộ đất.

Theo một giả thuyết, xe ngựa được gọi là xe thổ mộ vì giống ngôi mộ đất. Có người thì cho rằng xuất phát từ tiếng “thảo mã” đọc trại ra. Và cũng có ý kiến cho rằng thùng xe đóng ở Thủ Dầu Một (Bình Dương) đã được khẳng định trong câu vè: Khô như bánh tráng là chợ Phan Rang, Xe thổ mộ dọc ngang là chợ Thủ Dầu Một, Chẳng lo ngập lụt là chợ Bưng Cầu nên còn được gọi là xe “Thủ mã” rồi đọc trại là… thổ mộ!

Một số tư liệu cho biết thời thập niên 1940 - 1950 là giai đoạn phát triển mạnh của xe thổ mộ. Tại chợ Thủ Dầu Một có đến 3 bến xe thổ mộ nhộn nhịp mà lúc tập trung đông nhất cũng trên 50 chiếc. Không chỉ vậy, Thủ Dầu Một còn có nhiều trại đóng xe thổ mộ có tiếng với thùng xe đẹp, trang nhã, bánh xe bền chắc. Xe sản xuất tại Thủ Dầu Một còn được gọi là xe “thùng Thủ” để phân biệt với các nơi sản xuất khác và cũng để khẳng định “đẳng cấp”. Nghe nói ông tổ nghề đóng xe là Văn Văn Luốc mà một lão mã phu còn giữ được chiếc xe của ông tổ đóng từ cách đây hơn 200 năm.

Đọc lại những bài viết về phương tiện vận chuyển ngày xưa, được biết xe thổ mộ xuất hiện từ khoảng thập niên 1940 tại Sài Gòn và các vùng phụ cận. Trước khi có xe thổ mộ thì người Pháp đã dùng xe song mã “Milo” và thêm hai loại xe kiếng - một dành cho người Tàu và một dành cho nữ tu Công giáo.

Xe kiếng có 4 bánh do một ngựa kéo, hình dạng như một cái hộp có hai cửa hai bên hông xe và bốn phía thân trên có kiếng để hành khách bên trong thấy khung cảnh bên ngoài. Về sau, loại xe này vừa nặng nề, vừa kềnh càng nên được thay thế bằng xe thổ mộ và hai loại xe khác.

Một loại gọi là “cắc ké kéo bàn thờ” có mui, hai bánh, một ngựa kéo và một loại là thứ xe không mui, mưa nắng hành khách phải che dù. Hai loại xe này chỉ được chạy ở tỉnh. Như vậy, có thể suy nghiệm rằng người dân Nam bộ đã dựa theo xe kiếng để chế ra một loại xe ngựa phù hợp với địa hình đi lại của dân Sài Gòn - Gia Định mà giá cả lại bình dân nên rất được người dân Nam bộ ưa chuộng.

Rồi theo quy luật tiến hóa, xe thổ mộ dần dần phải nhường chỗ cho xe lam và các loại phương tiện vận chuyển khác. Tôi không còn được nghe tiếng nhạc ngựa, vó câu lóc cóc mỗi buổi sáng, chợt nhớ bài học thuộc lòng ngày thơ ấu: Khi người mã phu đó/nhìn bánh xe lăn đều/ông nghĩ thầm trong bụng/nỗi nhọc nhằn sẽ qua/Sau một ngày rời rã/ông ôm con ngựa già/nói như là ru vậy/ngủ cho mùi nhe con/Ngựa đã già tuổi qua/ông lại già tuổi hơn/người lẫn vật vất vả/từng manh áo miếng ăn/Ôi ngày qua tháng lại/bánh xe cũng lăn đều/mà nỗi nhọc nhằn đó/chưa bao giờ lăn qua (Người mã phu - Huy Giang).

Tiếng lóc cóc vó ngựa già thổ mộ đã gõ vào ký ức thời thơ ấu quá đỗi ngọt ngào.

Lê Văn Nghĩa
Người viết từ trong nước
304Đen - Llttm

 

 

Lá Thư Ngày Trước - Vũ Hoàng Chương


Lá Thư Ngày Trước
 















Yêu một khắc để mang sầu trọn kiếp
Tình mười năm còn lại mấy tờ thư
Mộng bâng quơ hò hẹn cũng là hư
Niềm son sắt ngậm ngùi duyên mỏng mảnh

Rượu chẳng ấm, mưa hoài chăn chiếu lạnh
Chút hơi tàn leo lét ngọn đèn khuya
Giấc cô miên rùng rợn nẻo cơn mê
Gió âm tưởng bay về quanh nệm gối

Trong mạch máu chút gì nghe vướng rối
Như tơ tình thắc mắc buổi chia xa
Ngón tay run ghì nét chữ phai nhòa
Hỡi năm tháng hãy đưa đường giấc điệp

Yêu mê thế để mang sầu trọn kiếp
Tình mười năm còn lại chút này đây
Lá thư tình xưa nhớ lúc trao tay
Còn e ấp thuở duyên vừa mới bén

Ai dám viết yêu đương và hứa hẹn
Lần đầu tiên ai dám ký “Em Anh”!
Nét thon mềm run rẩy gắng đưa nhanh
Lòng tự thú giữa khi tìm trốn nấp

Mươi hàng chữ đơn sơ ồ ngượng ngập
E dè sao mươi hàng chữ đơn sơ
Màu mực tươi xanh ngát ý mong chờ
Tình hé nụ bừng thơm trong nếp giấy

Ôi thân mến nhắc làm chi thuở ấy
Đêm nay đây hồn xé nẻo thu tàn
Khóc chia lìa ai níu gọi than van
Ta chỉ biết nằm nghe tình hấp hối

Say đã gắng để khuây sầu lẻ gối
Mưa mưa hoài rượu chẳng ấm lòng đau
Gấm the nào từ buổi lạnh lùng nhau
Vàng son có thay màu đôi mắt biếc

Tình đã rời đi riêng mình tưởng tiếc
Thôi rồi đây chiều xuống giấc mơ xưa
Lá lá rơi nằm bệnh mấy tuần mưa
Say chẳng ngắn những đêm dằng dặc nhớ

Trăng nào ngọt với duyên nào thắm nở
Áo xiêm nào rực rỡ ngựa xe ai
Đây mưa bay mờ chậm bước đêm dài
Đêm bất tận đêm liền đêm kế tiếp

Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp
Tình mười năm còn lại chút này thôi
Lá thư xưa màu mực úa phai rồi
Duyên hẳn thắm ở phưong trời đâu đó.

1959

Vũ Hoàng Chương