Sunday, November 6, 2016

Đi Qua Ngày Tháng Đó - Thụyvi



ĐI QUA NGÀY THÁNG ĐÓ
 
 
1 –

Ngọc Diệp đón tôi ngay cửa, tuy biết trước nàng là em song sinh của Kim Chi, nhưng chị em họ giống nhau như tạc khiến tôi cứ nhìn nàng chăm chăm làm nàng cười bẽn lẽn hỏi:

 ” Em giống chị em dữ rứa răng anh ?”

  Tôi gật đầu “Giống lắm” rồi tần ngần chờ Diệp cùng đi vô nhà với nhau trên lối đi được lát bằng những khuôn gạch Tàu màu gạch tôm điểm xuyết thật mỹ thuật trong khoảng sân đầy bóng mát ngan ngát mùi thơm của những chùm hoa mận đỏ. Bất ngờ, bóng Chi vụt hiện ra chạy tới ôm choàng lấy tôi và Diệp trong tiếng cười dòn tan – Chi lúc nào cũng thế, như làn gió, chưa thấy người đã nghe được tiếng cười lăn tăn trong suốt như phiến thủy tinh vụn vỡ.

“Anh Văn biết em Diệp của em rồi hỉ, thấy thiệt dễ thương ghê chưa tề !”

Diệp có vẻ mắc cở:

“Chị ni noái chi dị rứa. Em vô phụ dọn cơm một chút đã rồi ra nói chuyện hí”

Sống lâu trong Sàigòn, bà ngoại và Chi nói lai giọng Sàigòn, nhưng suốt buổi cơm tối hôm nay cả nhà toàn nói với nhau rặc giọng Huế khiến một chàng trai miền Nam như tôi tâm trạng giống y như ông nhà văn Thanh Nam lấy bà vợ Huế nên than “Người Huế nói chuyện với nhau bằng ngoại ngữ Huế, người Nam, người Bắc đứng ở ngoài nghe, không làm sao chen vào được một câu”. Đúng là tôi không làm sao chen vào được câu nào, nhưng lòng phấn khởi cùng nỗi vui mừng của gia đình đã thoát qua những tháng ngày u ám lo lắng thất thần cho sự an toàn của người thân, nhất là Diệp đứa em song sinh với Chi sống với cha ngoài Huế đã thoát chết vào được Sàigòn đoàn tụ với chị và bà ngoại. Dĩ nhiên bà ngoại rất hỉ hả hài lòng. Chi cũng vậy, nàng như bừng bừng thêm sức sống khiến khuôn mặt có nhiều nét đẹp với mái tóc ngắn càng thấy nàng trẻ trung hơn. Diệp ngồi kế bên không linh động như Chi, nhưng trong ánh mắt đen hun hút chưa hết nét hoảng loạn chấp chới niềm hạnh phúc với làn nước mắt lấp lánh.

2 –

Thường mỗi buổi sáng, theo thói quen ở ngoài làng tôi dậy thật sớm. Nhưng từ khi vô Saigon, dù thức dậy rồi vẫn chưa muốn chổi dậy, chỉ muốn nằm im để tận hưởng những ngày bình yên thong dong của một cảnh đời mới bắt đầu từ mấy tuần nay. Tôi muốn nằm im để đầu óc lan man ôn lại từng khuôn mặt bà con họ hàng thân sơ, xóm giềng mới quen quanh nhà. Đặc biệt, những người này khi nào gặp tôi cũng tò mò hỏi về chuyện Mậu Thân. Mỗi lần có ai hỏi về chuyện Huế, tôi đau đớn như bị khươi cạy vết thương còn mưng mủ. Có lúc bụng tôi như thắt lại vì cứ bắt buộc nhớ hoài những tan tác; chết chóc; khóc than; vật vã; đổ nát của Huế mà tôi thật sự chỉ muốn quên. Bởi vì nói về Huế là tay chân tôi như rũ liệt, như sống trở lại giai đoạn kinh hoàng đó, là nhớ lại cảm giác hồi hộp sợ hãi khi đám người bên tê tràn về mặt mày lạnh tanh đi ruồng từng nhà, tìm từng tên, kiếm từng người bên ni dắt đi bặt tăm. Kể lại chuyện Huế khiến đầu óc tôi lại ong ong lên những cảnh hãi hùng thất kinh của dân Huế, cảnh người già trẻ bé lớn thảng thốt khóc như ri, khóc bằng bặc như điên như mê, cảnh dân Huế nằm chồng lên nhau ngất ngư trốn đạn B.40, cảnh dân Huế khiếp đảm nằm bẹp buông xuôi cho sự may rủi….

Chuyện Mậu Thân Huế là chuyện thảm sát, giết người nếu không chứng kiến không làm sao tưởng tượng nỗi nó kinh khủng tàn nhẫn đến mức độ nào, vì thế không làm sao nói cho ngạ, kể cho hết. Bây giờ nhiều lúc nhớ lại ngoài nỗi ám ảnh sợ hãi, nó còn là nỗi ngỡ ngàng thảng thốt mơ hồ tự hỏi không biết sao mình có thể sống sót được trong muôn vàn nguy hiểm của những ngày ghê rợn đó? Sao mình còn sức lực chui ra từ trong đống đổ nát lùi lũi trốn từ đống ngổn ngang này qua đống ngổn ngang kia chỗ nào cũng nồng nồng mùi máu, mùi mồ hôi, mùi cứt đái, mùi đất, mùi cây lá gãy đổ, mùi đạn khen khét hăng hăng, có khi thu mình lại trầm dưới nước, bò dưới rãnh để hễ nghe yên yên là chạy thục mạng nhắm mắt nhắm mũi băng băng qua những xác chết, qua hàng rào để rồi không biết do phép mầu nào tôi được thoát ra có mặt tại một nơi ồn ào với đời sống thôi thúc vội vã rộng lớn nơi đây?

Phần vì hồn vía còn thất kinh, phần cảm giác còn lạ lẫm với khung cảnh và sự sinh hoạt mới mẻ, nên tôi cứ lan man vẩn vơ chưa tập trung làm được chuyện gì. May có chị Chi hết lòng chăm sóc quan tâm từ cái ăn, giấc ngủ và sắm sanh cho không thiếu món gì. Lúc nào chị Chi bận quá thì có anh Văn đưa đi đó đây cho biết Sàigòn. Với bản tính mơ mộng, ít tiếp xúc thân mật với bạn trai nào, tôi bị anh chinh phục bằng những cử chỉ dịu dàng như khi anh chở tôi ghi danh đi học, như khi anh tiếp thức ăn kêu nước uống, khi anh chọn và giải thích từng cuốn sách, khi anh làm cái này cho tôi, khi anh làm cái kia cho tôi…

Tánh anh Văn vốn từ tốn, cương nghị, anh lại ân cần với mọi người. Nhưng lạ, không hiểu sao tôi lại tưởng tượng thấy những điều anh làm cho tôi không phải là những cử chỉ thương mến của một người anh dành cho người em, mà là cử chỉ của một người đàn ông có cảm tình với một cô con gái! Tự nhiên nghĩ đến đây lòng tôi bỗng xôn xao, tôi mĩm cười, ngước mắt nhìn những chùm lá xanh thẫm trên vòm ngói bên kia bờ tường, cảm thấy màu xanh buổi sáng hôm nay thật vui mắt, như khít khao niềm hạnh phúc vừa sôi nổi vừa mênh mang như một lớp sóng của những âm thanh xe cộ chạy ngoài đường vang động rầm rì vui tai lan tận vào chỗ này. Tôi bắt đầu có một cảm giác êm ái lạ kỳ lạ, tự nhiên lòng thấy vui vui, thấy phấn khởi và như đang hy vọng một điều gì không rõ rệt. Mặc dù nhiều lúc tôi cố gắng chống lại những cảm giác thấy mình bị cuốn vào một thế giới lãng mạn lửng lơ đầy tội lỗi. Đã nhiều lần tôi cố gắng gạt bỏ một tình cảm kỳ quái không ngay thẳng, nhưng không hiểu sao trạng thái ôn mê bị kích thích mãnh liệt bởi một tình cảm mới mẻ lạ lùng lần đầu tiên của thời con gái như ảo mộng xâm chiếm xô ùa xoay tít cám dỗ phối hợp nhịp nhàng với những hương ma, u nùng, quỷ dị….

3 –

Kể từ ngày Diệp hiện diện trong căn nhà này, Chi muốn tôi sau những phi vụ thì đến với Diệp cho vui. Có khi tôi đến Chi không có ở nhà. Có khi tôi đến Chi bỏ mặc tôi ngồi nói chuyện với Diệp, còn nàng loay hoay làm gì đó thật lâu trên gác, hoặc xuống bếp phụ nấu ăn với ngoại. Có khi tôi cùng Diệp ngồi nghe nhạc trong phòng khách thì Chi lại mãi mê cắm đầu trên những cuốn sách nơi góc phòng. Thường, tôi tôn trọng những khi Chi cần không gian yên tĩnh để viết bài, hay học hành, nhưng nhiều lúc tôi cảm thấy những thời khắc đẹp đẽ của hai đứa từ trước hình như không còn nữa. Vì thế, vô tình Chi cứ đẩy tôi và Diệp ngồi riêng với nhau và những câu hỏi của Diệp cùng vài điều hiểu biết của tôi như sợi dây vô tình buộc chúng tôi gần với nhau hơn. Có lúc tôi với Diệp nói chuyện với nhau rất hào hứng và chúng tôi thân thiết với nhau hồi nào không hay.

Tuy nhiên, nhiều lần khi trở về nằm một mình tôi lan man với những tình cảm hổn độn, có khi tôi cảm thấy một sự thoả mãn với nỗi niềm hứng khởi lạ lùng. Có khi cảm thấy áy náy, nhưng rồi tự biện hộ – Tôi có lỗi gì đâu trong vụ này? Tự nhiên tôi cảm thấy lời biện hộ nhiều lúc thật yếu ớt. Tự nhiên tôi giật mình sợ hãi vì sợ tôi khó lòng kháng cự cơn cuồng lốc âm thầm nhưng vồ vập cám dỗ không đâu.

4 –

Hôm qua sau khi vào bưu điện bỏ thư, lúc quay ra tình cờ tôi gặp Truyền, người bạn học chung lớp mỹ thuật ngoài Huế nghe nói có tham gia trong đoàn Phật tử đấu tranh dạo nọ. Sau giây phút mừng rở nhưng không ít bối rối, Truyền thấy tôi đi một mình bèn rủ tôi đi bộ tới quán Cái Chùa nằm trên đường Tự Do cách đây một đỗi.

Khi chúng tôi ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn vuông sau tấm kính trong suốt nhìn qua bên kia đường là một công viên với những cây cổ thụ xanh đen mốc thít, xen lẫn những cành lá cao tít đong đưa trong một không gian đất trời ngây ngất mát mẻ ấm áp chưa kịp phả bóng nắng hầm hập cạnh bên những lối đi lót bằng những viên gạch trắng vuông vắn được phủ lất phất những lá me rơi rắc li ti. Tôi nhờ Truyền gọi cho tôi một tách trà Lipton nóng và Truyền cũng vậy. Đáng lẽ hai đứa xa quê gặp nhau nơi vùng đô hội xa lắt xa lơ phải có nhiều điều để nói, để hỏi thăm những người còn mất trong thời thất kinh lửa đạn, nhưng chúng tôi cố gắng tự kềm chế chỉ hỏi thăm nhau, trả lời nhau những câu rời rạc với chút e dè, có khi còn giữ ý khách sáo với nhau. Nhìn Truyền già dặn hơn trong cách nói chuyện nhát gừng triết lý bất mãn cuộc đời, có khi trầm lặng một cách giả tạo như cố ý cách biệt khiến tôi nhận rõ hơn sự không đồng thuận trong lối suy nghĩ của hai chúng tôi. Bỗng dưng những thắc mắc lại lởn vởn trong đầu vụt qua trong tâm trí khiến tôi cảm thấy ghê người. Đôi mắt tôi tò mò đặt rất lâu trên bàn tay có những ngón thon dài tài hoa của Truyền để tưởng tượng bàn tay đó từng dính ít nhiều máu của đồng bào Huế như lời đồn? Đầu óc tôi lại loé sáng những nhát màu nóng rực như lửa trên những bức tranh của Truyền ngày đó thật dị kỳ, những bức tranh như ẩn chứa nỗi dằn vặt ray rức bế tắc cùng những ước mơ khát vọng đập phá tung hê của siêu thực. Tranh của Truyền có khi đầy hiện thực hổn loạn bủa vây đôi khi là nỗi hiu hắt không làm sao giải thích được. Lúc đó, nhóm chúng tôi cứ nghĩ Truyền theo cái “mốt” bất mãn kinh niên của một số tuổi trẻ Huế suy nghĩ theo kiểu bắt chước hiện sinh thời thượng, bị dìm vào mấy cuốn triết lý ngoại quốc đang thịnh hành. Tự nhiên tôi nghĩ tới Văn và so sánh thấy hai người là hai hình ảnh thật khập khiễng so le không tương xứng, thậm chí không công bằng. Một bên đầy thách đố gian khổ mỗi ngày phải lao vào vùng lửa đạn. Một bên an thân ngồi sầu bi than trách trong ảo vọng vu vơ. Cái mấu chốt bi thảm làm băng hoại xã hội, đất nước là ở chỗ đó.

Bất ngờ, Truyền hỏi tôi lúc này có vẽ gì nhiều không khiến tôi giật mình tưởng đâu anh đọc được ý nghĩ của mình. Nhắc lại chuyện vẽ vời tôi vẫn còn ấm ức tiếc nuối vì trận Mậu Thân thiêu rụi không còn sót lại bức tranh nào – cho nên mặc dù nhiều lúc nỗi nhớ khung vải, màu sắc thôi thúc, nhưng không hiểu sao tôi chưa có hứng khởi cầm lại cây cọ.

Chung quanh nơi chỗ chúng tôi ngồi, ngoài tiếng máy lạnh rì rì, tiếng khào khào ray rức của John Lennon trong bản Let It Be phát ra từ chiếc máy chọn nhạc đặt giữa lối đi. Nơi hàng hiên những người đàn ông tóc dài, tóc ngắn, già, trẻ đang châu đầu nói chuyện hay rải rác ngồi trầm tư với điếu thuốc. Tôi ngó nghiêng ngó ngửa, chép miệng nói bâng quơ cho tan bớt không khí gượng gạo:

“Khung cảnh quán này có nhiều nét giống như trong những tấm hình chụp ở Paris anh hỉ?”

Thấy tôi có vẻ thích, Truyền khoe thêm:

“Quán ni có bánh Croissant thật tuyệt! Diệp thử đi”.


Truyền mau mắn chọn cho tôi vài cái bánh, chúng tôi vừa ăn bánh vừa nhấm nháp ly trà chanh cho qua thì giờ. Trong câu chuyện với nhau tôi biết Truyền đang đi dạy ở mấy trường tư thục quanh đây. Gần chia tay, Truyền rủ tôi đi ciné, anh nói cạnh đó, Rex đang chiếu Love Story. Tôi nghe bạn bè kể lại phim này rất hay, cảm động đầy lãng mạn do cô tài tử Ali Mc Graw có cái trán vồ bướng bĩnh và mái tóc rẽ ngôi giữa khá độc đáo đóng vai chính. Tôi muốn coi lắm nhưng lắc đầu từ chối.

5 –

Khu cư xá còn triền miên trong giấc ngủ. Bên ngoài, đêm sâu hun hút khiến các bóng đèn điện sắp thành dãy chung quanh phi trường sáng rực có thể thấy rõ những con muỗi đêm hay thiêu thân bay kín quanh các ngọn đèn như một đám bụi trắng đục và linh động. Tôi ngồi yên trong bóng đêm. Một nỗi buồn không đâu với những ý nghĩ bâng quơ. Đó cũng không phải là nỗi buồn vô cớ. Đó là sự trỗi dậy dằng co. Tôi muốn làm vài cử động cho đầu óc tỉnh táo nhưng ngồi im, sợ những cử động sẽ làm mất giấc ngủ mệt nhọc của thằng bạn sau một phi vụ đầy cam go nguy hiểm. Tôi cảm thấy khô cổ muốn đứng lên đi ra tủ lạnh rót ly nước, nhưng uể oải, rồi thôi, ngồi dựa dài trên gối lan man nghĩ đến Chi, đến mấy lúc gần đây, đến đôi mắt đen lay láy nhiều lúc thản nhiên nhiều lúc trầm mặc, có khi đôi mắt hướng vào xa xôi, vẻ huyền bí lạnh lẽo của hai tròng mắt khiến tôi có chút lo sợ không đâu tưởng tượng nếu một ngày nào đó bóng hình mảnh mai xinh xắn của Chi sẽ mất hút hay lẩn khuất khỏi tầm tay của mình!?….

Tiếng nhạc ngoại quốc êm dịu tràn khắp phòng khiến tôi cảm thấy lòng có chút yên tĩnh lại và tin tưởng những kỷ niệm đẹp lãng mạn vẫn còn tươi roi rói trong cuộc tình của chúng tôi không dễ gì buông bỏ hay đứt rời. Chúng tôi yêu nhau thật lòng, khi yêu nhau là chúng tôi sống hết cho nhau, không e ngại những ánh mắt tò mò, nên có lần hai đứa cùng dầm mưa, hai thân thể ướt sũng ôm nhau ngay phố dưới cơn mưa tôi nhận ra là mặc dù tôi đã hôn Chi nhiều lần – vẫn đôi môi ấy, nhưng mỗi lần tôi hôn nàng, Chi hình như biến thành con người mới. Có lần tôi nhìn sâu trong mắt, định nói cho nàng hiểu nàng đã bỏ quên tôi, nhưng rồi tôi không nói gì cả để sau đó lủi thủi ra về nằm rỗng không với mọi ý nghĩ buồn phiền. Cũng như đã nhiều lần ngồi trước mặt nàng, tôi cố gắng nói những lời những điều mà tôi hạnh phúc, nhưng nhìn khuôn mặt hồn nhiên thơ trẻ của nàng, khiến tôi như gã giữ vườn không nỡ cắt đi một đoá hoa mong manh vừa chúm chím nở trong vườn. Cho nên tôi lại thôi không nói với nàng những điều tôi muốn nói, cũng như tôi hẹn với lòng là khoan lôi kéo em vào bất cứ sự ràng buộc nào, có thể biết đâu em còn e ngại cuộc sống luôn dời đổi của tôi – một người lính với những phi vụ đổ quân, bốc quân đầy bất trắc… cái sống cái chết không làm sao lường trước.

6 –

Đến tận bây giờ, sau nhiều năm nữa trôi qua hẳn có người khi đọc câu chuyện trên sẽ nghĩ có lẽ tôi đã rơi vào một mối tình đơn phương bồng bột đầy lỗi đạo với chị Kim Chi, còn có thể gây ra tình cảnh oái ăm không phương giải cứu? Thật ra, những ngày đầu tiên ý thức mình phải xa rời hay đừng nghĩ tưởng tới anh Văn thật không phải dễ dàng. Cái ranh giới lý trí thật mỏng manh và tình cảm rạch ròi trong sự thăng bằng thì quá yếu ớt cho một người con gái suốt bao năm dài sống trong u tịch mộng mơ lãng đãng.

Tôi với chị Kim Chi là một hạt máu trong cùng một bào thai. Lúc chúng tôi bốn tuổi, ba mạ chia tay. Ba tôi ẳm tôi về Huế – Mạ tôi bắt chị Chi ở lại Saigon. Tình cảm của những đứa trẻ song sinh lạ lùng lắm – Chúng tôi vẫn thương nhau thật đậm đà, cảm thấy như lúc nào cũng gần nhau gắn bó nhau, dù sống chia lìa từ nhỏ.

Hiện tại, tôi chiêm nghiệm một điều khi gặp những trớ trêu cuộc đời thường người ta hay vin vào số phận chứ ít người tĩnh tâm dùng lý trí để chống đỡ lại mọi cuốn hút của cám dỗ. Tôi thầm cảm ơn Ba tôi, ông bà Nội tôi – Những người ấy xưa giờ luôn luôn dạy tôi, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ gìn nhân cách cho chính mình. Do đó, điều này đã thôi thúc bắt tôi kịp dừng lại trước những tai hại đổ vỡ như sự rạn nứt giữa tôi và những người ruột thịt do chính sự nông nổi mông muội của mình gây ra.

Tôi đã ý thức và tĩnh táo đi qua những ngày tháng như thế và hiện giờ đang chờ sinh đứa con đầu lòng. Chồng tôi là chàng sinh viên người miền Nam học cùng lớp, cùng ra dạy chung trường. Tình yêu của chúng tôi đến với nhau không là ảo tưởng mà là một thực tế dâng hiến vị tha. Vợ chồng chúng tôi sống với nhau người nào cũng muốn bảo bọc lo toan cho người kia mà không bao giờ dè chừng hay tính toán.

Chị Kim Chi và anh Văn vừa thành hôn, chưa kịp có con thì anh đã quẩy túi nhẹ bổng đi tập trung cải tạo và bị đưa ra Bắc do biến động ngày 30 tháng 4 ập đến. Ngôi nhà cũ được mở ra làm quán tạp hoá. Chị Chi vừa mua bán, may vá vừa chăm sóc Ngoại, vừa thăm nuôi anh Văn vì nghề Luật sư của chị không được trưng dụng trong chế độ hiện thời.

Sau thời gian dài hốt hoảng về thời cuộc, về sự vắng anh, chị đã lấy lại được sự cương nghị duyên dáng cố hữu khiến tôi càng cảm phục lẫn xúc động, Và cũng chính vẻ đẹp này chị Kim Chi vẫn được bao người săn đón rồi thất vọng, thất vọng vì đó là vẻ đẹp yên lặng, chị dường như thờ ơ giả tảng trước những con mắt của đám đàn ông con trai lố nhố chung quanh.

Hồi trước có lần tui nghe ai đó nói như ri:

Con gái Huế vốn sẵn đa tình. Mô có, ông Trời công bình lắm, ban cho mỗi người một lượng nước với chanh với đường để pha uống như nhau.

Chị em tôi không phải đã pha thật đều, uống ngọt từ hớp đầu cho đến giọt cuối đó sao?

thụyvi

304Đen - Llttm

 

Tôi Yêu - Phùng Quán


Tôi Yêu
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trái tim tôi như trái cây bị dập nát
Rụng xuống từ cành cao
Tình tuyệt vọng là ngọn sào
Chọc cho trái cây rụng xuống...
Trái cây rụng
Vẫn mơ giấc mơ... hoang tưởng
May ra được gót chân em dẫm nát
Ðể trước khi tan vào bụi đất
Còn được hôn gót chân yêu...
Nhưng em la lối phàn nàn:
- Gian phòng tôi nóng thiêu như sa mạc
Anh đến ngồi quá lâu
Càng thêm nóng bức!
Anh thở như người sắp chết khát
Chút khí trời ít ỏi của tôi!
Quá đau khổ
Tôi hóa thành lì lợm
Tôi xin em bớt giận...
Nếu không được ngồi
Thì tôi xin đứng
Cùng với cây chổi em dựng ở xó nhà
Nếu không được thở...
Tôi sẽ nín thở
Như cái ngày còn đi chăn trâu cắt cỏ
Tôi suýt chết dưới đáy giếng làng
Vì mãi lặn mò con cá bống thần cô Tấm bỏ quên...
Em giận dữ la lên:
- Ðứng trong xó nhà cũng không được đứng!
... Thì tôi xin ra đứng trước hiên...
- Ðứng trước hiên cũng không được đứng!
... Thì tôi xin ra đứng đầu đường
Tôi nhìn vào khung cửa nhà em
Môi rát bỏng những lời yêu thương...
- Ðứng đầu đường cũng không được đứng!
Lời yêu thương cũng không được nói!
...Thì tôi xin chết!
Nhưng tôi không nói lời vĩnh biệt
Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh...
Dù hỏa táng
Dù chôn chín tầng đất
Trái tim dập nát của tôi vẫn thắm một khối tình!

Phùng Quán

Thursday, November 3, 2016

Thu Đi Theo Người - Thuyên Huy



Thu Đi Theo Người
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
Người đi thu vội vã theo sau
Phố quen từ buổi đó thay màu
Gió lùa xào xạc bên lề vắng
Lá khóc lìa nhau giấu nổi đau
 
Đường về nhà người mưa cứ rơi
Tả tơi từng giọt hắt hiu đời
Đèn vàng cuối ngõ mù sương muộn
Đêm lẻ loi nhìn tôi với tôi
 
Chiều nhặt nắng lùa qua ngõ thưa
Thềm hoang cây cỏ xót xa chờ
Nhớ nhung thu chở về bên ấy
Chuyến xe ngựa gầy hơn dốc xưa
 
Từ độ người xa đã mấy thu
Áo thôi tà khép bến sông mờ
Lá xếp chất chồng ngày tháng đợi
Tôi giết tình tôi trong giấc mơ
Thuyên Huy




 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nụ Hôn Cuối - vkp Phượng tím


NỤ HÔN CUỐI 

 Đáp ý bài Nụ Hôn Đầu của Nguyễn Cang

 











Hơn nửa thế kỷ bao mùa mưa nắng
Nụ hôn đầu còn đọng lại dư hương
Nơi ấy chốn nầy xa cách hai phương
Sóng gió bão đời tình trường nghiệt ngã...

*
Tình tuổi ngọc không đơm hoa kết quả
Chuyện ngày xưa bởi khờ dại ngây thơ
Còn bây giờ sao cứ mãi dại khờ?
Khi gần đất xa trời trong gang tấc?

*
Khó thể tìm được những gì đã mất
Nhưng dòng đời xui ta gặp lại nhau
Buông trôi nghĩa tình anh nở đành sao?
Nợ duyên dang dở! Có còn tiếc nuối?

*
Tìm quá khứ trước khi về cát bụi
Nung nấu tình buồn bằng khúc đam mê
Trăm khổ đau ngàn cay đắng ê chề
Nụ hôn cuối... nguyện thề... em vẫn đợi!!!

           
Saigon 01/11/2016
Vkp phượng tím

 

Từ Đôi Mắt Bò - Tuấn Khanh


Từ đôi mắt bò

 


Con bò được ông chủ nuôi treo đầu khỏi mặt nước để không chết chìm trong lũ lụt miền Trung.Trong hầu hết các vụ quan chức địa phương đến từng nhà tịch thu tiền cứu trợ, với lý do để chia đều cho tất cả mọi người, có một tình tiết đáng chú ý: hầu hết những người bị thu tiền đều bất bình nhưng đành im lặng chấp nhận.

 Tình tiết này gợi lên nhiều suy nghĩ, đặc biệt rằng quan chức địa phương ở Việt Nam đã trở thành loại cường hào ác bá từ bao giờ, mà không ai dám phản đối công khai.

 
Chịu đựng trong xót xa

Hai tiếng nhân dân giờ âm vang xót xa và chịu đựng. Họ là tầng cuối cùng trên đất nước này, bị dẫm đạp, bị tước đoạt mà không hề dám cất lên một lời phản kháng.

Số phận con người hèn mọn như ngọn cỏ trong đất nước mà nơi nào hai tiếng nhân dân cũng được đọc lớn, kẻ hoa. Tự nhiên, tôi nhớ đến con bò thoi thóp sống trong mùa bão lụt vừa qua ở miền Trung.

Trong trận lụt kinh hồn táng đởm trung tuần tháng 10/2016, Quảng Bình gánh chịu những đau thương không bút mực nào tả xiết. Những con số đếm giản đơn cho biết cả ngàn ngôi nhà ngập đến nóc, ruộng vườn hoa màu chìm trong biển nước.

Gà vịt trâu bò chết lặng theo con nước dâng. Những con số đếm nhạt nhẽo nhưng căng phồng hàng ngàn câu chuyện về sống chết và phận người quẫy đạp để sinh tồn.

Tuyệt vọng…

Trên các trang mạng xã hội. Người ta chuyền tay nhau bức ảnh vể một con bò, được chủ nuôi treo đầu cao khỏi mặt nước để không chết chìm, nhưng nước thì đã ngập đến mũi.

Đây có thể là bức ảnh bao quát nhất, chỉ có cái đầu và đôi mắt tuyệt vọng, mệt mỏi của con vật, nhưng lại như nói hết, gào thét hết được trong thinh không về con người, về quê nhà, về nỗi đau và tương lai.

Không biết bức ảnh mờ nhạt, hay ánh mắt của con bò đã đục dần trong giờ phút hiu hắt của sự sống. Đôi mắt là người ta nhớ đến nhân vật phu kéo xe của Nguyễn Công Hoan.  Người đàn ông mệt mỏi, kéo xe kiếm cơm qua ngày, thở dốc với từng ngày sống, mà nhà văn xứ Bắc Ninh mô tả rằng đôi mắt mờ đục, gượng sống như trái nhãn, không còn nhìn thấy tương lai.

Cũng cùng trong ngày tháng đó, thế giới chứng kiến một giải Nobel Văn Chương đến lạ, vì giải được trao cho một người chọn một đời hát rong ở Mỹ. Có không biết bao nhiêu là bất bình cũng như hân hoan trước sự kiện này. Thậm chí những người bảo vệ giá trị văn học, coi việc trao giải thưởng này như một sự sỉ nhục đối với giới cầm bút.

Vì sao Viện Hàn Lâm Thụy Điển lại có một quyết định bất thường như vậy? Tổng thư ký thường trực của Viện Hàn Lâm Thụy Điển là bà Sara Danius nói rằng Bob Dylan đã là người gợi nhớ lại thời kỳ thi ca Hy Lạp cổ, với những cách sáng tác và phổ biến thơ không khác gì các thi sĩ Homer và Sappho từ hơn 2500 năm trước”.

Tạm gác lại các điều tranh cãi về đúng-sai. Điều mà Viện Hàn Lâm Thụy Điển quyết định, cho thấy những cái nhìn đột phá và ngẫu hứng. Nó xác định về các giá trị của nghệ thuật trí tuệ không có lằn ranh và định kiến.

Sự sửng sốt của những người chứng kiến giải Nobel Văn Chương 2016, không chỉ là kết quả lạ lùng, mà có cả sự phát hiện về quan điểm của Ban tuyển chọn giải Nobel, mà tường chừng đã quá cũ mòn và bị câu nệ bởi các nguyên tắc, cũng như danh tiếng của chính mình.

Cùng một thế giới, cùng một thời gian. Con người ngoài kia mở ra những thách thức và tranh cãi về trí tuệ. Mở ra những lý luận mới về giá trị tinh thần và tương lai. Còn ở nơi đây, Quảng Bình quê chúng ta, người ta chỉ còn loay hoay và cuống cuồng nghĩ ra cách dùng một sợi dây để treo đầu, cứu sống một con bò.

…trong nghiệt ngã

Thật nghiệt ngã. Nước dâng cao ngập mái nhà. Ngập ruộng vườn và cuộc sống, lại khiến người Việt nghĩ nhiều hơn về số phận của mình.

Không phải thiên tai cố “cực đoan” mà mỗi ngày mưa lũ càng nhiều. Ngay trong các thành phố lớn, mưa chỉ cần kéo dài vài tiếng, nội thành đã không khác gì phố biển.

Quảng Bình, Hà Tĩnh, Lào Cai, Cần Thơ, An Giang… khắp nơi đang đối diện với lũ lụt, sạt lở như chuỗi tin dữ của ngày phán xét.

Người dân Việt đang phải trả giá cho những gì mà họ không làm. Nỗi oan khiên này cay đắng biết dường nào.

Từ năm 1993, người dân xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã kêu cứu khắp các nơi về chuyện Lâm trường Bố Trạch - do ai đó chống lưng, ban bệ nào bao che để cùng chia chác – đã tàn phá liên tục rừng đầu nguồn.

Cả tỉnh Quảng Bình có diện tích tự nhiên 173,75km2, trong đó phần lớn rừng. Người dân đau xót kể lại rằng nơi đây ngày xưa chim muông khắp nơi, cổ thụ thì lớn đến mức 4-5 người chia nhau ôm mới hết vòng… nhưng Lâm trường Bố Trạch hủy diệt tất cả.

Đến năm 2013 thì đợt lũ dầu tiên quét sạch mọi thứ do rừng không còn đã diễn ra. Thiên nhiên chết dần, mà con người đứng ra bảo vệ rừng cũng bị tấn công, bắt bớ.

Tháng 12/ 2014, đã từng có những cuộc xung đột lớn giữa dân chúng và phía Lâm trường Bố Trạch, nhưng tiếng kêu của dân chúng không thấu được đến đâu cả.

Hôm nay lụt tràn về Hà Tĩnh, mà nguyên nhân chính là nhà máy thủy điện xả lũ vô trách nhiệm. Giải trình của chính Chi cục Thủy lợi tỉnh Hà Tĩnh cho biết, bởi mưa lớn cộng với nhà máy thủy điện Hố Hô xả lũ với lưu lượng từ 500 m3/s - 1.800 m3/s, hồ Bộc Nguyên xả 150-200m3/s... đã làm cho địa phương bị ngập lụt.

Bao giờ mới tỉnh giấc?

Chuyện nhà máy thủy điện xả lũ vô trách nhiệm, coi thường tài sản và mạng sống con người không còn là chuyện lạ. Ở Việt Nam, nơi đâu có nhà máy thủy điện là nơi đó có sự cố xả lũ.

Lời trách yêu của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Đặng Quốc Khánh với nhà máy thủy điện Hố Hô rằng “Xả lũ hết cỡ như thế dân không kịp trở tay”, cũng vô trách nhiệm không kém. Sống và chết của hàng ngàn x

Con bò vô danh ấy thật may mắn. Vì nó có được người chủ tử tế và nghĩ đến nó. Còn hàng triệu con người Việt Nam khác đang đối diện với môi trường đang vào thảm họa, ai sẽ cứu họ trong một ngày mai đầy thảng thốt?

Và tương tự những người dân sống sót qua thảm họa, lại bị tước đoạt cả phần cứu trợ của mình, sự chịu đựng của một dân tộc ngày càng sâu hoắm và khủng khiếp ấy, khi nào mới chạm đáy và người người tỉnh giấc?

Tuấn Khanh, 27/10/2016

304Đen - Llttm

 

Cảnh Nhà Chị Dậu - Ngô Tất Tố



Cảnh nhà chị Dậu
 



Nếp nhà tranh lủn củn nấp dưới rặng tre là ngà, lặng lẽ úp lấy khu đất dề thành và kín đáo náu trong một con xóm cuối làng Ðông xá, đứng xa ngó lại, có thể lầm với nơi nhốt lợn hay chứa tro, đó là nhà của Nguyễn Văn Dậu.
Với tầm cao vừa xế mặt thành, giẫy mái hiên cườm cượp nhòm ra ven thành, luôn luôn phạt kẻ ra vào bằng những cái cộc bươu đầu choáng óc, nếu họ quên không cúi đầu.
Với lớp rêu xanh điểm những lá tre vàng úa và những cỏ gấu phất phơ, cái sân đất rộng bằng đường bừa, lỗ chỗ vết chân chó sen vết chân người, vừa làm đường đi, vừa làm khu vực 'hoãn xung', phòng bị những lúc mưa rào, đất ở chân thành khỏi lở vào thềm và cửa.
Bao nhiêu bộ phận cần có của một gia đình, đều được thu cả vào trong nhà.
Nhà cất theo lối kiến trúc phổ thông của các cụ, toàn thể gồm có một chái và hai gian.
Gian đầu là buồng.
Bức mành rách mép lướt thướt rủ ngoài cửa buồng, cũng như bức phên nan nứa sừng sững chắn ngang lòng nhà, đều hết sức giữ cho trong buồng có vẻ bí mật. Trái lại, những khe hở ở cạnh cửa và nhưng lỗ thủng ở chân phên lại cùng ra ý phô sòng, như muốn khai rằng : ngoài chiếc giường tre gẫy giát, kê giáp bức bụa, trong này có một chum mẻ, vại hàn, chen nhau đứng bên cạnh đống đất hang chuột.
Ðối với buồng, ấy là bếp đun, cảnh tượng lại càng bề bộn.
Dưới từng máy chái thấp hẹp, những luồng ánh sáng xanh tía, thông thống kéo thẳng từ nóc đến nền, cố hun cho khô những chỗ đêm qua mưa dột.
Cạnh bó củi giong ẩm ướt, đoàn vung sứt miệng hềnh hệch nằm ngửa trong những cái rế tre, như muốn cười với lũ mêu đất thư nhàn, lông lốc lăn nghiêng lăn ngửa.
Trên bãi tro trấu tanh bành, nguội lạnh, mấy hòn gạch vỡ chầu đầu vào nhau, nghiêng mình nằm theo thế chân vạc, đương chờ đến lúc đội nồi.
Kề đó đến bàn thờ.
Chiếc ngưỡng tre uốn lưng gù gù đỡ lấy một đố tre, dõng dạc đứng ra hình chữ 'môn' và hộ vệ cho một mớ nan tre lành phành long bựt, giường thờ giống như cái chạn đựng bát. lơ lửng gác giữa khoảng cột của bếp và buồng.

Tờ giấy xanh lạnh lùng phủ ngoài vách đất tỏ rằng nhà mới có tang.
Nhưng mớ mạng nhện chằng chịt quấn trên đám chân hường lơ thơ, lại làm chứng cho một thời gian khá lâu, chủ nhân không hề cúng lễ. Rồi ở giữa nhà, chiếc chiếu rách thủng xộc xệch phủ trên tấm phản long đinh.
Rồi ở dưới phản, mấy con chó con đòi ăn, ăng ẳng kêu không dứt tiếng.
Và ở ngoài hiên, quang, gánh, liềm, hái sen, với áo yếm, áo, váy, quần, lôi thôi rủ suốt mấy gian ruổi.
Trong tay bồng đứa con gái hai tuổi, chị Dậu thơ thẩn ngồi trên chiếc chõng long nan. Cái nhanh nhảu của đôi mắt sắc ngọt, cái sinh sắn của cặp môi đỏ tươi, cái mịn màng của nước da đen giòn và cái nuột nà của người đàn bà hai mươi bốn tuổi, vẫn không đánh đổ những cái lo phiền buồn bã trong đáy tim. Nét mặt rầu rầu, chị im lặng nhìn sự ngoan ngoãn của hai đứa con nhỏ.
Cái Tý và thằng Dần, đương hỳ hục bới đống rễ khoai, tìm những củ mập, củ giày, bỏ vào trong rổ. Chúng nó mừng reo hý hửng khi thấy một củ nguyên lành, và chúng nó cãi cọ lầu nhầu khi lục mãi chẳng được gì cả.
Mặt trời gần đến đỉnh đầu.
Ánh nắng xuyên qua lũy tre chiếu xuống trước thềm khoang cửa.
Ðằng sau gà gáy te te.
Nóc bếp láng giềng ngọn khói bốc lên nghi ngút.
Thằng Dần với bộ mặt thìu thịu, bỏ đống rễ khoai đứng dậy lùng bùng:
- Nhặt mãi từ sáng đến giờ mới được ba mẫu khoai ranh! Con không phải tội mà bới nữa. U đi mua gạo mau lên! Hàng xóm nấu cơm trưa rồi, nhà ta vẫn chưa ăn cơm sáng! Chúng con đói quá!
Ngó con một cách đau đớn, chị Dậu ngọt ngào:
- Con hãy cố nhặt thêm vài chục mẫu nửa, rồi chị nó luộc cho ăn, chứ u làm gì có tiền đông gạo?
Thằng bé phụng phịu:
- Hôm qua và hôm kia u bán hai gánh khoai lang được năm hào mà... đã tiêu gì đâu!
Vừa nói nó vừa tung tăng chạy đến cạnh mẹ, toan lần dải yếm của mẹ. Cái Tý thỏ thẻ khuyên em:
- Tiền bán khoai còn phải để dành đóng sưu cho ông Lý chứ? Dễ được đem mà mua gạo đấy hẳn? Em có đói thì hãy ăn tạm củ khoai sống vậy!
Câu nói nghĩa lý của con bé bảy tuổi, hình như có một sức mạnh thần bí, khiến cho chị Dậu hai hàng nước mắt chạy quanh. Uể oải, chị bế cái Tỉu lên sườn và lừ thừ đi ra ngoài cổng, để ngóng xem chồng đã về chưa.
Chồng chị, - anh Nguyễn Văn Dậu - tuy mới hai mươi sáu tuổi, nhưng đã học nghề làm ruộng đến mười bảy năm.
Với cái sức khỏe mạnh, với cái tính nhanh nhẩu, với cái đức chịu thương chịu khó trong nghề cầy thuê cuốc mướn, những năm son rỗi, vợ chồng nhà anh cũng vẫn kiếm được thừa ăn. Mấy năn nay phần vì thóc cao, gạo kém, phần thì con đẻ thêm ra, vợ bận mọn luôn, sự tiêu dùng của anh mới không được rồi rào như trước, vặt mũi chỉ đủ đút miệng mà thôi.
Rồi tháng tám năm ngoái, mẹ anh bị bệnh qua đời. Lại tháng giêng năm nay, thằng em trai của anh cũng vì phải gió mà chết. Dầu anh hết sức tằn tiện, hai cái ma ấy cũng cứ lôi kéo đi mất của anh hai món là làng hết đúng sáu đồng, và hai cổ quan tài hết gần tám đồng. Nhà không có, anh phải quang co tần tảo cho có. Hai cái rớp ấy cũng đủ đưa anh lên đến bậc nhì, bậc nhất trong hạng cùng đinh rồi. Hơn nữa, tháng ba đến giờ thần bệnh sốt rét ở đâu kéo đến, nó bắt anh cứ phãi nghĩ việc nằm nhà.
Thế là gần ba tháng trời, những sự đóng góp chi tiêu của một gia đình năm miệng ăn, hết thảy trông vào hai bàn tay trắng của người đàn bà con mọn.
Sự đói rách của con và sự lầm than của vợ, đắp đổi tiến đến trước mắt, đã làm cho anh gan ruột nẫu nà. Thêm mấy bữa nay, Lý trưởng ngày ngày sai người giục thuế, anh càng luống cuống như con kiến bò trong chảo nóng, không biết lo liệu thế nào. Sớm ngày, cơn sốt đã tan anh phải gắng gượng chống gậy ra đi, cũng định vay mượn lấy một vài đồng, trả cho xong 'món nợ nhà nước'. Nhưng đi thì đi, chính anh cũng không tự biết mình sè đi đến nhà a, và chừng bao giờ thì về.
Mong mãi không thấy bóng chồng, chị Dậu lại bỗng cái Tỉu trở vào, ngồi phịch xuống chõng.
Cái Tý vẫn loay hoay với đống rễ khoai. Thằng Dần đương ráu ráu nhai mẫu khoai sống.
Bên nhà láng giềng có tiếng mâm bát lạch cạch. Mấy con nít tíu tít gọi nhau ăn cơm. Mùi canh rưa và mùi cá khi theo ngọn gió nồm đưa sang ngào ngạt.
Thằng bé háu đói nuốt vội miếng khoai trong miệng, vớ tấm áo nâu toạc vạt khoác luôn vào mình, đon đả chạy lại vỗ vào vai mẹ :
- Con sang chơi bên nhà ông Bác, u nhé!
Cái Tý chừng mắt:
- Bên ấy sắp sửa ăn cơm ấy mà...! Sang làm gì? Rồi bà Bác lại đuổi oai oái như hôm nọ ấy. Thôi, đói thì chịu vậy, chứ em cứ nhặt cố lấy mấy củ nữa, rồi chị đứng lên bắc nồi.
Thằng Dần quăng tọt cái áo vào chõng, ngoảnh đít quay lại, trên mặt đầy vẻ thất vọng:
- Khổ lắm, bao nhiêu củ ngon củ lành, u đã lựa hết đem bán, ở đây chỉ còn những rễ và rễ, lấy đâu ra khoai mà nhặt?
Cái Tý lại dịu nét mặt :
- Chả bán thì lấy tiền đâu đóng sưu?... Em hãy chịu khó nhặt đi với chị! Hãy còn vô khối củ mẫm ra đấy.
- Nhưng mà em còn đói vàng cả mắt, không nhặt được nữa...!
Nói xong, thằng Dần bước đến bên cạnh rổ khoai, chọn lấy một củ lớn nhất, nó chùi vào bụng cho sạch cát bụi rồi cho vào mồm cắn...
Chị Dậu tuy vẫn ngồi im không nói, nhưng ở khóe mắt, nước mắt lại cứ chan chứa chảy ra. Chừng như không muốn để cho các con thấy sự đau lòng của mình, chị vờ ngảnh mặt nhìn vào trong vách.


Ngô Tất tố

Trích từ “Tắt Đèn”

Huyền Sử - Hoàng Cầm


Huyền Sử
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
Yếm hãm xuân tình em hé đôi
Ngồi bên Liễu Hạnh nhếch môi cười
Em phải quỳ run xe tóc lạnh
Từ nay giải yếm cấm buông lơi
Buồn pha lê thiên hư đổ vỡ
Trời phạt may ra hiểu lẽ người

Chị Liễu liều ném tan chén ngọc
Mù xanh thủng đáy chúa tiên rơi
Còn em đày xuống làm thi nữ
Tay trói chân cùm chợt biết vui

Bỗng có đêm vàng yêu mải miết
Biết đâu là đất nhớ đâu trời
Tinh mơ chợt thấy trần như lá
Ngợp chớp toàn thân những mắt người

Vội tìm chiếc yếm vua cha dặn
Định dấu bầu men lánh nẻo xa
Ngất núi ô kìa anh vỗ nhịp
Bay cờ triệu yếm ríu ran ca

Ngũ sắc chen nhau cầu lễ hội
Nuột nà cởi bỏ áo hoa khôi
Em không buộc thắt lưng thon nữa
Thả búp tròn căng nuột ấy... ơi !

Nguồn sống tuôn thơm nhựa ứa đầy
Một chiều khổ cực bốn chiều say
Đã phanh yếm mỏng thì quăng hết
Những nếp xiêm hờ giả bộ ngây

Hương ngát em lồng kín cõi anh
Yếm đào trút lại phía vô linh
Đung đưa gác lửng nghênh xuân ấy
Đôi núm hồng em nở hết mình.
 
Hoàng Cầm