Wednesday, August 30, 2017

Bắc Kỳ 9 Nút Bắc Kỳ 2 Nút - Bùi Trọng Nghĩa


Bắc Kỳ 9 nút - Bắc Kỳ 2 nút
 
 
 
 
Anh hãy đi cho khuất mắt tôi, các anh đeo dai như con đỉa. Chúng tôi đã sợ các anh quá rồi! Hai mươi mốt năm trước, chúng tôi đã phải bỏ cả nhà cửa làng xóm để chạy xa các anh vào đây, vậy mà bây giờ các anh vẫn lại theo bám, không buông tha!

Đó là lời người con gái ở Hố-Nai Biên-Hòa (bắc kỳ 9 nút) nói với tên bộ đội (bắc kỳ 2 nút) khi hắn theo tán tỉnh cô sau 30-4-1975. Cô là thế hệ thứ hai của một gia đình di cư vào Nam sau 20-7-1954. Tội nghiệp cô gái bắc kỳ! Chúng tôi, những người lính thời ấy, trách nhiệm thế nào với nỗi nghẹn ngào cay đắng này của cô?

Ván bài thắng ngược! Tại sao con số 9 nút (1954) lại thua con số 2 nút (1975)? Cái gì khiến cô gái bắc kỳ này lại sợ tên bộ đội bắc kỳ kia? Trải nghiệm thực tế, đơn thuần trong sinh hoạt xã hội của “bác” Hồ trước và sau những năm 1975 để giải mã những nguyên nhân căn bản khiến con số 9 nút phải thua con số 2 nút:

Ở năm thứ 5 của đời tù tội, lần đầu tiên mẹ tôi đi thăm tôi ở trại Ba-Sao Nam-Hà, quà cho tôi thật khiêm tốn, trong đó có hai hộp sữa đặc là đáng quý nhất. Tôi nói đường xá xa xôi, mẹ mang làm chi hai hộp sữa này cho nặng, thì mẹ tôi cho biết bà mua ở Hà-Nội khi đi ngang qua. Chia tay, tôi ôm hai hộp sữa vào lòng, nghĩ tới chiều nay có được cái “ngọt ngào của cuộc đời", cái ngọt ngào đã biến mất trong suốt hơn 5 năm trong đời tù đày, mà đôi chân tôi bước đi khấp khểnh, cao thấp như đang ở trên mây.

Thế nhưng, trời sập rồi! cái đinh vừa đâm lút vào hộp sữa thì một dòng bùn đen túa ra, tôi mềm người rũ gục như một tàu lá úa. Ngồi cạnh tôi, người bạn thân trong tù đang chờ được chia xẻ, đôi mắt trợn tròn rồi rủ xuống như muốn khóc! Bóc nhãn hiệu ra, thấy cạnh hộp sữa có một vết hàn. Như thế là người Hà-Nội đã tinh vi sáng tạo: rút ruột sữa ra, bơm bùn đen vào rồi hàn lại. Quả thật (mẹ tôi), Bắc Kỳ 9 nút đã thua Bắc kỳ 2 nút!

“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Tôi đã học cái văn hóa đó ở nhà trường. Ở nhà, trong hoàn cảnh nghèo, mẹ tôi thường nhắc nhở anh em chúng tôi phải luôn giữ cái chất “bần tiện bất năng di” ấy. Đó là cái nhân cách căn bản được giáo huấn ở học đường miền Nam Việt-Nam, ở cái đất nước mà con người hiền hòa, chân chất, đơn thuần, vô tư không ôm hận thù, không biết cướp bóc, lừa bịp, đểu cáng vv. Đó chính là cái đất nước ở phía sau vĩ tuyến 17 kia.

Còn ở miền Bắc, cái đất nước trước vĩ tuyến 17 thì sao? Người ta dạy nhau cái gì ở nhà trường và ngoài xã hội? Người ta dạy nhau rằng “bần cùng sinh đạo tặc”. Hậu quả là sau 30- 4-1975, người Bắc Kỳ, tay cầm dao, tay cầm súng, tràn vào miền Nam điên cuồng giết người cướp của, hành động của “kẻ dã man thắng người văn minh” mà nhà nữ văn sĩ C/S Hà-Nội Dương Thu Hương đã nhận xét.

Sự thật đã chứng minh “con người ít nhiều là sản phẩm của xã hội”, vậy thì xã hội man rợ tất nhiên sản xuất ra con người dã man. Từ cái bản chất dã man này, tự nó, sinh ra tệ trạng sinh hoạt đầy tính chất nguy hiểm, độc ác, gian manh, quỷ quyệt khó lường v.v. Đó là kết quả tất yếu không cần lý giải.

Chỉ có một mẩu cá khô lấy trộm trong khi vận chuyển lương thực, ông chiến hữu của tôi miệng phải ngậm miếng cá đó, cổ đeo cái bảng viết hai chữ “ăn cắp”, đứng trước cổng trại suốt ba ngày! Miếng ăn quý hơn mạng người! Ông ngục sĩ Nguyễn-chí-Thiện khi còn sống đã nói rằng: “miền bắc thắng miền nam là do chế độ lương thực tem phiếu”. Ông đúng hay sai? Đây là câu trả lời: “Em xin anh, chúng em mà nói trên đài thì ở ngoài kia, cha mẹ và vợ con em sẽ bị cắt hộ khẩu, họ sẽ chết đói!”. Đó là lời của ba tên tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng ở Long-Khánh.

Tôi còn nhớ, ngày 3/9/1978, ngày giỗ “bác” Hồ của nhân dân bắc kỳ (2 nút), tại trại giam ở Yên-Bái, địa danh có cái tên nghe rợn người: “Ma thiên lãnh!”, tù nhân được nghỉ một ngày để chuẩn bị làm giỗ “bác”. Bàn thờ được trải khăn đỏ, sau bàn treo lá cờ to, trên bàn có hình “bác”, trước “bác” đặc biệt có một mâm hoa quả bằng hình vẽ mà trước đó, nguyên một ngày, ông tù nhân Lê-Thanh, họa sĩ kiêm điêu khắc gia có tiếng trong quân đội miền Nam “thua cuộc”, đã phải vẽ trên cả chục bản để ông cai tù trưởng trại lựa chọn.

Sau khi đã nhuần nhuyễn nói về tài thao lược và đạo đức của “bác”, trưởng trại để ý thấy tù nhân xì xầm về bức họa trái cây kia, ông bèn rất là trân trọng và tự tin nói rằng: “bác thường dạy “trong đấu tranh gian khổ, tính chất khắc phục là quan trọng”, cho nên khả năng “biến không thành có, biến khó thành dễ” là thành tích luôn được biểu dương, khen thưởng”!

Giỗ “bác” hôm nay, “bác” được ăn hoa quả giấy. Quả nhiên gậy “bác” đập lưng “bác”! Phần tù nhân, nghe xong chỉ thấy họ lặng im. Tôi đoán họ đang nghĩ đến nhờ ngày giỗ “bác”, bữa ăn trưa nay được tăng thêm trọng lượng.

Ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) nằm cạnh tôi kể chuyện anh: “Bọn công an (bắc kỳ 2 nút) cùng người giúp việc nhà anh, là chị đã xin nghỉ việc vài ngày sau 30/4/1975, đạp cửa bước vào và lớn tiếng hỏi anh: “lương lính, quân hàm thiếu tá, một tháng anh lãnh bao nhiêu? Anh trả lời chỉ vừa đủ sống cho hai vợ chồng và năm đứa con. Tên công an quát lớn: chỉ đủ sống thì làm sao anh có cái nhà to thế này? Đây là anh đã lấy của nhân dân, vậy bây giờ anh phải trả lại cho nhân dân. Anh có ba ngày để dọn ra khỏi căn nhà này.”

Một hơi thở dài, rồi một cơn ngủ thiếp của một ngày “chém tre, chặt gỗ trên ngàn, hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai” của ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) đã thay cho phần kết của chuyện kể mà tôi thiển nghĩ, những người dân miền Nam, cái đất nước ở sau con sông Bến-Hải kia đều đã biết cái số phận căn nhà đó ra sao.

Những ngày vừa qua, nhân lễ kỷ niệm 50 năm anh em Tổng Thống Ngô-đình-Diệm bị sát hại, vài đài truyền hình có chiếu lại hình ảnh của gần một triệu người bắc kỳ (9 nút) bồng bế, gồng gánh, mang theo những chổi cùn, rế rách, luộm thuộm dắt díu nhau lên con tàu “há mồm” xuôi nam. Sau đó họ được định cư ở những vùng xa, vùng xâu, hoang vu hẻo lánh, lập nghiệp. Mơ ước cư ngụ ở giữa thành phố ồn ào, xôn xao, đối với họ chỉ là hoài bão.

Thế còn 30-4-1975, bắc kỳ (2 nút) xuôi nam thì sao? Vai đeo súng, tay cầm dao, nghênh ngang tràn vào thành phố cướp của, lấy nhà, chiếm đoạt, chễm chệ ở trong những căn nhà lớn ngay giữa thị thành. Áp đẩy khổ chủ đến vùng xa, vùng sâu có tên gọi là “kinh tế mới”! Cái tư thế “chễm chệ” kể trên, mỗi ngày một phát triển lớn, tới độ, bây giờ 38 năm sau, gần như toàn thể những thành thị ở miền nam, trên những đường phố lớn, trong những căn nhà to, chủ nhân đều là bắc kỳ (2 nút). Như vậy, chẳng phải rõ ràng bắc kỳ (2 nút) không những chỉ thắng bắc kỳ (9 nút), mà còn thừa thắng xông lên, áp đảo luôn cả những nam kỳ chủ nhà, không nút nào hay sao?

Tên công an chính trị viên, phó trại giam, tốt nghiệp viện triết học Marx, trong đối thoại về chủ nghĩa Cộng-Sản, hỏi tôi rằng “chân lý có thay đổi không?” Tôi trả lời: “đã là chân lý thì không thay đổi”. Hắn cười.

Hôm nay, hắn đúng, tôi sai. Chân lý của Marx quả đã thay đổi. Thế giới C/S của Marx đã xây dựng gần một thế kỷ, hoàn toàn sụp đổ. Học trò của Marx đã chia tay ý thức hệ với Marx, lũ lượt bỏ chạy qua vùng đất tư bản, thấy của cải vật chất phong phú thừa thãi mà chóng mặt, hoa mắt nên làm càn làm loạn”. “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, gia sức trấn lột, cướp bóc, lừa bịp, điên đảo, tham nhũng bừa bãi, trơ tráo tới độ vô văn hóa, vô nhân tính.

Trở lại con số 9 nút (1954) và con số 2 nút (1975) mà người ta mệnh danh là bắc kỳ cũ và bắc kỳ mới, với những chuyện xảy ra ở trên một đất nước xa Hà-Nội tới ngàn dậm này: Đất nước Hoa-Kỳ.

Này chị kia, ở nước Mỹ chợ nào cũng có chỗ cất shopping- car, sao chị lại bỏ bừa sau xe của tôi?“ Cứ tự nhiên như ở Hà-Nội!, “Nhà tôi” (bắc kỳ 9 nút), bực mình la lớn. Hai bà (bắc kỳ 2 nút) tỉnh bơ, nổ máy xe biến mất. Còn lại là hai tôi, mỗi người đẩy một xe đưa vào chỗ cất.

Một lần khác, người bạn tôi kể rằng “Đi chợ, mua vội, tay chỉ cầm có hai gói cà-phê, đang xếp hàng chợt một chị bắc kỳ (2 nút) chen ngang vào đứng trước anh, anh phản đối thì chỉ hỏi lại: “xe của ông đâu?” Anh giận quá la lớn: “Đây là ở nước Mỹ, mua nhiều hay ít đều phải xếp hàng chứ không phải ở Hà-Nội của chị”.

Tại một nhà hàng, cháu gái của tôi cầm tờ biên lai tính tiền do bạn trai là người Mỹ trả, tới nói với người thâu ngân rằng: “chúng tôi gọi hai tô bún thịt nướng chứ đâu phải chả cá thăng-long mà tính nhiều thế này?” thì được thâu ngân viên buông gọn một chữ “nhầm”, rồi đếm tiền hoàn lại, không một lời xin lỗi. Tôi đoán chắc người Hà-Nội, chủ nhân (2 nút) tưởng Mỹ khờ khạo (đã bị bác và đảng đánh bại), nên mập mờ đánh lận con đen.

Trên đường về nhà, dọc hai bên đường, ở giữa lòng cái thủ đô có tên Little Saigon này, lác đác những căn nhà to như dinh thự mà người Hà-nội đã bỏ tiền triệu để sở hữu một cách ngạo nghễ, khiến tôi chợt nhớ đến ông chiến hữu bại trận của tôi năm xưa đã phải “trả nhà cho nhân dân” (nhân dân Hà-Nội), mà xót xa!

Tôi miên man tự hỏi, chẳng lẽ từ niềm tự hào “đánh thắng hai đế quốc lớn” của người Hà-Nội đang được thể hiện một cách ngang ngược, lỗ mãng, vô văn hóa ngay giữa cái thủ đô của người Việt tị nạn trên đất nước Hoa-Kỳ này đến vậy sao? Lý do gì họ có mặt nơi này? phần đất nơi cư ngụ cuối cùng, mà những người hoảng sợ đã phải bỏ nhà bỏ của để chạy xa họ? Tôi đang nghĩ đến người con gái bắc kỳ (9 nút) ở đất Hố-Nai Biên-Hòa năm xưa. Tôi ước ao được gặp lại cô ở nơi này, nơi cư ngụ cuối cùng của những người kinh hoàng, hoảng hốt bỏ lại quê hương, chạy trốn những kẻ bạo tàn! Tôi muốn lại được nghe cô nói rằng “Các anh hãy đi cho khuất mắt tôi, tôi đã sợ các anh quá rồi, chạy xa các anh tới nửa vòng trái đất mà các anh vẫn không buông tha!

Ông nhà văn Hoàng-hải-Thủy của miền nam cũ, mới đây cay đắng than rằng “Nếu một ngày nào đó trên đất nước Hoa-Kỳ này, giữa nơi ở của những người Việt tị nạn có phất phới lá cờ đỏ sao vàng thì xin cho tôi được chết trước!” Nghe mà xót xa cay đắng quá! Mong là con bài 2 nút sẽ không thắng ngược 9 nút thêm lần nữa!

Bùi Trọng Nghĩa/K18-BBTĐ

CA DAO XHCN

Cục đá mà biết nói năng
Dũng Hùng Sang Trọng hàm răng chẳng còn
Có gan ăn cắp chịu đòn
Đảng ta ăn cướp lại còn đánh dân
*
Đố ai đếm được lá rừng
Đố ai giết được Trọng Hùng Dũng Sang
Bốn thằng tứ trụ Việt gian
Để dân nước Việt hân hoan ăn mừng
*
Thu đi để lại lá vàng
Bác đi để lại một thằng họ Nông
Thằng này quả thật chơi ngông
Bảy mươi lấy vợ má hồng đẹp xinh
*
Bắc thang lên hỏi ông trời
Đánh tan cộng sản đợi thời nào đây
Ông trời ổng nói làm ngay
Sửa xong hiến pháp bó tay con à
*
Ngươi về nói với dân là
Nam Quan hải đảo đảng ta bán rồi
Nếu mà dân vẫn cứ ngồi
Ngày mai mất nước thành người Trung Hoa
*
Hò ớ ơ... Còn thời buôn nước bán dân
Hết thời đảng lấy dây thung bắn ruồi
Chưa tạc bụt đã nặn b...
Cái thằng y tá mà đòi dạy dân
*
Ngày xưa bác cũng đi tù
Thiếu ăn đói lở sưng vù con chim
Từ ngày đảng bác dựng nên
Trường học thì ít xà lim thì nhiều
*
Chiều chiều ra bến Ninh Kiều (Cần Thơ)
Dưới chân tượng bác đĩ nhiều hơn dân
Ai ơi chớ nghĩ mình đần
Đảng kia lãnh đạo cù lần gấp đôi
*
Ba cô nhập học đầu năm
Một cô bị bắt hầu Sầm Đức Xương
Mười ba đảng cũng làm luôn
Học theo gương bác chẳng buông em nào
*
Non kia ai đắp mà cao
Lương cộng sản ít cớ sao nó giàu
Hỏi Sang Trọng Dũng một câu
Đảng không suy thoái sao sâu cả bầy
*
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn không mất nước bỏ điều bốn ngay
Chơi dao sẽ bị đứt tay
Đảng đùa với lửa có ngày diệt vong

304Đen – Llttm - BK

Saturday, August 26, 2017

Hẹn Về Người Không Về - Thuyên Huy



Hẹn Về Người Không Về

 














Người hẹn tôi sẽ về bên phố cũ
Mùa thu sang cùng nhặt lá vàng rơi
Trải đường xưa gối tay chờ chuông đổ
Nói nhau nghe chuyện từ buổi xa người

 
Hôm người đi hạ sang mùa đầu ngõ
Phượng đỏ rưng màu mắt ướt sân trường
Bến xe chiều tôi tiễn người ngày đó
Còn lại đây một chút thoáng dư hương

 
Mùa sang mùa người vẫn xa biền biệt
Ghế đá xưa tôi lặng lẽ một mình
Đêm bên đèn đọc hoài thư người viết
Nhớ từng giòng như thuộc đoạn thánh kinh

 
Rồi cũng một chiều thu vàng góc phố
Người không về cùng nhặt lá khô rơi
Thu bỏ đi mang theo ngày tháng cũ
Đứng chơ vơ hồn tôi chết nửa đời

 
Thuyên Huy

Trễ chuyến tàu chiều tháng ba về Mebourne 2016

 

Mùa Huyết - Cung Tích Biền


 

 
MÙA HUYẾT



 

 01 

Trời đổ cơn mưa lớn. Một người đàn ông to cao, ngày trước vạm vỡ như một tên giác đấu, nay gầy guộc, lưng còng, người ướt sũng, dựng vội chiếc xe đạp ở hàng hiên. 

Buổi sáng Ông ra đi túi rỗng. Ngó quanh căn nhà sa mạc. Còn một chiếc áo mưa loại poncho nhà binh Mỹ để che mưa, Ông mang ra chợ trời chỗ Lăng Cha Cả bán được sáu đồng bạc. Uống ly cà phê đen năm hào, mua bao thuốc rê năm hào. Vị chi mất một đồng. 

Đói bụng dữ dội, nhưng Ông nghĩ là trong dạ dày đã có cà phê, trong phổi có khói thuốc. Hạnh phúc chán. Hai món ăn chơi đã có đủ. Vả lại thời bao cấp khan hiếm, trong ly cà phê đã có chín phần mười là bắp rang đen trộn vào. Ngũ cốc chớ bộ. Rất đỡ đói. Ông rất thèm thuốc điếu nhưng phải hít thuốc rê tự vấn. Thuốc điếu, nhãn hiệu Sao Mai, Lá Đỏ, chỉ toàn lá đu đủ khô mà thôi. Hút vài ba điều thì cần cổ bỏ cơm, bao tử thôi bóp. 

Vào nhà. Ông ta nhìn thằng Khúc. Chào chị vợ. Trao cho vợ năm đồng bạc, rồi phán: 

“Ngày mai trời lại sáng rồi.” 

Vợ hỏi:

“Sáng làm sao?”

Người chồng nói nghiêm chỉnh: 

“Ngày mai tôi đi làm lao công cho lò sát sinh.” 

Người chị vợ hỏi:

“Lý lịch dượng đen thui ai cho vào làm, dù đi rửa nhà tiêu?” 

“Làm nghề giết mướn mà chị.” 

Người vợ e ngại than thở:

“Anh lại sát sinh hả?’

Người chồng giải thích:

“Anh có nhiệm vụ kẹp cổ con bò cho người ta thọc huyết.” 

Vợ lơ láo nói:

“Gầy nhom còm sức đâu?”

Người chồng an ủi vợ:

“Yên chí, hôm nay anh thử việc rồi. Bốn thằng trai tráng kẹp bốn chân trước sau con bò, mỗi mình anh cầm hai cái sừng ghì chặt con bò vào giửa hai cây cột dọc, bò không nhúc nhích nổi. Thọc một dao to, sâu.” 

Ông ta ngồi xuống vấn một điếu thuốc , ngó mông ra nắng phố, rồi tiếp: 

“Em đừng lo, thời buổi này người gầy ốm xuống cấp theo cách người thì bò chó cũng còm nhom theo kiểu chó bò chớ. Có riêng gì người. Thần thánh chó bò tiên nữ chúa phật cũng nhất trí trơ xương.” 

Ông ta đi làm ở lò sát sinh được ba bốn ngày bọn trai tráng đã khen đáo để nghệ thuật chặn cổ bò. Ông thấy làm việc này mỗi ngày kiếm được một đồng rưỡi, khi công nhân viên nhà nước một tháng lương năm chục đồng, cũng không đến nỗi bất công. Nhưng ngặt một nỗi, ở chỗ lò mổ bò Tư Diêu, nay được đổi tên là Cơ sở GIẾT MỔ THANH NIÊN phục vụ thịt bò và xương lòng bò tươi sống, chẳng là lò mổ này do Đoàn thanh niên phụ trách. Ông ta vừa tởm vừa thương tâm cái cảnh tại lò mổ bọn trâu bò trào máu cổ, còn bọn trẻ nít với đám bàn bà chen nhau hốt thứ huyết thừa đỏ hoét chảy tràn lan trên nền xi măng pha lẫn đủ loại nước. Có khi nước kinh nguyệt đũng quần, nước đái bò. 

Đàn bà trẻ nít tranh nhau cái đo đỏ huyết bẩn này đem về nhà nấu một nồi cháo huyết mang ra đầu hẻm bán cho dân lao động kiếm đồng nát. Loại huyết bò pha lẫn với nước dội trên nền lò sát sinh này khi luộc chín nó có màu nhạt nhạt, lại mềm nhũn chứ không săn đặc như huyết nguyên xi. Đôi khi mùi thum thủm. 

Chẳng sao. Là công dân hạng hai, một ông giáo sư hôm trước hôm nay chạy xe ôm; một ông trung úy thương binh không phải vào trại tù, đang cà niểng chân gỗ lượm ve chai; hai ba ông nhà văn họa sĩ trải vài tấm khăn ni lông trên lề đường bán đồ lạc xon, tháo ráp xe đạp cũ, bán mớ sách may mắn chưa bị văn hóa phường gom đốt; một vài nhà tư sản bị kiểm kê tịch biên tài sản, buồn bã mang những vật sản cuối cùng ra ngồi với bạn bè nhìn lề đường thời đại mới. Bọn họ, mỗi sáng lót dạ, có khi thay bữa cơm chiều, bằng một tô cháo huyết bò pha lẫn kinh nguyệt năm mươi xu, cũng an ủi chán. Bọn công dân hạng hai này rất cao ngạo, lại bình thản, không ân hận chi. Thế thôi, ở thiên đình thì bè bạn với Nam tào Bắc đẩu, không may địa ngục phải thích ứng với quỷ ma. Bình thường chuyện nắng mưa lịch sử. 

Bọn hốt huyết thừa đều là chỗ vợ con hoặc thân thuộc với bọn thọc huyết. Nên bọn nhân viên ở lò sát sinh thường tìm cách hứng huyết vào chậu cho hợp tác xã nhà nước là ít, mà tìm cách cho rót đổ ra sàn nhà là chính. Cái lai láng đỏ tanh tưởi trên sàn nhà mới là cái sống của lũ con cháu nuôi dưỡng tương lai. Hốt đi con. Hốt lẹ lẹ rồi chuồn mau. Hôm nay mẹ con chúng mày có bạc cắc. 

Bọn nhân viên cắt chia thịt thường lén lút ném những mớ thịt tươi ngon vào các thùng rác, thùng đồ dơ; sau đó vợ con nhanh nhẩu lượm về bán cho các bệnh viện, hoặc các nhà hàng quốc doanh chuyên mua thực thẩm chui. 

Hôm nay trời nắng hay trời mưa đây? Mặc mẹ trời. 

 

 02 

Làm việc đến ngày thứ mười thì Ông ta suýt lâm nạn. Một con bò đực đã thoát khỏi dây trói, húc Ông suýt phèo ruột non ruột già. Vì lý do đó mà sau này bọn trai tráng vác búa đập chí mạng vào đầu con bò cho nó gục mới chọc cổ lấy huyết. 

Lúc con bò quậy phá,có một người đứng tuổi than phiền với ông chủ nhiệm hơp tác xã: 

“Sao không dùng cái ngòi điện như hồi chế độ cũ, châm một phát là điện giựt con bò lăn quay, ôm vật làm chi. Ta thắng đế quốc dễ dàng nhưng đâu dễ quật ngã một con bò điên. Bò- nguời biết ai thắng ai.” 

Chủ nhiệm tức tốc phê bình: 

“Sai quan điểm rồi. Lại bày đặt trò tư bản. Thành phố, nhà máy thiếu điện tràn lan, điện đâu ban ân huệ cho trâu bò. Chớ sức lao động vinh quang của con người để mần chi.” 

Nghĩ dưỡng thương vài tuần Ông xin vác xi măng ở bến cảng Sài gòn. Vác ngày hai đồng. Ngày có ngày không, tùy lượng tàu ghe cập bến. Ông đã từng thử sức mạnh vặn cổ một con bò – đương nhiên là bò dạng hưu trí, thôi kéo cày ở các nông trường – thì bao xi măng ăn nhằm gì. Nhưng ác nỗi, cái cầu nối từ thành ghe với cái bến sông không phải là cầu đúc, mà chỉ là hai tấm ván nối lại dài chừng ba bốn thước. Tấm ván nhịp xuống phùng lên, bề ngang chỉ ba bốn tấc, bên dưới là sông dài nước chảy, chỉ có chuyên viên bốc vác mới qua được – thì Ông không quen. 

Một chiều Ông trở về nhà người ướt sũng vì không giữ được thăng bằng nên cái xác phàm cùng bao xi măng vác vai rơi tõm xuống sông. Báo hại, bị đuổi việc, còn bị trừ lương đền bù vào bao xi măng chìm lỉm hư hao. 

Trong lúc thất nghiệp, một cái tin khá đột ngột làm Ông quẫn trí. Ba tháng trước một người em ruột đề nghị: 

“Anh cho thằng Phùng nó vượt biên với em. Phải có một đứa thoát làm vốn. Thằng Khúc còn nhỏ quá.” 

“Tiền của đâu? “

“Chỗ ruột rà em sẵn lòng giúp cho anh chị mà.” 

“Tiền tàu ghe, xăng nhớt, tiền hối lộ lo bến bãi đâu phải ít, chú lo sao nổi.” 

“Chu toàn cả rồi, anh chỉ cho tôi thằng Phùng là đủ.” 

Biển lặng. Nắng tươi. Tàu ra tới hải phận quốc tế mọi người ôm nhau vui mừng thì bất ngờ gặp hải tặc. Vàng bạc bị lột sạch. Đàn bà con gái bị hãm hiếp tàn nhẫn trước mặt người thân quen. Thằng Phùng giống cha, nó nổi máu hào hiệp đánh nhau với bọn cướp. Có chút võ nghệ Phùng đánh trả ra trò. Nhưng bọn cướp đã hành hình gã trai trẻ gan dạ ngay trên tàu. Chúng chặt Phùng máu me ra làm nhiều phần rồi ném cả xuống biển. 

Đêm đã trở nên dài dằng dặc. Hằng khuya Ông ra khỏi nhà sau mười hai giờ đêm khi vợ con đã yên ngủ. Ông đi quanh quất trong thành phố không bóng người, chỉ thỉnh thoảng một vài toán an ninh vác gậy gộc đi tuần tra. 

Sài Gòn tịnh vắng,

Sài gòn hòa bình,

Saigòn nhớ cha khóc mẹ.

 
Đã không còn tiếng súng pháo kích vọng từ ngoại ô vào. Không còn từng đoàn xe nhà binh tuần đêm trên đường phố. Không tiếng máy bay nào cất cánh trong đêm đi oanh tạc. Không có lịnh giới nghiêm nhưng không quán xá nào mở cửa giờ phút này. Giấc ngủ Sài gòn trở nên kỳ ảo, mộng mị. Như có nắng hoang đường giữa đêm dày. Như có tiếng gọi thầm từ những mảng tường rêu. Ê, ông già, Ông đen đen nhòa nhòa, xiêu xiêu vẹo vẹo thế này, Ông ma hay người? Đuờng phố rộng đầy bóng tối. Công viên bóng tối. Mười bóng đèn đường đã hỏng bốn, năm. Đập mẹ đèn công viên đi nào, tối trời tao kiếm chút cháo, đâu có khách sạn nào cho gái vào mà mần đĩ? Đói chết mẹ sức đâu chơi đĩ? Ủa, bọn công dân hạng hai rạt gáo thì bọn Hạng Một có ô tô nhà lầu, có tiền chơi, chúng cũng có con chim cu gáy vang, có bướm đa tình chớ bộ. Những hè phố rộng được đào lên trồng khoai lang khoai mì. Nhiệt liệt tăng gia sản xuất. Đêm sâu như huyền. Lòng Ông hoang phế. Ngồi chỗ ghế đá một lúc nghỉ chân đã bất ngờ nhận ra chung quanh đầy bóng tối và mùi phân người. 

Lại đứng dậy đi. Lại ngồi đầu ngõ một ngôi biệt thự thân quen nay chủ khác, là gia đình kẻ ở ngôi, đã vào ở. Ông đi dọc đại lộ Nguyễn Huệ, bước qua những viên gạch vỡ xưa kia bên trong Đêm Màu Hồng. Tiếng hát Thái Thanh trong màu trăng, xanh ngọc. Ly rượu nồng thơm đã hóa kiếp từ sau cửa khép. Ông ngồi bờ sông. Thủ thiêm bóng tối chìm. 

Trong đêm thâu Ông nhớ con bò gầy nhom bị thằng người gầy gò không kém, chặn hai cái sừng tội nghiệp cho người ta thọc dao vào cổ. Nó rung chuyển thảm thương rồi ngã uỵch. Đầu óc ông sau cuộc vật lộn với bò cũng đuối sức, tứ bề bỗng vàng tanh xây xẩm. Ông nhớ màu máu nhờn nhạt, pha lẫn đờm giãi, nước kinh nguyệt từ những cái háng ốm o, loang trên nền nhà, bọn trẻ nít dành nhau hốt vào cái thau nhôm méo mó. 

Một lúc bọn nhỏ cũng hình người đỏ lòm, lem luốc. Có thằng trượt ngã áo quần ướt đỏ trên cái nền Đỏ máu tưởng như mênh mông đến cuối trời. Ngã. Rồi cả lũ bò dậy. Bọn trẻ tiếc máu, vội vàng cởi áo vắt vội cái thứ máu bò lông cứt – như ta vắt cái áo ướt -vào chiếc thùng đựng máu. 

Ít ra, với máu này, mẹ nó cũng nấu được vài tô cháo huyết, kiếm đồng nát lúc cả thế gian quanh đây đói gầy. 

Hằng đêm đi mộng du quanh quẩn, Ông trở về nhà lúc rưng rưng chân trời màu hồng nhóm lửa. Ghé quán nước đầu hẻm uống năm hào cà phê. Năm hào thuốc rê. Mua cho thằng Khúc vài củ khoai lang. 

Thằng nhỏ luôn bụng rỗng. Nó thường thức dậy rất sớm. Ngồi nhìn mông lung phố buồn, đợi vu vơ ở bậc cửa. Đôi khi nó gặm bàn tay, nuốt thứ nước bẩn ngọt ngọt thay sữa. 

Người mẹ còm nhom nhóm một bếp lửa nấu gì đó tính sau. Đôi khi nước sôi, củi tàn mà Mẹ không biết mình có gì để nấu. 

 

03 

Đêm tới, lại rảo bước phố buồn. Ông nhớ vết thương xưa hãy còn lưu dấu một vệt dài khâu vá, thịt tím tím như con rết trên đùi vế. Ông vẽ ra một hình nhân anh hùng, nhưng cái huy chương vinh dự lại được gắn ở chỗ gần bộ hạ. Huy chương hình rắn rít. Nhớ đồi nương hoang tàn những mái tranh tro đen hóa thân trong chiều.Con suối mát đủ cho cơn khát và những bi đông nuớc đong đầy. Những cụm khói trắng từ chiếc L19 nhả ra lơ lửng không trung, báo hiệu những tràng pháo 105 ly sẽ bay tới mục tiêu. Đạn nổ chụp bung trăm mảnh từ cao, trên một xóm làng bên dưới, trong đất đã cài đầy mìn bẫy. Đã quen giữa mùa thù hận, những tín hiệu được báo, những tọa độ được xác định cần hủy diệt, những căn hầm, cả nhừng mái lều trẻ thơ. 

Một hôm đi quanh quất chỗ chợ trời Ông gặp một người bạn trước kia là một giáo sư, nay có gian hàng bán đồ lạc xon. Thời này khắp thành phố là chợ trời. Chỗ nào có thể tụ họp là có chợ trời hoặc hàng quán cà phê lề đường. Ông ngắm trong la liệt những món hàng cũ có một con dao găm trong một cái vỏ bằng bạc rất đẹp. Ông nhặt lên xem. Con dao găm sao mà dài, cỡ ba tấc bằng thép sáng loáng. Cán dao bằng bạc có hoa văn hình rồng giống như hoa văn trên vỏ bọc. Nó giống như một cây đoản kiếm. Ông hỏi người bạn: 

“Con dao như một báu vật vậy mà không có ai mua hà?” 

Nguời bạn cười trả lời:

“Ai mua cái ngữ này trong khi tiền không có để mua gạo mắm. Mà thà tớ biếu không cho người sành điệu, chớ bán thì phải bán giá theo giá đồ cổ thôi.” 

Người bạn cười nụ, nhìn con dao lại nói tiếp một cách đắc chí: 

“Có thể đây là cái đoản kiếm của một tướng lĩnh đi mở nước thưở nước non chúng ta còn bên Phiên ngung.” 

Ông cười, nói phiêu phiêu:

“Không chừng cái ngữ này đã từng đính trên thắt lưng của một tên Nhật lùn bên xác chết đói Bắc hà, hàng triệu xác xương la liệt Thăng long.” 

Sau cùng người bạn có đồng ra đồng vào chỗ chợ trời đãi Ông một tô cháo huyết năm mươi xu.Và biếu Ông con dao quý. 

Vừa húp cháo lõang, nhìn những miếng huyết nhạt màu trong tô cháo, ông nói: 

“Tớ biết trong cái tô cháo tanh loãng này có máu kinh nguyệt của đàn bà. Ta đang nhâm nhi kinh nguyệt.” 

“Nói kỳ?”

“Không kỳ quái chút nào. Tớ đã từng quần thảo trên cái nền máu cùng đám con trẻ thời thế và lũ đàn bà có máu, bất cứ ngày hay đêm. Con mụ đàn bà khi có kinh nguyệt, dù tắm rửa sạch sẽ cách nào, tớ cũng nhận ra. Đó là cái mùi thần thánh. Nó ngai ngái, lung lung.” 

“Thế Ông là Thánh trong nghề nhận ra Mùi.” 

“Phải đâu? Ta là sợi lông trong âm hao.” 

Lúc đó trong màu nắng tháng năm có dăm bảy anh nhà quê đắc thắng đi tham quan chợ trời. Ăn nói khoác lác bi bô. Bọn thiếu đói trong nhiều năm, rất lạ lẫm với máy móc, với xã hội vinh hoa, dừng lại trước cửa hàng lạc xon. Thấy cái máy xay tiêu nho nhỏ, vỏ ngoài có nạm bạc trắng xinh xắn, trên nắp có một cái tay quay i-nốc sáng loáng, rất lạ mắt, một gã cằm bạnh răng vẩu hỏi: 

“Cái máy này thu thanh à?”

Người lang thang chỗ chợ trời trả lời: 

“Đây là cái máy xay tiêu cho thành bột mà dùng.” 

“Ối giời tiêu với tỏi thì bỏ mẹ nó vào cối đá mà đâm chứ? Rõ tư bản bày đặt. Sao trong nam này nhiều cái máy tào lao thế nhỉ.” 

Húp hết tô cháo, lấy tay áo quệt ngang mồm chùi miệng, Ông được tặng đoản kiếm chào cảm ơn. Người bạn chợ trời, trước kia cũng đã từng đúng chỗ bục giảng trường đại học dặn dò: 

“Một cái đoản kiếm giết thế đéo nào cho hết bọn thú. Nếu hành sự phải làm một việc gì có ý nghĩa với con dao quý tộc này người anh em nhé.” 

“Trời đang mưa,

có bao giờ mưa kinh nguyệt.

Nhưng tiếng đàn bờ cỏ lối thơ 

đã rẩy màu

Kinh và Nguyệt” 

 
Cung Tích Biền

Cao Như Đảng - Đặng Vũ Hoài Nguyên


Cao Như Đảng

 

Tên của gã là Cao Như Đảng. Tên cúng cơm của gã là Cao Như Đảng. Trong
lý lịch gã đề tên Cao Như Đảng. Tức là đích thị trên đời có thật một
gã Cao Như Đảng.

Cao Như Đảng biệt tài làm thịt chó, thịt nhanh, nấu khéo, cả làng cả
xóm biết tiếng. Ngay cả chó dại, chó chết ốm, chó bị trẹt xe…, gã mà
đã nhúng tay pha thịt, ướp hấp, lúc dọn lên mâm vẫn ngon nhức.
Trong xóm nhà ai thịt chó cũng nhờ gã. Ủy ban xã khi nào tiếp khách
hay liên hoan, cần thịt chó, lại gọi gã. Bản lĩnh ấy khiến gã với mấy
vị trên Ủy ban thành thân tình. Dần dần người ta lấy luôn cái nghề của
gã gắn vào tên, gọi gã là Đảng Chó. Gã nghe vậy cũng chẳng lấy gì làm
phiền.

Một ngày, Cao Như Đảng mở quán thịt chó.
Hôm khai trương, gã mời cán bộ trong xã đến đánh chén. Rất vui. Nhưng
đang dở bữa, thì bí thư xã phát hiện ra cái biển trước quán đề THỊT
CHÓ ĐẢNG. Ông bí thư gọi Cao Như Đảng đến, quắc mắt: “Ông ghi thế này
là chửi ai?”. Cao Như Đảng nói: “Thì dân vẫn gọi em là Đảng Chó, các
bác trên xã cũng gọi em là Đảng Chó, thì giờ mở quán em làm biển thế
cho tiện!”. Bí thư bảo: “Lời nói gió bay, nói mồm với nhau không có gì
làm bằng, chứ ghi lên thế này thì mặt mũi đảng còn cái chó gì nữa?”.
Gã đành “dạ dạ…”.
Cái biển sau, rút kinh nghiệm, Cao Như Đảng đề: ĐẢNG THỊT CHÓ.

Bí thư xã đến ăn, nhìn biển mới, gật gật gù gù bảo: “Sửa thế này được,
để cái giống ấy sau chữ đảng, cho đỡ bị hiểu lầm!”.
Đang bữa, bí thư sực nghĩ, giật mình, mới quát: “Dỡ biển xuống ngay,
khẩn trương, phản động, muốn đi tù à?”. Cao Như Đảng méo mặt hỏi: “Cả
nhà nhà em toàn người ngoan và ngu, có biết gì mà phản động?”. Ông bí
thư hạ giọng, thầm thì: “Nước mình là một đảng lãnh đạo, cấm có cái
chuyện hai ba đảng, ông ghi thế này nhỡ ai hiểu là ông lập đảng đối
lập, thì toi!”. Cao Như Đảng bảo: “Chả nhẽ thằng bán thịt chó và mấy
thằng ăn thịt chó mà cũng bị thành đảng à?!”. Bí thư bảo: “Ai chả biết
thế! Nhưng cái nước mình nó thế! Mà thôi, tốt nhất thời này cái gì đã
đảng thì đừng chó, mà đã chó thì đừng đảng!”. Gã đành “dạ dạ…”.
Sau bữa đấy, Cao Như Đảng lại thay biển mới, còn đề mỗi THỊT CHÓ.

Nhưng lắm lúc gã tấm tức: đến cái giống chó còn đi không đổi họ, ngồi
không đổi tên, lúc biến thành thịt vẫn gọi là chó, chẳng nhẽ chỉ do
nước này có độc cái đảng mà thành mình phải kị húy, phải kiêng cả tên
cha sinh mẹ đẻ đặt cho, thì hóa chẳng bằng chó!"

 Đinh Vũ Hoàng Nguyên
*Đinh Vũ Hoàng Nguyên là một nhà văn mặc dù truyện ngắn của anh chưa
bao giờ được xuất bản. Hai truyện được biết nhiều nhất là Cao Như Đảng
và Nhà Cuối Ngõ đã đại diện được phong cách của Nguyên. Truyện thật
ngắn Cao Như Đảng yếu tố châm biếm nhẹ nhàng nhưng không dễ quên của
anh, có thể điển hình cho toàn bộ những gì mà anh quen thuộc:


Người chuyển bài - HNTN

Biển Sao Nở Đành Chia cắt - Vkp Đạm phương & Phản Hồi - Người Tiền Kiếp Hóa Thân


BIỂN SAO NỠ ĐÀNH CHIA CẮT
 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Đêm nằm thao thức  nhớ ai
Ngày xưa hai đứa sánh vai cổng trường
Bạn bè thương mến trách rằng
Lính  yêu như bướm lượn vành tìm vui
Nhất là lính biển đó thôi
Nhưng em đâu sợ biển đời chông chênh
Áo trắng chinh nhân bồng bềnh
Trên từng hoa sóng làm nền nhạc ru
Phụng Hoàng níu cánh Hải Âu
Luật khoa chờ đợi lâu lâu tàu về
Lá me rơi trên tóc thề
Tay anh ngượng ngập vụng về loay hoay
Vô tình chạm sợi tóc mai
Lòa xòa trên trán sợi dài sợi thưa
Thương yêu bổng chốc kéo ùa
Khiến đôi môi nóng xuống vừa mắt em
Uống say giọt lệ êm dềm
Rót vào tim lời thì thầm “anh yêu”
Nhưng rồi tàu phải nhổ neo
Lục bình héo hắt chống chèo phong ba
Lênh đênh trôi nỗi đảo xa
Sóng thần vồ vập nhạt nhòa bóng anh
Biển bao la... sao nỡ đành???

 
Saigon 15/8/2017
Vkp đạm phương

 

PHẢN HỒI TỪ NGƯỜI TIỀN KIÉP HÓA THÂN

 
Từ khi hạnh phúc bỏ quên
Bao năm xa xứ anh thèm nắng mưa
Hai mùa nóng rát mát vừa
Nồng nàn ấm áp say sưa quê mình
Ngày xưa lênh đênh đảo xinh
Anh mê hoa sóng trắng tinh rạng ngời
Biển và em dẫu hai nơi
Trái tim anh vẫn chia đôi gởi về
Máu tô đỏ ánh trăng thề
Chờ ngày gặp lại cận kề gối chăn
Ngờ đâu Trời chẳng tha Trăng(nguyệt thực)
Máu tuôn ướt đẵm cung Hằng lệ rơi
Bây giờ cuộc sống buông lơi
Tới đâu hay đó nổi trôi xứ người
Chỉ lo những ngày cuối đời
Có còn gặp lại nói lời yêu thương?
Lòng anh vẫn như Đại Dương
Em như sông chảy nước nguồn vào đây
Yêu em... dâng hết kiếp nầy!!!

 
Người tiền kiếp hóa thân

 

Wednesday, August 23, 2017

Nổi Lòng (Bài Xướng) - Ngô Đình Diệm & Nổi Lòng (Bài Họa) - Khôi Nguyên & Hạ Thái Trần Quốc Phiệt



Nỗi lòng

 














Gươm đàn nửa  gánh quảy sang sông,
Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không.
Xe muối nặng nề thương vó ký,
Đường mây rộng rãi tiếc chim hồng.
Vá trời lấp biển, người đâu tá?
Bán lợi mua danh, chợ vẫn đông!
Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế,
Cắm sào đợi nước, thuở nào trong?

 
Ngô Đình Diệm ( 1953 )

 
Bài Họa

Nỗi lòng

 

                         1

 
Biết mình trách nhiệm cứu non sông,
Cộng sự tới giờ vẫn số không.
Đất nước sục sôi cơn lửa đỏ,
Quê hương hừng hực cảnh than hồng.
Tìm người tâm huyết sao mà hiếm,
Tiếp kẻ cầu danh thế lạị đông.
Đã trót dấn thân vì Tổ Quốc
Phải làm nước đục trở nên trong.

                 
Khôi Nguyên

 

                       2

 
Hai vai mang nặng gánh non sông
Khởi sự bước đầu chỉ số không.
Chước khéo ra oai trừ giặc Bắc,
Mưu cao diệu võ chận quân Hồng.
Xây nền Dân Chủ trên trời Á,
Thiết kế Tự Do giữa cõi Đông.
Công ấy sử vàng ghi rõ nét
Ngàn sau danh tiếng vẫn còn trong.

 
Hạ Thái Trần Quốc Phiệt CA. USA. Nov. 1