Wednesday, September 4, 2019

Gặp Lại (Vườn Thơ Xướng Họa) - Kim Trân, Minh Tâm, Nguyễn Cang & Nguyên Triêu Dương


VƯỜN THƠ XƯỚNG HỌA

Chủ đề: Gặp lại

Bài xướng:

 
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TRĂNG RU ĐIỆU NHỚ

 
Bàn tay mềm mại nắm tay em.
Siết chặt yêu thương lẫn nỗi niềm
Một cánh hoa thơm bừng đón nắng
Vài nhành lan tím rực về đêm
"Dáng Hương Việt Quốc" còn nguyên vị
Toà Thánh Đài Thiên -dạ sáng thềm
Tao ngộ thi nhân- men đã thấm
Trăng ru điệu nhớ khúc tình em.

 
Kim Trân

 
Họa 1:

ĐÊM TRĂNG

Dưới ánh trăng vàng cảnh lặng êm,
Hồn thơ lay động biết bao niềm…
Nồng nàn, dạ lý mơn man gió,
Rạng rỡ, quỳnh hoa trang điểm đêm.
Thầm tiếc mây mờ che khuất núi,
Chạnh thương lá úa rụng loang thềm.
Ngâm nga thả tứ trau dăm vận,
Thấp thoáng gương hồ ngỡ bóng em.


Minh Tâm

 
Họa 2:

SAU ÁNH HOÀNG HÔN
 
Cảnh vật mơ màng bởi thiếu em
Bao nhiêu lá rụng bấy nhiêu niềm
Sao mờ, trăng lạnh thưa làn gió
Gác vắng, canh chầy rậm bóng đêm
Lay trước ngõ,   tigon trở giấc
Các đằng lả ngọn,   chạm bên thềm
Chiều chiều sau mỗi hoàng hôn ấy
Cảnh vật mơ màng bởi thiếu  em.

 
Nguyên Triêu Dương

Họa 3: 

 
MÙA VU LAN

Vu Lan thương mẹ nhớ đàn em
Mẹ vội ra đi thống thiết niềm
Một ánh hoa rơi đời cách biệt
Hai hàng lệ đổ lạnh sương đêm
Công cha nghĩa mẹ đè vai nặng
Dưỡng dục cù lao vọng trước thềm
Vu Lan lễ hội con dâng mẹ
Hoa trắng cài lên ngực áo em.

 
Nguyễn Cang

Cảm tác:

(Phụ bản bài thơ cảm tác, thể loại Điệp tự thi cách)

MỘT ĐÓA PHÙ DUNG
 
Phù dung tên gọi phù dung hoa
Trắng nuột trinh nguyên trắng nuột nà
Thơm ngát hương nồng thơm ngát dạ
Ngất ngây hoa thắm ngất ngây xòa
Yêu hoa rực nở yêu hoa thắm
Thương xót hoa tàn thương xót xa
Trần thế gian nan trần thế tạm
Tiếc xuân trong mộng, tiếc xuân hoa?!

 
Nguyễn Cang(2/9/2019)

Trăm Đắng Nghìn Cay - Bùi Đức Tính


Trăm Đắng Nghìn Cay
 
 
 
 

Xa xa tiếng đại bác vẫn không ngừng dội về.

Trời đã về đêm, tướng Lee cho lệnh dừng quân, đặt bản doanh bộ chỉ huy trong một cánh rừng, gần toà thị xã Appomattox, nằm vào phía Nam tiểu bang Virginia. Đây là một nơi hẻo lánh, có độ chừng 20 căn phố, chỉ vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán. Cuộc nội chiến Hoa Kỳ xảy ra trong hai nhiệm kỳ của Tổng thống Lincoln từ 1861 đến 1865, bắt đầu vào ngày 12 tháng 4-1861.Khi cuộc chiến Nam Bắc bùng nổ, nước Mỹ chia đôi. 11 tiểu bang miền Nam ly khai với 9 triệu dân và thêm 4 triệu dân nô lệ da đen. Chính phủ liên bang Hoa Kỳ còn lại 21 tiểu bang miền Bắc với 20 triệu dân.

Quân đội chính phủ liên bang Hoa Kỳ, do tướng Ulysses Grant chỉ huy, gọi là quân đội miền Bắc hay quân đội Potomac, lấy tên của dòng sông diễm lệ chạy qua thủ đô. Các tiểu bang miền Nam sống về canh nông, cương quyết đòi giữ lại chế độ nô lệ để khai thác cho nông nghiệp. Tổng thống miền Nam là ông Davis. Thủ đô là Richmon và quân đội do tướng Rober Lee chỉ huy được gọi là quân đội Virginia, hay quân đội miền Nam.

Sáu ngày trước, lực lượng của tướng Lee đã di chuyển không ngừng nghỉ về dãy núi Blue Ridge, nơi ông từng tuyên bố là quân đội của mình có thể kiên cường chiến đấu ít nhất là 20 năm. Thế nhưng, đêm nay, khi tướng Lee và Bộ Tham Mưu của ông quyết định đóng quân tại đây thì tất cả quan quân đều mệt mỏi, sa sút tinh thần. Tất cả hy vọng của tướng Lee lúc này chỉ còn đặt vào John Gordon, một vị tướng trẻ gan dạ. Hy vọng rằng, sáng sớm ngày mai, lực lượng của tướng Gordon sẽ tiến quân phá vỡ tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.

Khởi từ 5 giờ sáng, từng đợt tấn công của tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng sau đó, khi qua phía bên kia đồi, lực lượng này đã đụng phải hai đơn vị bộ binh dàn quân kéo dài hơn 2 dặm. Lại thêm, từ phía sau là hai đơn vị bộ binh khác đang tiến lên. Quân lính của tướng Gordon bị vây ép vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, không còn lối thoát nào cả.

Được tin thất trận của tướng Gordon, tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu để có quyết sau cùng. Trong Ban Tham Mưu có người đề nghị phân tán để giữ lực lượng và chuyển sang đánh du kích, nhưng tướng Lee chọn quyết định đầu hàng. Vị danh tướng của Hoa Kỳ trải qua bao nhiêu chiến thắng nhưng sau cùng đành chấp nhận thua cuộc và xin hẹn gặp nhau.

Nhận được thư chấp nhận đầu hàng của tướng Lee, tướng Grant rất vui mừng, chuẩn bị đón tiếp tướng Lee. Ông ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với vị tướng tư lệnh bại trận.

Trưa ngày lịch sử 9 tháng 4-1865, tướng Lee và một đại tá tùy tùng cưỡi ngựa vượt qua phòng tuyến đến nơi hẹn ước. Nửa giờ sau, tướng Grant đến. Ông tự tay thảo điều kiện về đầu hàng trao cho tướng Lee, như sau:

“ Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền, nếu họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.”

Gương mặt lo lắng của tướng Lee giờ tươi hẳn. Qua cam kết của tướng Grant, ông an tâm khi biết là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Họ cũng sẽ không bị bắt giữ và truy tố về tội phản loạn. Ông đồng ý với các điều kiện đề ra, nhưng trình bày: hiện nay quân đội của ông không còn lương thực và xin cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính của ông đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu; không như quân đội miền Bắc, ngựa do chính phủ cung cấp.

Nghe vậy, tướng Grant cho biết là không sửa chữa chính thức trên văn bản nhưng tuyên hứa là sẽ cho lệnh để lính miền Nam được phép đem lừa ngựa của mình về nhà mà xây dựng lại nông trại, tạo sinh kế. Ông cũng không ngần ngại hứa hẹn cung cấp 25,000 khẩu phần cho quân đội miền Nam.

Thi hành văn kiện đầu hàng đã ký kết, ba ngày sau, binh lính của tướng Lee đi trên con đường hướng về phía Đông rừng Appomattox. Hai bên đường có quân đội của tướng Grant nghiêm chỉnh dàn chào nghênh đón, do tướng Chamberlain, thay mặt tướng Grant, chỉ huy nghi thức tiếp nhận quân đội đầu hàng.

Tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, thừa lịnh tướng Lee, hướng dẫn toàn quân đến đầu hàng.

Không thông báo trước và ngoài nghi thức sắp đặt, tướng Chamberlain ra lệnh cho quân đội của ông thi hành nghi thức chào kính. Kèn lệnh vang lên, đoàn quân nghiêm chỉnh thi hành, tiếng báng súng đồng loạt vang lên.

Phía đối diện, tướng Gordon của quân đội đầu hàng, thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trân trọng chào đáp lễ. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua thế bồng súng chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”. Họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.

Buổi lễ và các thủ tục đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trao nộp trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược,…

Người chiến thắng cùng người chiến bại đều tôn kính lẫn nhau. Người đích thực chiến thắng năm 1865 chính là dân tộc Hoa Kỳ!

Chiếc GMC, loại quân đội dùng chở quân lính, dừng lại. Tấm bạt che kín người bên trong xe, mở lên từ phía sau. Ánh mặt trời buổi chiều bất chợt hắt vào những tù nhân bên trong xe, làm bàn tay đưa lên che vội bên trên khuôn mặt hốc hác nhễ nhại mồ hôi, đôi mắt hấp háy tránh né tia sáng chói chang và đột ngột. Hai bộ đội trẻ, rất trẻ, đứng canh chừng bên lối xuống xe, tay ghìm cây AK với lưỡi lê dài nhọn đe dọa.

– Cho xuống xe!

Cán bộ “quản giáo” rời buồng lái, tay đeo vòng cái túi vải qua bên trái, cho khỏi che vướng cây súng ngắn K54 đeo lủng lẳng bên hong, ra lệnh. Những người tù lếch thếch nhích dần ra phía sau và mỏi mệt lần lượt xuống xe. Chân rảo bước về phía sau xe, có vẻ chưa vừa lòng, hắn cáu kỉnh hét:

– Khẩn trương lên!

– A!

Bất chợt có tiếng người kêu lên. Hai cái lon sữa Guigoz cột đeo trên vai anh, rớt xuống, lăn lóc nghe loảng xoảng. Mớ nước uống còn sót trong lon đổ tuôn ra, nhuộm ướt lớp sỏi đất trên sân trại thành màu đỏ sẫm. Tiếng kêu thảng thốt, khe khẻ, nhưng đủ làm những người quanh anh cùng cảm nhận. Các bạn tù còn trên sân khựng lại, nhìn xem. Bàn tay trái của anh cầm chặt nơi cổ tay mặt. Mắt anh kinh ngạc nhìn ngón tay của mình. Lúc xuống xe, chiếc nhẫn trên ngón tay, không may, máng vào đầu cây đinh ốc bị tuôn và nhô ra bên ngoài thanh gỗ dựa lưng của băng ghế. Sức nặng của thân thể và tốc độ nhảy xuống làm vòng kim loại cắt và tuột trọn da thịt trên ngón tay của anh quá nhanh, trong chớp nhoáng. Cảm giác thật sự chưa kịp đến. Cái đau lúc này ít hơn nỗi kinh hoàng khi mắt mình nhìn thấy các lóng xương ngón đeo nhẫn phơi bày ra trần trụi.

Dùng lưỡi lê trên đầu cây AK ghim chọc vào giữa vòng kim loại đang nằm trong nhúm thịt và máu. Đưa chiếc nhẫn máng trên thân lưỡi lê lên xem:

– Báo cáo cán bộ: chiếc nhẫn này của “ngụy”!

Thực vậy, không cần phải đọc cho được hàng chữ “Trường Võ Bị Quốc Gia – Việt Nam”, quanh viên ngọc trên mặt nhẫn; hình ảnh con rồng uốn quanh cây kiếm và bản đồ Việt Nam, quá đủ để quân cộng sản nhận ra: đây là dấu hiệu liên hệ với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bây giờ, máu tuôn trào. Cảm giác đau nơi ngón tay lúc này thật sự là đau buốt. Nhìn gương mặt im lặng chịu đựng, của nạn nhân, viên cán bộ cay cú:

– Cực kỳ ngoan cố! … Cách ly nó!

Quay sang những người tù còn đứng gần đó, dợm chân, có ý muốn bước đến giúp đồng đội của mình, hắn gằn giọng:

– Cấm mọi quan hệ! Cấm cứu thương!… Không băng bó chi cả!

Anh bị giam riêng. Rừng về đêm giá lạnh, ngón tay không thuốc men hay băng bó càng thêm đau đớn. Cái đau đớn tận cùng không chỉ ở vết thương!

Đến trưa hôm sau, người ta đem anh ra xe và chở đi…

Sau khi quân cộng sản chiếm trọn miền Nam tự do. Những người lính miền Nam Việt Nam, những công chức, nhà văn, nhà báo và tất cả những thường dân bị nhà cầm quyền cộng sản kết tội có liên hệ với chế độ Tự do của miền Nam, đều bị tống giam vào các trại tù, dưới tên gọi là “trại cải tạo”. Ngay cả thương binh cũng không thoát khỏi chính sách trả thù hèn hạ, hiểm độc. Họ bị tống đuổi ra khỏi bệnh viện, bất kể tình trạng thương tích trên người, với vải băng bê bết máu kéo lê trên mặt đất dơ bẩn.

Năm 1975, Trung tá Vũ văn Sâm, phục vụ tại Trường Sĩ quan Bộ binh Long Thành. Ông bị cộng sản giam giữ tại Long Giao, rồi chuyển đến trại tù Tân Hiệp (Biên Hòa). Ở đây, nhạc sĩ Thục Vũ có sáng tác nhạc phẩm “Suối Máu” với 8 câu thơ cảm đề của chính mình:

“Em ở Sài Gòn anh ở đây

Đồi pha cát trắng kẽm gai đầy

Ngẫn ngơ dăm chuyến tàu xuôi ngược

Để nhớ nhung về che khuất mây

Tôi vẫn thường đêm thương nhớ con

Thương em tình nghĩa vẫn vuông tròn

Thương mình ray rứt từng đêm trắng

Thương bạn anh trong chuyện mất còn”

Cũng vì lời nhạc thương nhớ bày tỏ tình cảm của mình, người viết nhạc bị quân cộng sản đày đọa lên trại tù Sơn La, ở chốn rừng thiêng nước độc. Tại đây, Thục Vũ sáng tác thêm nhạc phẩm “Anh Ở Đây”; chỉ một thời gian ngắn bị giam giữ và gục chết cũng tại nơi đây, vào ngày 15/11/1976. Tấm mộ bia đơn sơ với đôi hàng nguệch ngoạc “Vũ Văn Sâm, 1932”, được bạn bè ghi lại, cắm làm dấu xác người tù bạc phận đã phải nằm lại tại trại tù Sơn La.

Người tù Sơn La Nguyễn Quang Tuyến, cũng là nhà văn Văn Quang.

Nhà văn Văn Quang được biết đến qua rất nhiều tác phẩm văn chương. Bốn tác phẩm được làm thành phim. Chân Trời Tím là phim có rất nhiều người biết đến, cùng các ca khúc như Nửa Hồn Thương Đau, Chân Trời Tím.

Sau năm 1975 ông bị bắt giam hơn 12 năm tù.

Trong bài “Mừng Cho Người Chết Trong Nhà Tù “Cải Tạo”, nhà văn Văn Quang có viết về cái chết của bạn tù Vũ Văn Sâm, tức nhạc sĩ Thục Vũ:

“Anh Tô Kiều Ngân không ở cùng trại tù với tôi, anh đi “lao động” bị ngã gãy tay, phải đưa về trạm xá gần trại giam tôi ở từ năm 1976 khi được đưa ra Sơn La “học tập”. Dịp đó, nhạc sĩ Thục Vũ, tên thật là Vũ Văn Sâm, ở cùng đội với tôi, anh bị đau gan đến vàng mắt. Khi bệnh tình quá nặng, Thục Vũ được đưa sang bệnh xá. Nói là bệnh xá, chứ ở đây cũng chẳng có thuốc men gì chữa chạy cho bệnh nhân. Thậm chí mỗi lần lên khám bệnh xong, anh y tá bôi cho tí dầu cù là vào tay rồi bảo về uống đi hoặc nằm ngửa cổ ra để “cán bộ y tế” nhỏ cho vài giọt nước củ tỏi vào mũi. Thế là xong. Bệnh nhân nặng chỉ còn việc nằm chờ chết. Thục Vũ cũng ở trong trường hợp ấy.

Một buổi sáng sớm, …

Tôi nhận ra ông Phan Lạc Phúc, khoác chiếc áo trây di cũng tả tơi “đồng bộ” với cái quần rách. Nước mắt ông Phúc chảy rất chậm trên mặt, ông nghẹn ngào cất tiếng:

– Thằng Sâm chết ở bệnh xá đêm qua rồi.

Tôi lặng người, bởi mới hôm qua, tôi lẻn sang bệnh xá thăm, Thục Vũ đưa cho tôi hai gói thuốc lào nhỏ, anh nói: “Tôi mệt không hút thuốc được nữa”. Ngồi nói chuyện vài phút, anh Tô Kiều Ngân ở trạm xá này cũng đến ngồi chơi. Tôi thấy Thục Vũ vẫn còn khỏe, vậy mà đêm qua đã ra đi.

Sau đó, anh Tô Kiều Ngân nói với tôi lời an ủi đúng nhất, ngắn nhất và cũng bi thảm nhất: “Mừng cho nó, từ nay nó không còn biết đói rét và không ai hành hạ được nó nữa”.

Đám tang Thục Vũ, hình ảnh bi thảm nhất trong cuộc đời chúng tôi.

Vào buổi chiều năm 1977, khi đồi núi Sơn La bắt đầu chạng vạng, bất chợt nhìn sang lối ra từ bệnh xá một khung cảnh hết sức đau lòng. Trên con đường đá cũ nhỏ, vòng theo sườn núi cao vút chập chùng, cách vườn rau là cái ao, đám tang bắt đầu di chuyển chậm chạp. Hai cai tù vác súng AK đi đầu, theo sau là một anh tù cầm vài nén nhang, đến 4 anh tù khiêng cỗ quan tài mộc, sau cùng lại là 2 cai tù vác súng AK. Suốt con đường dài âm u đó, chỉ có đám người ấy lặng lẽ chuyển động như những bóng ma.

Ở vùng đồi núi bóng tối đổ xuống rất nhanh, mang theo sương mù mỏng dăng ngang triền dốc dựng đứng như những bức tường đá của nhà giam thiên nhiên, chẳng cách nào thoát ra được. Chúng tôi biết chắc đó là đám ma Vũ Văn Sâm tức nhạc sĩ Thục Vũ. Tất cả hơn ba chục tù nhân trong đội đứng ngẩn ra, dán mắt nhìn theo cái đám ma thê thảm ấy. Ông Phan Lạc Phúc, đến bên tôi, không nói lời nào, quay mặt đi giấu nước mắt. Nhìn sang phía bên trạm xá, Tô Kiều Ngân và mấy anh bác sĩ trẻ cũng là tù, đứng sau hàng rào kẽm gai cũng ngơ ngẩn. Ngân vẫy tay cho tôi và anh Phan Lạc Phúc chẳng biết để làm gì. Là một sự cảm thông tận cùng hay nói lời từ biệt.

Mấy tay coi tù cũng đứng lặng, nhìn chúng tôi và họ hiểu rằng lúc đó dù bắt chúng tôi thu dụng cụ về trại cũng chẳng ai chịu về, dù có bị bắn tại chỗ. Tất cả đứng như tượng gỗ dõi theo đám tang đi trong buổi hoàng hôn lạnh ngắt, dần khuất vào cuối con đường cong phía chân núi. Sương mù bắt đầu tỏa xuống…

Hình ảnh cái đám ma Thục Vũ còn in đậm trong tâm khảm chúng tôi cho đến bây giờ. Tôi chắc anh Tô Kiều Ngân, đến cuối đời cũng chưa quên được hình ảnh này. Nó trở thành những kỷ niệm rất riêng nhưng cũng lại rất chung của những ai đã từng sống dở chết dở qua những cái được gọi là “trại cải tạo”.

“Ôi đời ta, ngờ đâu trăm đắng nghìn cay

Khúc sắn bát ngô vơi đầy

Sầu nuôi thân xác hao gầy

Bao ngày qua đợi chờ tin vui chẳng thấy

Hận thù yêu thương còn đấy

Vui đành như cánh chim bay” *

Cho đến nay, cứ đến ngày 30 tháng 4, đảng cộng sản lại thản nhiên tưng bừng ăn mừng ngày chiếm miền Nam tự do và gọi là Đại thắng mùa Xuân.

Hơn 40 năm qua, đã có hàng trăm hồi ký, truyện ngắn, truyện dài viết về trại tù “cải tạo” của cộng sản. Biết bao câu chuyện thương tâm đã được ghi lại trong Thân Phận Người Lính Gãy Súng, Xử Tử Tù Cải Tạo, Nữ tù nhân “cải tạo” ở Z30D, Những Người Tù Cuối Cùng, Núi Lạnh, Cuối Tầng Địa Ngục, Trại Tập Trung, Trại Kiên Giam,… và hãy còn biết bao câu chuyện không thể nào được kể lại trọn vẹn, hay chưa bao giờ được biết đến; vì người tù đã vùi thân xác đâu đó trong rừng hoang khi vượt trốn trại, hay trong các bãi chôn tù, như nghĩa trang Đồi Bà Then trên Cổng Trời. Hoàn cảnh khắc nghiệt tại trại giam Cổng Trời khiến tù nhân chết do bệnh tật, thiếu ăn, biệt giam hay lạnh giá hầu như xảy ra hàng ngày. Đồi Bà Then là cái tên mà người nào ở Cổng Trời đều biết. Nó là một mảnh đất nhỏ được dành làm nghĩa trang mà cán bộ trại giam luôn lấy làm biểu tượng để cảnh cáo những người tù cứng đầu nhất. Biết rằng: không ai thoát khỏi cái chết trong cõi đời này, nhưng người tù “cải tạo” phải chứng kiến và chấp nhận cái chết đến với mình. Chỉ riêng trại giam có tên là Trại Cổng Trời đã có quá nhiều hồi ký ghi nhắc đến.

Thảm cảnh đày đọa và chết chóc trong trại tù cộng sản đã được biết bao nhân chứng viết kể lại. Nhưng ngôn từ không thể nào diển tả trọn vẹn được nỗi đau đớn của họ cùng thân quyến. Nỗi đau của những vết thương nhục hình này không bao giờ lành được theo thời gian, sẽ còn đó mãi mãi cùng xương cốt của những người tù vẫn còn nằm lại trong các mồ hoang.

Anh ở đây!

Anh vẫn còn ở đây!

Chiều Suối Máu, chiều Sơn La,….

Chiều Việt Nam mưa vẫn rơi, mưa rơi nhòa nước mắt!

 

BÙI ĐỨC TÍNH

BK Tính 323

304Đen – Llttm - dsc

Tiễn Biệt - Nguyên Sa


Tiễn Biệt

 
 
 

 
 
 
 
 
Người về đêm nay hay đêm mai
Người sắp đi chưa hay đi rồi
Muôn vị hành tinh rung nhè nhẹ
Hay ly rượu tàn run trên môi

Người về trên một giòng sông xanh
Trên một con tàu hay một ga mông mênh
Sao người không chọn sông vắng nước
Hay nước không nguồn cho sông đi quanh

Sao người đi sâu vào không gian trong
Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông
Và sao lòng tôi không là vô tận
Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song

Người về chiều nắng hay đêm sương
Người về đò dọc hay đò ngang
Câu thơ sẽ là lời hò hẹn
Nhưng nói làm gì tôi xin khoan

Nhưng người về đâu, người về đâu
Để nước sông Seine bỡ ngỡ chảy quanh cầu
Sao người không là vì sao nhỏ
Để cho tôi nhìn trong đêm thâu

Sao người không là một cung đàn
Cho lòng tôi mềm trong tiếng than
Khi trăng chảy lạnh từng chân tóc
Khi gió se trùng muôn không gian

Sao người không là một con đường
Sao tôi không là một ga nhỏ
Mà cũng có những giờ gặp gỡ
Cũng có những giờ chia tan?

Người về lòng tôi buồn hay lòng tôi vui
Áo không có màu nên áo cũng chưa phai
Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ:
Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?

Nguyên Sa

(Paris, 1954)

 

Chuyện Con Vẹt - Cao Phương Thanh Nghi



ChuyỆN CON VẸt






Có một người đàn ông rất cô độc, sống âm thầm, nuôi con vẹt làm bạn.
Thuở nhỏ anh từng có ít nhiều kỷ niệm với loại chim biết nói này. Ừ. Để coi, hồi ấy anh là chú bé con với cái đầu hớt tròn ủm như gáo dừa, vâng lời bà ngoại đem xôi chè qua biếu bà Minh Sanh. Trước đây chú bé đã nghe lắm chuyện hoang đường về bà cụ gần trăm tuổi này, rằng bà sống một mình, ngày là người, đêm là quỉ, rằng bà thờ vong, nhang khói lù mù, trong nhà âm dương hỗn độn.
Nhà bà Minh Sanh cạnh lò bún, cuối con đường đất chui dưới vòm tre rợp mát. Chú bé cầm cái tay nải của bà ngoại, nhón chân nhìn vô cổng. Nửa cái nền nhà bị lún gần sụp bởi rễ của một cây me rất to. Cột kèo xệu xạo. Dưới gốc me có hai cái lồng chim và dăm chậu sành mẻ miệng. Tro trấu vung vãi. Mấy con gà lục cục đi qua đi lại. Chú cất tiếng gọi:
“Bà ơi… ”
Lập tức một tiếng nói lảnh lót không biết từ đâu vọng lại nghe mồn một rõ ràng:
“Bà ơi… có khách bà.”
Chưa kịp phản ứng thì một tiếng khác tiếp theo ngay:
“Ai nói gì đó?”
Chú bé hết hồn nhìn quanh quất. Ai vậy? Không có ai cả. Trong sân mấy con gà nghểnh cổ ngó lom lom. Mắt gà rất dữ, cần cổ lại đỏ lòm. Chú sởn gai ốc, lay lay cổng rào tre. Tiếng nói khi nãy lại re ré cất lên:
“Bà ơi… có khách bà.”
Lần này chú thất kinh hồn vía gần vãi đái trong quần, quăng bịch xôi chè xuống đất, co giò định chạy, thì từ gian nhà tối om om bên trong thò ra cặp mắt sâu hoắm, đổ ghèn và cái cần cổ dài ngoằng của bà Minh Sanh. Bà bỏm bẻm như đang nhai trầu:
“Ủa, nhỏ. Mày tới hồi nào? Vô đây.”
Mặt chú bé còn tái xanh tái vãi:
“Bà… Trong nhà có… ma.”
Bà Minh Sanh cười ngất. Bà ngoắc tay:
“Ma đâu mà ma. Bậy nè. Vô đây.”
Chú bé cúi xuống lượm cái tay nải, nhưng lắc đầu nguầy nguậy:
“Con không vô đâu. Con sợ lắm. Con nghe có tiếng người.”
Bà Minh Sanh cắt lời:
“Không có ai đâu. Làm gì có ai. Vô đây. Tao có mớ me chín. Để tao gởi cho bà ngoại mày nấu chua.”
Chú bé nắm chặt tay nải, đẩy cổng bước vào. Gió thổi rào rào trong tán lá me. Mùi nhang trong nhà bà Minh Sanh thơm bãng lãng.
“Bà ơi… có khách bà.”
“Ai nói gì đó?”
Lại hai cái tiếng khi nãy. Tiếng nói không rõ đàn ông hay đàn bà. Chú bé chụp tay bà Minh Sanh. Bà nói tỉnh queo như thể đang có ai bên cạnh.
“Biết rồi.”
Chú bé tái mặt:
“Bà nói với ai vậy bà?”
“Nói với hai con nhồng.”
“Nhồng nào đâu bà?”
“Thì hai con nhồng ở trong lồng đó. Mày không thấy sao?”
“Nó biết nói hả bà?”
“Nói còn giỏi hơn mày.”
“Sao nó biết nói vậy bà?”
“Nó nghe tao nói riết rồi nó nói theo.”
“Hay vậy bà.”
Chú bé mon men lại gần quan sát hai con chim. Con nhồng màu đen óng ả, cổ có khoang vàng, đứng lắc lư, cái mỏ trông như hột điều, trên đỏ dưới nâu quặp xuống bập bập thứ gì bên trong chẳng rõ. Rồi chú bật cười nghiêng ngửa. Hai con chim nói qua nói lại, tiếng nói lảnh lót không giống đàn ông, không giống đàn bà, nghe the thé. Một điều rất hay ở giống chim này là nó nói mà mỏ nó không hề mở. “Nó nói trong cuống họng mày ơi,” bà Minh Sanh bảo như vậy.
Ngày hôm sau chú trở lại. Chú ngồi hàng giờ bên hai con nhồng. Cặp mắt sâu hoắm, đổ ghèn và cái cần cổ dài ngoằng da thịt teo nhách lòng thòng của bà Minh Sanh không còn ghê rợn nữa. Bà lấy cơm cho con nhồng ăn, một phần cơm nửa phần ớt. Nó mổ lấy mổ để, rồi nó nói: “Bà ơi… có khách bà.” Con bạn của nó tiếp theo ngay: “Ai nói gì đó?” Ngộ quá. Chú mê hai con nhồng bù lăn bù lóc. Chú xin bà Minh Sanh cho chú đem hai con nhồng về nuôi. Chú hứa sẽ chăm sóc cẩn thận. Bà Minh Sanh nói: “Chừng nào tao chết tao cho mày.”
Chú chờ từng ngày. Chú hỏi: “Sao bà lâu chết quá vậy bà?” Bà Minh Sanh cười ngặt nghẽo, lớp da lòng thòng trên cần cổ rung rung giật giật. Nhưng bà Minh Sanh chưa kịp chết thì hai con nhồng đã lăn ra chết trước bà. Một con chết trước, con kia nhớ bạn buồn héo chết theo. Chú bé ngồi dưới gốc me bịn rịn với cái lồng không. Tiếng con nhồng văng vẳng nơi đâu cuốn những giọt nước mắt chú chảy dài. Chú kêu lạc giọng: “Nhồng ơi… Nhồng. Chiều muộn mà mày bỏ tao đi đâu, tao còn có một mình, nhồng ơi…”

Sau này lớn lên, không còn là chú bé nữa anh cũng vẫn một mình. Hình như cuộc đời cứ chơi xỏ anh. Con nhồng thời thơ ấu chưa nuôi ngày nào đã bỏ đi mất. Những người anh thương anh quí thì chỉ giữ được một thời gian rồi ai cũng trở mặt. Vết thương cứ khoét mãi không lành. Càng sống trải, càng chán chường, anh oán hận mọi người, tánh tình đâm ra hung dữ, độc đoán. Bạn bè mất hết không còn ai. Anh sống quạnh quẽ như bà Minh Sanh ngày xưa, làm bạn với con vẹt mà anh mua được ở chợ trời Chim “Cá” Cảnh.
Ngày hôm ấy chẳng hiểu do cơ duyên gì anh lang thang ra khu chợ đó. Một anh chàng mặt nhăn như khỉ đứng bán hàng. Những con vật có cánh đứng trong lồng kêu chét chét ầm ĩ, chẳng hiểu là đang cãi vã hay đang ca hát. Đám đông bu xung quanh. Anh dừng lại tò mò. Một con chim rất đẹp, lông nửa vàng nửa xanh, mắt viền đen, ướt rượt như ngấn nước, đang đứng trên cánh tay của người bán hàng với một chân bị móc vào sợi dây xích có những cái khoen bằng kim loại. Đút cho nó một con cào cào, nó mổ lấy ngay, cái mỏ bập bập trông thương quá. Anh nhớ con nhồng da diết. Người bán chim bảo:
“Mua đi anh. Bảo đảm hàng thiệt không sợ giả. Không thích miễn trả tiền. Con vẹt này biết nói giỏi lắm. Anh nói gì nó lặp lại y chang. Đây nè, tui biểu diễn cho anh coi.”
Anh bán vẹt chụm môi nói:
“I love you.”
Con vẹt lập tức nói liến thoắng:
“I love you.”
Anh ta nói tiếp:
“I miss you.”
Con vẹt tức khắc lặp lại:
“I miss you.”
Anh khoái chí quá, vỗ tay cười khanh khách, không cần trả giá, mua ngay con vẹt đem về nhà. Nhớ lời người bán hàng anh cắt cánh con vẹt để nó không bay đi đâu được xong tháo sợi dây xích dưới chân nó. Con vẹt lẩn quẩn trong nhà như đứa bé. Anh tưng tiu con vẹt như báu vật, cho phép nó nhảy lưng tưng từ trước ra sau, muốn làm gì làm, muốn phá gì phá. Con vật bươi mổ tùm lum nhưng anh chẳng bao giờ phiền lòng. Mỗi ngày đi làm về anh lấy các loại hột bông hột cỏ cho nó ăn, thay nước sạch cho nó uống, mua nang mực cho nó mổ kẻo nó buồn, rồi anh trò chuyện với nó. Anh bảo:
“I love you.”
Nó nói ngay:
“I love you.”
Anh nói tiếp:
“I miss you.”
Nó tức khắc lặp lại:
“I miss you.”
Ruột gan héo quắt của anh như được tưới một trận mưa rào. Ôi, dễ gì có được những lời êm ái đó trong cái biển người lợt lạt này. Anh không cần cầu cạnh ai, không cần qui lụy ai nữa. Vẹt ơi, mày hơn bọn chúng gấp trăm gấp ngàn lần, những thằng người ấy. Bọn chúng không đáng bằng cái móng chân của mày. Tao chỉ cần có mày trên đời là đủ. Con vẹt nghiêng nghiêng đầu, quẹt quẹt mỏ. Nó nhảy (vì không thể bay) lên bàn tay của chủ, rồi nhảy lên vai, lên đầu chủ. Anh để yên cho nó lộng hành. Vì là vẹt nên nó không hiểu tại sao con người lại mê cái ảo hơn cái thật, chuộng cái giả hơn cái chân. Và cũng vì là vẹt nên nó không hiểu rằng dù được tẩm bởi những lời mông muội của nó, nỗi cô đơn trong anh vẫn chẳng tiêu tan, tựa cây kim dắt ở lưng quần cứ khom lên khom xuống là đâm nhoi nhói vào da thịt.
Vào một đêm mưa đổ tuyết lạnh, anh rũ người trên chiếc ghế bên lò sưởi. Hình bóng người thân hiện ra lãng đãng như khói mà cũng cay sè như khói. Gian nhà lạnh lẽo không có ai. Cạnh bên là con vẹt. Nó đứng cú rũ. Lông nó xười lên như những lúc nó bệnh. Chủ nó hình như không buồn nghe những gì nó nói. Anh thèm nghe tiếng của một người.
Chợt anh ngồi bật dậy, thảng thốt giật mình. Hình như có ai vừa gọi cửa. Tiếng gõ cộp cộp mỗi lúc một thôi thúc, dập dồn. Ai? Còn ai tới tìm tôi giờ này? Anh xoay nắm đấm cửa hé ra nhìn. Dưới trời tuyết, anh nhìn thấy cô gái mà anh thuê đến lau chùi nhà cửa mỗi tuần một lần đứng co ro trước bậc thềm, tay bưng cái hộp khá to. Cô mặc cái áo khoác đàn ông mà anh đã vất đi trong đống đồ cũ, choàng chiếc khăn sờn, mấy đầu ngón tay ló ra trong cái găng thủng lỗ. Anh cau mày hỏi:
“Cô đến có việc gì? Tuần sau mới tới ngày làm việc của cô mà.”
Hai môi cô gái tím tê vì lạnh nhưng vẫn hé nụ cười. Cô có vẻ bẽn lẽn:
“Ông chủ. Ông không nhớ hôm nay là ngày gì sao. Sinh nhật của ông. Em có cái này mang đến cho ông.”
Anh mở cửa mà không khỏi ngạc nhiên. Cô này làm việc cho anh gần tám tháng nay, lau chùi tẩn mẩn khắp trong ngoài vì con vẹt bài tiết bừa bãi bất cứ chỗ nào. Cô ấy, cũng như bất cứ ai, không còn moi được ở anh sự cảm động nào trừ một lần anh bệnh, cô tự ý nấu cháo, lột cam cho anh ăn, trả tiền thì không nhận. Không lẽ… Cô gái bước vào với dáng vẻ rất ân cần, đặt cái hộp lên bàn và mở nắp. Một cái bánh kem được trang hoàng rất xinh xắn hiện ra với hàng chữ chúc mừng. Anh ngó cô gái, ngó chiếc bánh và tự nhủ, không lẽ số phận lại sắp chơi khăm ta một lần nữa hay sao. Anh nhún vai nói:
“Cám ơn cô. Phiền cô quá.”
Cô gái có vẻ lúng túng. Cô nói:
“Không sao cả. Ông chủ có diêm quẹt không? Ông có muốn đốt nến rồi ăn bánh hay không?”
Anh thoáng trù trừ. Cô gái này đang làm trò khỉ gì đây? Trên đời chẳng còn ai tốt với ta nữa đâu, trừ con vẹt. Cô gái dợm quay đi:
“Xin lỗi ông. Em đến trễ quá vì lỡ một chuyến xe. Chắc không tiện.”
Anh đưa tay ra giữ lại. Thật ra anh hoàn toàn không làm chủ cái cử chỉ đó của mình.
“Không sao đâu. Không có gì bất tiện cả. Được rồi. Tôi đi lấy diêm đây. Cô chờ chút nhé. Tôi có chai rượu dưới hầm. Tôi xuống lấy rồi đem lên ngay. Cô làm tôi bất ngờ quá.”
Anh xuống nhà dưới mở tủ lấy hai cái ly, chai rượu và hộp diêm, rồi trở lại phòng khách. Cô gái vẫn còn đứng. Mặt cô đã hồng hào vì hơi ấm trong nhà. Anh thắp đèn khắp phòng và vặn thêm sưởi. Anh nói nhanh vì xúc động:
“Tôi không ngờ còn có người nhớ đến tôi ngày hôm nay. Cô ngồi xuống đây đi. Tôi… tôi sẽ mở một đĩa nhạc, chúng ta cùng nghe và cùng uống rượu ăn bánh nhé.”
Tia sáng trong mắt cô gái lung linh múa lượn với ngọn lửa đang nhảy nhót trong lò sưởi:
“Hôm trước em tình cờ nghe ông nhắc tới ngày sinh nhật của ông. Em muốn chúc vui cho ông.”
Anh đưa tay nắm lấy bàn tay nhỏ còn chưa tan cái khí lạnh của trời tuyết:
“Cám ơn cô nhiều lắm. Tôi… Đã lâu rồi… Tôi chỉ có một mình… À, quên nữa. Tôi lấy rượu mà quên lấy đồ khui. Cô chờ chút, tôi đi lấy cái đồ khui, tôi trở lại ngay.”
Rượu chưa uống mà anh đã thấy hoan lạc mỉm cười với mình từ xa, lâng lâng, phơi phới. Anh không nhớ cái đồ khui nằm ở đâu. Đã lâu trong nhà không hề có một người khách, không hề có một bữa tiệc rượu nào. Anh xuống bếp mở hết ngăn kéo này tới ngăn kéo khác, trèo lên ghế lục tung các thứ lỉnh kỉnh trong những cái hốc đầy bụi mà vẫn chưa thấy vật muốn tìm.
Bỗng anh khựng lại. Anh vừa nghe những tiếng náo động ở nhà trên. Hình như có tiếng con vẹt kêu “ét” “ét” lanh lảnh và những tiếng đập bốp bốp. Anh hoảng hốt tuột xuống ghế hộc tốc chạy lên nhà trước. Coi kìa. Con vẹt. Trời ơi. Con vẹt đang đứng co rúm trong góc nhà, lông nó rụng lả tả, hai mắt nó đầy vẻ khiếp sợ. Còn cô gái. Cô ta đang cầm tờ báo cuộn lại trong tay. Hình như cô ta vừa đánh nó thì phải. Anh hỏi giật giọng:
“Cô đang làm gì vậy? Có phải cô vừa đánh nó không?”
Cô gái ấp úng. Cô chỉ vào cái bánh:
“Con vẹt. Nó tới mổ vào cái bánh. Em chỉ xua cho nó đi.”
Anh phừng lên giận dữ:
“Cô nói dối. Cô không đánh nó sao nó kêu thét lên như thế. Lông nó lại rụng đầy nhà thế kia. Cô đã làm gì nó chớ? Cô có biết là nó thương tôi và tôi thương nó hơn mọi thứ trên đời hay không?”
Giọng cô gái lạc đi:
“Con vẹt thương ông? Nó nói thương nhưng nó có hiểu gì đâu. Đó là những lời thốt ra từ cuống họng, không phải từ trái tim.”
Anh vung tay quát:
“Vậy chớ trong tim có cái gì? Bã mía hay vỏ đậu phộng? Thây kệ nó. Dù sao nó cũng chân thật hơn mấy người. Nó không biết giả dối đâu.”
Cô gái xám hết mặt mày. Cô gần khóc:
“Ông chủ. Xin ông bớt giận. Con vẹt này cũng quá đáng lắm. Nó mổ vào cái bánh. Nó còn phịch lên đó nữa. Ông xem đi.”
Anh hét vào mặt cô gái:
“Nó phịch vào cái bánh thì vất cái bánh đi.”
Cô gái sững sờ nhìn người đàn ông. Cô thấy mình đã bị tổn thương.
“Ông… Ông coi trọng con vật còn hơn con người.”
Như ngọn núi lửa đang trào ra sùng sục, người đàn ông gào lên:
“Cô nói cái gì? Tôi coi trọng con vật còn hơn con người à? Đúng như vậy đó. Rồi sao. Cô có biết là con vật này còn hơn bao nhiêu người khác. Thằng anh khốn nạn của tôi đó, nó bài bạc sạch túi rồi vơ vét hết tiền của tôi. Nó còn chửi tôi, còn bôi xấu tôi với mọi người. Còn thằng bạn trời đánh của tôi, tôi đã cứu vớt nó ra từ trong tù, đưa nó về đây, giúp nó làm lại cuộc đời thì nó đã phản tôi, cuỗm lấy vợ tôi và hại tôi bằng đủ trò bất lương. Thế đấy. Bao nhiêu đó đủ chưa? Còn cô. Cô tới đây làm gì? Tôi không mời cũng không thỉnh. Cô bày ra cái trò này để mà mắt tôi, để đùa bỡn với trái tim thương tật của tôi để rồi có ngày cô bóp nát nó ra như bọn người kia à. Tôi không còn là cái thằng đần độn mười mấy năm trước nữa đâu. Đi đi. Cô cút xéo khỏi nhà tôi ngay. Cô không đáng bằng một sợi lông măng của con vẹt. Cút.”
Nói xong anh giật tung cánh cửa, quăng cái bánh thật mạnh ra ngoài và đẩy cô gái ngã chúi xuống thềm một cách thô bạo. Cô gái khập khiễng cái chân đau, vừa chạy vừa khóc, ném lại anh cái nhìn căm phẫn.
Tuyết vẫn đổ dầm dề. Anh đóng sầm cửa lại, quay trở vào nhà và có cảm tưởng như mình là một cái xác lạnh ngắt vừa được lôi lên từ dưới mồ. Trên bàn con vẹt đứng ngây ngô tròn mắt nhìn anh. Nó đưa mỏ rỉa rỉa hai cánh bị cắt cụt của nó. Anh xé cái khăn giấy lau sạch những chỗ kem vấy bẩn trên mấy ngón tay đoạn vuốt đầu nó:
“I love you.”
Con vẹt lập tức lặp lại:
“I love you.”
Anh mỉm cười nói tiếp:
“I miss you.”
Nó tức khắc nói theo:
“I miss you.”
Anh bỗng nổi khùng lên. Anh đấm mạnh lên bàn và quát con vẹt như quát thẳng vào cái trò hề đê tiện của chính mình:
“Đồ chó.”
Con vẹt khiếp đảm thụt lùi. Nó chưa bao giờ chứng kiến chủ nó trong trạng thái điên cuồng như vậy. Nó run lẩy bẩy, rúm ró như bị thương. Hai mỏ nó lập bập, mếu máo lặp lại một cách yếu ớt:
“Đồ chó.”
Người đàn ông phá lên một tràng cười trơ trẽn. Anh đã chán cái trò nhại đi nhại lại của nó. Anh xỉ vào mặt nó:
“Đồ con vẹt.”
Đang khúm núm vì sợ hãi con vẹt bỗng bật mạnh lên như cái lò xo. Những mạch máu li ti trong mắt nó phình ra, vằn tia lửa. Ngực nó ưỡn về phía trước, mắt long lên sòng sọc, hai cánh bị cắt giương ra cái chỗ còi cụt . Mớ lông tơ nửa vàng nửa xanh viền quanh cổ nó dựng đứng lên cả. Những cái móng của nó dài ra, bén ngót, cấu từng bước xuống mặt bàn, sấn lại sát bên người chủ của nó. Nó đưa cái mỏ cứng dí vào mặt chủ và phun ra những tiếng đanh, gọn với tất cả sự khinh khi ngạo mạn:
“Đồ con NGƯỜI.”
Nhớt nhao trong miệng con vẹt bắn cả vào mặt người đàn ông. Anh ngã ngửa trên ghế, loạng choạng mất thăng bằng, tuột nhào xuống nền gạch, hai tay chới với khua bấn loạn. Con vẹt hẳn còn chưa vừa lòng. Nó dồn hết sức lực và, không thể diễn tả đó là lòng căm giận hay sự khinh bỉ, nó tiếp tục xối xả một tràng những tiếng the thé của nó:
“Đồ con người. Đồ con người. Đồ con người…”

Cao Thanh Phương Nghi

8/2011

304Đen – Llttm - OVV

 

 

Thương Về Tây Ninh (Họa Thơ Nguyễn Cang) - vkp Phượng ngày xưa


HỌA THƠ NGUYỄN CANG

 

THƯƠNG VỀ MIỀN TÂY

 
Trời chiều mưa đổ nhớ Tiền Giang
Sông nước miền Tây lúa trỗ vàng
Bìm bịp kêu chiều con nước lớn
Chàng bè vỗ cánh bến đò ngang
Nhà ai  bếp khói mây lơ lửng
Buổi tối mâm cơm trẻ rộn ràng
Lắt lẻo cầu tre qua mấy nhịp
Có cô thôn nữ đợi đò sang.


 
Nguyễn Cang

 
THƯƠNG VỀ TÂY NINH




 








Mưa Saigon nhớ Mưa Cẩm Giang
Tràn ngập ý thơ phổ nhạc vàng
Đêm nay nhớ nửa trăm năm trước
Con đò Bến Kéo vội sang ngang!
Tưởng mất nhau sau lần đưa tiển
Nào ngờ gặp lại thấy rộn ràng!
Ai còn nhớ Tây Ninh nghèo khó?
Quê hương mình giờ cũng vinh sang!

 
vkp phượng ngày xưa

 
LỜI TRÂN TÌNH:
Tui học đòi họa thơ nhưng chỉ dám họa bài trên các blog thân hữu... Chắc chắn có nhiều sơ sót..., mong quý ACE chỉ giáo giùm. Rất cám ơn. vkp