Tuesday, March 29, 2016

Mua Áo - Đông Hồ


Mua Áo




 
 
 
 
 
 
 
 
"Chiếc áo năm xưa đã cũ rồi,
Em đâu còn áo mặc đi chơi.
Bán thơ nhân dịp anh ra chợ,
Đành gởi anh mua chiếc mới thôi!

-- Hàng bông mai biếc màu em thích,
Màu với hàng, em đã dặn rồi.
Còn thước tấc, quên! Em chửa bảo:
Kích tùng bao rộng, vạt bao dài ?

-- Ô hay! Nghe hỏi mà yêu nhỉ!
Thước tấc anh còn lựa hỏi ai
Rộng hẹp, tay anh bồng ẵm đó,
Ngắn dài, người mới tựa bên vai!"

 Đông Hồ

Một chút về thi sĩ Đông hồ

    Một trong những nét đẹp nhất và cũng đặc biệt nhất trong đạo Nho, không thấy trong các triết học khác là gây được cái truyền thống tiến vi quan, thoái vi sư.
Học là để tu thân, là để giúp nước bằng “chính” và “giáo”. Gặp thời loạn không thể thi thố tài đức để cứu dân được thì trở về dạy dân. Do đó ngành giáo và các thầy đồ vẫn được ưu tiên quý trọng.

Trong số các thày đồ , thì thi sĩ Đông Hồ được giới văn học cảm mến đặc biệt, vì ông tuy là người Minh Hương thế mà lại rất nặng lòng với tiếng Việt.

Đông Hồ mồ côi từ nhỏ được ông bác là cụ Hữu Lân dạy dỗ. Cụ Hữu Lân văn hay chữ tốt lại rất chuộng thơ Nôm, sưu tầm được nhiều trong đó có tập Song Tinh Bất dạ mà Đông Hồ đã phiên âm. Mới 15,16 tuổi ông hâm mộ Phạm Quỳnh qua tạp chí Nam Phong và chịu ảnh hưởng của tờ báo này. Năm 20 tuổi ông làm xong bài Phú Đông Hồ được báo Nam Phong đăng và ca tụng. Từ đó ông thường xuyên góp bài, và trở thành kiện tướng trong làng báo Nam Phong. Đây là một điều hiếm thấy vì ban biên tập Nam Phong toàn là cây viết gạo cội miền Bắc.

Ngoài ra ông cũng chịu ảnh hưởng mạnh của văn hào Ân Độ Rabindranah Tagore, người được giải Nobel văn chương. Nhờ đọc Nam Phong, ông biết được Tagore đã dùng tiếng Bengali mà sáng tác nhiều tập thơ bất hủ, trong đó Tagore phát biểu :
“Có học tiếng mẹ đẻ thì chúng ta mới vỡ trí khôn ra được” càng làm ông vững tin chủ trương của mình.

Ông nối chí phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, mở Trí Đức học Xá dạy Việt ngữ, có những học sinh ở xa, ông dạy hàm thụ theo lối gửi thư, mà tiêu đề in trên đầu trang là :
Ríu rít đàn chim kêu
Cha truyền con nối theo,
Huống là tiếng mẹ đẻ
Ta lẽ nào không yêu ?


Đúng ngày 1 thang 3, 1969, ông ngất đi trong lúc ngâm bài thơ về hai Bà Trưng, giữa giảng đường Văn Khoa , và mất đi trong cánh tay môn sinh. Đúng như câu của Lương Khải Siêu , “Chiến sĩ tử ư sa trường, học giả tử ư giảng toạ”.

304Đen - Llttm

Tạm Biệt Em Yêu - Hồ Nguyễn & Người Yêu Ơi Tạm Biệt - Nguyễn Cang (Phỏng dịch bài Farewell My Love - Joanna Fuchs)



TẠM BIỆT EM YÊU

 









Phỏng dịch bài Farewell My Love của Joanna Fuchs,


Có phải tình ta đã kết rồi?

Làm sao nói được nghĩa chia phôi?

Tình ta vụt thoát em thơi thả,
Nhưng trái tim anh nấc nghẹn rồi.


Ta đã bên nhau đượm thắm tình,

Nay lìa đôi ngã vẫn không tin.
Em về vui sống bên duyên mới,
Xé nát tim anh cắt bóng hình.
 
Tương lai anh sẽ thế nào đây,
Đừng bận tâm chi kẻ khổ nầy.

Anh có đau thương..không trách hận,
Em đi, anh đổ lệ đong đầy.

 
Anh chẳng cuồng điên khi đã yêu,
Vì yêu anh chẳng bận muôn điều.

Yêu em anh vẫn tin mình đúng,
Chúc em hạnh phúc mãi! Em yêu!

                                  
HỒ NGUYỄN (23-3-16)
 
NGƯỜI YÊU ƠI TẠM BIỆT


Có phải tình ta giờ hết rồi?
Cho nên đến lúc phải chia phôi?
Bất ngờ ập đến như cơn lốc
Em mỉm cười, tôi mặn bờ môi!

Mình đã trao nhau thắm thiết tình
Nay đành dứt bỏ, anh không tin
Em vui duyên mới quên người cũ
Đập vỡ tim anh nát bóng hình



 Mất em rồi hồn tôi chơi vơi
Đau khổ trần ai,mặc kệ tôi
Chia cách nhau, tôi nào oán hận
Em quay đi mắt lệ tôi rơi?!


Anh không điên dại khi yêu em
Anh giấu đau, em chẳng nói thêm
Hạnh phúc ngọt ngào anh mến chúc
Vẫy tay chào, nức nở trong tim!

 Nguyễn Cang (3/26/16)

 Farewell My Love

Is it really true our love is over now?
Can it be time for us to say goodbye?
Too soon, it's much too soon, my love, for me;
You smile with ease, but I can only sigh.

We've shared our lives and given so much love;
I can't believe we're really going to part;
You're moving toward a new life without me;
I'm left with scars upon my broken heart.

Go on now, if you must; I'll get along;
How much it hurts, I don't want you to know.
I'll set you free without inducing guilt,
But as you leave, the silent tears will flow.

I can't be mad; I love you way too much;
I'll hide my sadness now, so you can't tell.
Sweet happiness is what I wish for you;
Farewell my love, I hope that you fare well.
                                          

By Joanna Fuchs
 

 

Tình Sông Nghĩa Biển - Trần Quang Thiệu





Tình Sông Nghiã Biển
(Chúc thư viết dùm một người bạn.)


 
Tôi viết những dòng này cho bạn bè để chia sẻ một nỗi niềm, cho con tôi và cho H. như một lời trần tình, và cho chính tôi như một lời trăn trối.

Cũng như tôi, đa số các bạn đã từng trải qua những ngày tù đày đói khổ trên cao-nguyên hay núi rừng Bắc Việt. Nhưng những đau đớn thể xác đó không thể so-sánh được với niềm thống khổ mà tôi đã trải qua. Một năm sau ngày tôi bị cưỡng bách học tập cải tạo, nhà tôi mang đứa con chưa đầy năm tuổi vượt biên. Vợ con tôi được một tầu Hoà Lan cứu vớt và định cư tại xứ tự do này. Mười bốn năm tù đầy là mười bốn năm hy-vọng, vì qua em gái tôi, tôi được biết rằng vợ con tôi đã có một đời sống yên lành.

Ngày tôi trở về thành phố cũng là ngày xót xa nhất cuộc đời, còn hơn cả lúc tôi lên xe đi cải tạo. Em gái tôi ngập ngừng cho tôi biết là vợ tôi đã sống chung với một người khác. Những lá thư cuối cùng H. viết về em tôi đã giấu kín vì sợ rằng tôi không chịu được thêm niềm đau tinh thần trong lúc tù đày.

"Trăm nghìn lạy anh, xin anh tha thứ và quên đi người đàn bà không xứng đáng … ".

Tôi vò nát lá thư, đau và tủi, nhưng không có nước mắt để khóc cho mình, cho đời!

Nhưng niềm đau nào rồi cũng nguôi ngoai. Tôi vẫn còn đứa con mà 15 năm tôi chưa gập mặt. Tôi viết thư cho người vợ cũ, chúc H. hạnh phúc và cám ơn H. đã thay tôi nuôi nấng con nên người.

Năm 1991, sau khi đã định cư ở Hoa-Kỳ, tôi lại nhận được thư H.. H. nhắc tới tình yêu đầu đời, êm như dòng sông nhỏ nơi quê nàng, và xin gập tôi một lần: "Một lần với anh, rồi để tuỳ anh, em bao giờ cũng như dòng sông cũ".

Lòng tôi chùng xuống và tôi háo hức mong ngày tái ngộ như thủa mới yêu nhau. Mùa hè năm ấy, H. gọi tôi từ một góc phố, hỏi đường đến căn phòng trọ tôi chia sẻ với người bạn cùng cảnh ngộ. Tôi run-rẫy chải lại mái tóc đã điểm sương để đón H. và thấy mình lúng túng như thủa hai mươi, khi mới biết yêu lần đầu.

Đêm đó H. kể với tôi nổi cô đơn và thống khổ vô-tận của người đàn bà với đứa con nhỏ trên xứ lạ. Từ con sông hiền-hoà, dòng đời đã đưa H. ra biển, và X., một sinh viên du-học, thông dịch viên trong phái đoàn cứu trợ, là cái phao cho H. bám víu, chịu ơn nghĩa, nuôi con và nuôi chồng trong tù.

"Chúng mình sống với nhau được mấy năm, anh thường đi xa, và cuối cùng đi biền biệt, không biết ngày về. Em lúc nào cũng thương nhớ anh, Nhưng X. cho em và con đời sống. Hơn 10 năm nay X. quanh quẩn bên em, tha-thiết và dịu dàng, đưa con đến trường ngày bé dại, đón em những chiều mưa, và hôm qua cặm cụi xếp quần áo cho em sang thăm anh. Đưa em ra phi-trường, X. không nói, chỉ cầm tay, nhưng ánh mắt co trăm điều gửi gấm. Trăm nghìn lạy anh, anh quyết-định sao em cũng chịu. Em không thể nào trọn cả nghĩa lẫn tình."

Tôi ứa nước mắt vì bồi hồi. Trong tù, tôi đau khổ, nhưng tôi không bao giờ cô đơn. Tôi có bạn bè xung quanh, có cái điếu cầy và những cơn say choáng váng đủ để lãng quên đời. Tôi đã may mắn hơn vợ tôi nhiều mà tôi không biết. Lúc đó tôi mới thấy thương nàng, và thương cả X.. Tình yêu của chúng tôi như dòng sông, nhưng X. tới với H. bằng tấm lòng của biển.

"Em nên về bên đó. Con đã trưởng thành và anh cũng đã yên phận. X. cần có em hơn là anh. Cho anh gửi lời cám-ơn."

H. khóc, nhưng trong niềm đau như có cái gì rất an-ủi.

Mùa đông năm ấy con gái tôi cũng qua thăm. Cháu hầu như không nói được tiếng Việt mà tiếng Anh của tôi lúc đó còn rất kém. Người bạn giúp đỡ mỗi lần cha con tôi lúng túng. Tôi tuy nói rất ít nhưng cháu Âu Cơ hình như hiểu rất nhiều. Cháu gọi 'Bố' rất rõ ràng, và trước khi trở về Hoà Lan, cháu mua một chậu hoa hồng, trồng ở đầu hè:

"So you know that I'm around, and that I love you".

Tâm hồn tôi bây giờ rất bình yên. Lâu lâu tôi lên chùa Từ Sơn nói chuyện 'thiền' với thầy Đức. Một mai tôi ra đi, xin các bạn hoả táng tôi và rắc tro ngoài biển. Gió sẽ đưa tôi về bên kia đại-dương:

Tro tàn theo dấu cố hương
Hồn theo ngọn sóng về đường biển xưa.

Như các bạn đã biết, quê tôi ở ven sông Hồng. Lúc đó tôi thật sự vẹn cả 'Tình Sông Nghĩa Biển'.

Trần Quang Thiệu
April 2001

Phụ chú: Nhân vật chính trong câu chuyện này, anh Đ.V.M., đã qua đời vì ung thư phổi, năm 2006 tại California. Anh yêu cầu được hoả táng và mang tro tàn về quê hương, an táng cạnh mộ phần cha mẹ, thay vì trải ngoài biển như anh từng ước mong trước đây. Bạn bè đã làm tất cả những gì anh trăn trối, và người vợ củ cũng từ Âu Châu sang để tang anh.

304Đen - Llttm

Bên Kia Sông Bên Này Phố - Thuyên Huy


Bên Kia Sông Bên Này Phố

 Nhớ một người tên TH ngày bên nhau chưa kịp vui thì đã mất nhau của hơn bốn mươi năm trước.

 


 
 
 
 
 
 
 
Bên kia sông
Hàng phượng già cuối ngõ nhà em hoa nở sớm

Bên này phố
Đường về nhà tôi nắng chiều tím cả một khoảng trời buồn

Khua guốc khẽ
Em mang theo mùa hạ vừa mới chớm

Góc sân trường
Ngày đầu gặp em tôi đã biết tương tư

Chuông học tan
Ôm nhớ nhung đứng xa đầu cổng tôi chờ

Chờ trong lặng câm
Giữa nắng mưa đi về bất chợt

Tóc em đen dài từng sợi thả gió bay lùa hồn tôi bão rớt
Em khuất rồi

Lủi thủi một mình tôi đếm dấu chân em qua
Có những bước

Thật gần nhưng cũng có những bước thật xa
Dù chiếc cầu ngăn đôi bờ không dài hơn một nhịp

Ngõ nhà em hoàng hôn hắt hiu biền biệt
Phố nhà tôi mưa rấm rứt buồn tênh

Thương cho tình cây cỏ cũng lặng thinh
Ngày tựu trường thấy em cười nhặt xác phượng tàn cuối sân

Vui mừng tôi muốn khóc
Một chiều giữa thu mưa mù mờ hun hút

Đứng trốn mưa ở một góc phố về
Em thẹn thùng

Tôi ngượng ngập
Không biết nói năng chi

Rồi mình chợt quen từ buổi đó
Đưa nhau về

Chân bước đôi sánh đôi nhè nhẹ
Sợ làm đau con đường vắng thu vàng lá úa

Hè lại về bâng khuâng hàng phượng đỏ
Ve gọi nhau rộn rã một góc trời

Bỏ lại đây em về nơi xa xứ lạ
Phố bên này

Lầm lũi một mình tôi đếm bước chân tôi
Mang nợ đời lăn lóc đường dong ruỗi

Mấy năm dài mới trở lại nơi xưa
Bên kia sông hàng phượng vẫn già nua

Phố nhà tôi không còn ai đứng trốn mưa đầu ngõ
Cũng chiếc cầu một nhịp ngày xưa

Em cùng chồng về thăm chốn cũ
Lối qua nhà em giờ dài thăm thẳm mịt mù

Bên kia sông bên này phố vẫn vậy đôi bờ
Tôi tập tành từ đó làm thơ

Bài thơ đầu cũng là bài thơ cuối
Khúc điếu văn

Đọc tiễn mối tình đau xuống đáy mộ định mạng sầu.

Thuyên Huy
Wodonga lưng chừng mùa hạ năm 2013

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chợ An Đông Và Tiệm Cơm Gà Xiu Xiu (Phần Một) - Nguyễn Tường Thiết


Chợ An Đông và tiệm cơm gà Siu-Siu


PHẦN I

Chợ An Ðông và khu chung cư chung quanh chợ được xây cất vào năm 1954, năm đất nước chia đôi, trên một khu đất trống và rộng thuộc Quận 5 Chợ Lớn. Toàn bộ khu vực này nằm ở giữa hai đại lộ Hùng Vương có con đường sắt chạy song song ở phía bắc và đại lộ Hồng Bàng ở phía nam; tiếp giáp hai mạn đông, tây là hai con đường nhỏ Yết Kiêu và Nguyễn Duy Dương. Chung cư An Ðông gồm bốn khu ba từng, mỗi khu hình chữ L, bao quây lấy chợ nằm ở chính giữa, tổng cộng gồm khoảng bốn năm trăm đơn vị gia cư.

Tôi rời Hà Nội vào Nam rất sớm. Năm 1951 tôi đã theo bố tôi và người chị cả vào định cư ở Sài Gòn trong khi mẹ tôi và các anh chị tôi vẫn còn ở Hà Nội cho đến ngày di cư. Vào Nam ba bố con tôi ở chung với gia đình người bác ở đầu đường Hồng Thập Tự gần sở thú Sài Gòn. Thời gian chúng tôi ở đó tôi thường theo các anh họ tôi đạp xe đi tắm ở hồ bơi mà hồi đó chúng tôi gọi là “đi pít-xin”. Hồ bơi ở xa lắm, mãi tuốt trong Chợ Lớn. Tôi nhớ là để tới hồ bơi chúng tôi phải dắt xe đi ngang một con đường sắt, rồi lại phải băng qua một bãi đất trống rất rộng mấp mô đầy những mồ mả.

Năm di cư mẹ và các anh chị tôi kẻ trước người sau lục tục vô Nam. Mẹ tôi mua một đơn vị trong chung cư chợ An Ðông để ở và lấy chỗ buôn bán. Ðơn vị ấy hai từng, từng dưới mẹ tôi mở tiệm bán cau khô, tên hiệu là Cẩm Lợi, từng trên mẹ con chúng tôi ở khá chen chúc vì diện tích căn nhà không rộng bao nhiêu. Bố tôi chê nhà vừa chật lại vừa gần chợ ồn nên không ở, chỉ thỉnh thoảng lắm mới tạt về. Trên đầu chúng tôi là lầu ba. Lầu ba thuộc một đơn vị gia cư khác. Tất cả những đơn vị ở trên lầu ba đều đi chung một cầu thang riêng, nằm bên hông đường Nguyễn Duy Dương. Căn nhà chúng tôi ở một góc trông ra hai mặt đường nên rất thuận tiện cho việc buôn bán của mẹ tôi.

Nếu tôi chỉ nói cái số nhà 39 thì chắc chẳng một ai hình dung căn nhà của mẹ tôi nằm ở chỗ nào trong khu chợ An Ðông. Nhưng nếu nói nó ở ngay sát cạnh quán cơm gà nổi tiếng Siu Siu thì có thể nhiều người hình dung ra ngay. Siu Siu là một quán cóc nằm sát bên hông nhà mẹ tôi. Ông Siu Siu khi mở quán này đã thương lượng với mẹ tôi câu điện từ trong nhà chúng tôi để thắp đèn trong quán, lại dùng cái vỉa hè ngay trước cửa nhà chúng tôi để đặt bàn ăn. Bù lại ông Siu Siu mỗi tháng trả cho cho mẹ tôi một khoản tiền. Trong suốt hai mươi năm trời chúng tôi ăn cơm gà trừ dần vào khoản tiền này, ăn nhiều phát ớn, đến độ tôi phải tự hỏi cơm gà Siu Siu thì ngon quái gì mà đông người đến ăn như thế. Mỗi buổi chiều từ trên ban công nhìn xuống dưới hè ở trước nhà tôi thường quan sát thực khách ăn ở phía dưới. Tôi nhận diện không biết bao nhiêu những khuôn mặt nổi tiếng, từ minh tinh tài tử, văn nhân nghệ sĩ cho đến những nhân vật chính trị và quân sự quan trọng của miền Nam, và tôi thường tựï hỏi trong số những thực khách ấy có mấy ai biết là mình ngồi ăn ở ngay trước cửa căn nhà của mẹ tôi, bà Nhất Linh.

Năm 1954 khi chúng tôi dọn đến ở thì khu chung cư An Ðông này chưa hoàn toàn xây xong. Chúng tôi là một trong số rất ít những người đầu tiên đến cư ngụ. Tôi khám phá ra là cả cái chợ này lẫn khu chung cư được xây ngay trên cái bãi đất tha ma rộng mênh mông mà mấy năm trước tôi đã phải dắt xe đạp đi ngang qua mỗi lần tắm “pít-xin”. Bây giờ thì cái hồ tắm ấy gọi là hồ tắm An Ðông nằm ngay cạnh chung cư chúng tôi ở cách con đường nhỏ Yết Kiêu.

Năm đó tôi được mười bốn tuổi. Kỷ niệm của tôi về những ngày đầu tiên đến ở căn nhà ấy là một trận ốm kịch liệt khiến tôi phải nằm bẹp trên giường tới hơn một tuần lễ. Căn nhà mới tinh, phòng ốc còn trống trơn vì chưa có nhiều đồ đạc. Tôi ngửi thấy từ nhừng bức tường cái mùi nồng nồng của nước vôi mới quét. Những ngày ốm tôi nằm hầu như một mình trong căn gác trống trải, tai nghe từ một cái máy phóng thanh đặt trên nóc chợ phát ra những bài hát cổ trong một tuồng tích Tàu, chắc hẳn là để quảng cáo cho cái chợ và khu chung cư mới xây cất. Tiếng phèng la inh ỏi xen lẫn tiếng hát giọng Quảng Ðông léo nhéo nghe chua như tiếng mèo gào động đực. Cheng hoèng... e... ếng, e… ê... pẩy... coong... Trong cơn mê bệnh tôi thấy mình nằm trên một bãi tha ma (mà quả là tôi đang nằm trên bãi tha ma thật) có tiếng kèn nhão nhoét và tiếng hát ỉ ôi vẳng lại nghe hệt như từ một đám ma Tàu tôi vẫn thường thấy ở trong Chợ Lớn.

Thời gian ấy bố tôi ở bên Pháp. Bố tôi ở Paris sáu tháng. Có anh cả tôi là anh Việt đang du học bên đó. Ðầu năm 1955 khi bố tôi trở về Sài Gòn ở căn nhà chung cư thì khu vực này đã tấp nập, chợ An Ðông ồn ào tiếng người mua bán và tất cả cả đơn vị gia cư đã kín người ở. Ða số người ở chung cư An Ðông là người Việt gốc Hoa và người Bắc di cư.

Bố tôi về nước mang theo cây kèn clarinet ông mua ở bên Pháp. Thỉnh thoảng ông lấy kèn ra thổi dăm ba bản nhạc Tây. Tiếng hắc tiêu của ông được đệm bởi tiếng chợ búa ồn ào ở dưới nhà, lâu lâu lại phụ họa những tiếng chửi nhau rất là thô tục của đám người trong chợ đang giành nhau một cái sạp hàng. Tôi không ngạc nhiên khi thấy chỉ ít lâu sau bố tôi giã từ đám thính giả ở chợ An Ðông và xách kèn lên Ðà Lạt ở liền trên đó mấy năm. Tôi cũng được gửi lên đó sống bên cạnh bố. Ở trên Ðà Lạt quả nhiên tiếng kèn của ông được lắng nghe. Mỗi buổi chiều thứ Bẩy bố tôi tổ chức hòa nhạc tại gia, ngoài tiếng hắc tiêu của ông lại có sự phụ họa tiếng đàn lục huyền cầm của giáo sư Vĩnh Tường. Khách đi đường, người ghếch xe đạp kẻ ngừng chân bước, lắng nghe tiếng nhạc hòa tấu vẳng ra từ trên lầu căn nhà chúng tôi ở trên đường Yersin trong bầu không khí êm ả của buổi chiều Ðà Lạt.

Năm 1958 bố tôi trở về Sài Gòn làm báo Văn Hóa Ngày Nay. Cố nhiên là bố tôi không ở căn chung cư của mẹ tôi. Ông thuê một căn gác trên đường Trương Minh Giảng để ở và lấy chỗ làm việc. Còn tôi thì dính liền với chợ An Ðông và căn nhà của mẹ tôi cho đến ngày di tản qua Mỹ. Tính ra tôi đã căn nhà đó tròn hai mươi năm, giữa hai cuộc di cư, từ cuộc di cư năm 1954 cho đến cuộc di tản năm 1975.

Hai mươi năm sống dưới một mái nhà thật ra chẳng lâu gì cho lắm, còn thua cả thời gian chúng tôi từng sống ở một ngôi nhà trên đất Mỹ. Nhưng không hiểu sao mỗi lần nhớ về quá khứ tôi có cảm tưởng như thời gian ở đấy dài lắm, dài nhất trong đời tôi. Sao lạ thế nhỉ? Phải chăng vì thời gian ấy tôi ở Việt Nam và trải qua nhiều biến động nhất trong đời? Hay chỉ vì đó là thời gian tôi ở giữa lứa tuổi từ 14 đến 35, tức là lứa tuổi mà có lẽ ở bất cứ người nào cũng đều cho là đẹp và đáng ghi nhớ nhất?

Chợ An Ðông mỗi sáng họp rất sớm. Mới ba bốn giờ trời còn tối người ta đã sửa soạn họp chợ. Từ dưới nhà vẳng lên gác tiếng động lạch cạch của những người phu khuân vác đóng xếp những sạp hàng bầy trên mặt đường quanh chợ. Trong bao nhiêu năm tiếng lạch cạch đều đặn ấy đã thấm sâu vào trong giấc ngủ của chúng tôi. Ðến khi tỉnh giấc thì tiếng ồn ào của chợ đã òa vỡ ở bên ngoài. Từ ban công lầu hai nhìn xuống dưới đường những chiếc bạt vải che mưa nắng dựng lên chi chít; qua những khoảng hở giữa hai cánh bạt là đầu và vai của những người đi chợ chen nhau qua lại giữa những sạp hàng. Ðến trưa thì tiếng ồn tắt. Chợ vãn. Bạt che, sạp hàng thoắt cái biến mất, mặt đường quanh chợ bỗng vắng te, một vài con chó sục sạo trong đống rác. Trong cơn nóng hực của thành phố Sài Gòn chợ An Ðông cũng theo người lịm vào giấc nghỉ trưa. Trôi đi trong giấc ngủ nặng nề tôi nghe có tiếng chổi quét uể oải “lẹt xẹt lẹt xẹt” của mấy người phu quét đường. Cho đến năm giờ thì chợ lại thức dậy bởi tiếng động lạch cạch bầy bàn của quán cơm gà Siu Siu.

Chiều đến khi cơn nắng đã dịu tôi thường bắc ghế ra ngồi ở ban công nơi mẹ tôi có trồng ở góc một cây hoa giấy, cành lá và hoa giấy đỏ leo trên một tấm lưới sắt thưa. Ðiếu thuốc lá Capstan trên môi tôi thường nhìn qua những bông hoa giấy ngắm cảnh chợ vãn từ trên cao. Phía bên kia đường Nguyễn Duy Dương là trường trung học Trí Dũng quét màu vôi đỏ, giờ tan trường những cô cậu học sinh Tàu trong bộ đồng phục xanh trắng cà vạt đỏ đi túa ra khỏi cổng. Trên hè lề đường ngay phía dưới ban công những thực khách của quán Siu Siu ngồi ăn uống ngon lành, trên mặt bàn ăn những chai lớn chai nhỏ bia Larue đầu cọp, bia “33”, những đĩa thịt gà trắng nuột nà, những bát cơm gà nóng bốc khói. Thỉnh thoảng tôi thấy mẹ tôi bước ra cửa gọi cơm để đãi khách và bao giờ cũng vậy ông chủ Siu Siu đích thân bưng cơm và thịt gaø vào trong nhà cho mẹ tôi. Biết ý mẹ tôi ông luôn luôn mang vào một khẩu phần đặc biệt: một đĩa đùi gà được chặt rất khéo có thêm vài ba cái phao câu và một đĩa lòng gà gồm gan, mề, lòng, điểm mươi quả trứng bé bé xinh xinh màu vàng ngậy.

Khách đến chơi nhà mẹ tôi vào buổi sáng nếu đi xe hai bánh thì phải dắt xe luồn lách giữa những sạp hàng trước khi có thể tách lên lề dựng xe trước cửa. Vì ở vị trí góc trông ra hai mặt đường nên nhà có hai cánh cửa lớn, loại cửa kéo ra kéo vào bằng sắt, cửa trông ra phía chợ thường xuyên đóng, chỉ mở cửa sắt bên hông phía cơm gà Siu Siu. Nếu khách đến vào buổi chiều hay tối thì có thể đậu xe sát lề đường rồi đi qua bàn của quán cơm gà để vào nhà. Một tấm bảng đề hiệu “CẨM LỢI chuyên bán sỉ cau khô” gắn trên cánh cửa sắt, ngay phía dưới ban công.

Những bồ cau khô chất cao gần đụng trần chiếm nửa diện tích căn nhà dưới của mẹ tôi, một cái cân khá lớn đặt ngay cửa, một cái sập gỗ thấp và một cái két sắt nặng nề. Phần còn lại để trống chừa lối đi vào nhà trong. Nhà trong là một khoảng hẹp dùng laøm bếp, cạnh có cầu thang bậc cao, hẹp, gấp khúc ở giữa để lên gác. Dưới lòng cầu thang là cầu tiêu phòng tắm. Ðấy, hiệu cau Cẩm Lợi của mẹ tôi như thế đấy. Nó bé và chật chội lắm, không thể nào sánh được với hiệu cau khá rộng của bà ở số 15 hàng Bè Hà Nội trước ngày di cư.

 Nguyễn Tường Thiết
(Xem tiếp phần hai)

Văn Hóa Giả Vờ - FB Lê Nhân Chính


Văn Hóa "Giả Vờ" ở Việt Nam

 


    Tôi không bênh vực những Tiếp viên Hàng không bằng lý do ngô nghê là họ phải đút lót để đựơc có việc làm trong Air VN, nên họ phải buôn lậu chuyển hàng ăn cướp để gỡ vốn chứ ! Mà tôi thực sự thương hại họ, vì "Quít trồng Giang Nam thì ngọt, trồng Giang Bắc lại chua !"

Ngay khi chào đời, họ đã bị sinh ra trong một bệnh viện "ăn cướp": Bác sĩ, Y tá "ăn cướp" phong bì của bệnh nhân, "ăn cướp" thuốc tiêm chủng ngừa bằng cách chia phân lượng thuốc tiêm ra nhiều phần, không đủ tiêu chuẩn, "ăn cướp" thủy tinh thể nhân tạo của Mỹ, rồi thay thế bằng sản phẩm Ấn Độ để "ăn cướp" giá tiền sai biệt.

Khi lớn lên, họ lại đi học trong những trường học "ăn cướp": Giáo sư "ăn cướp" công trình trí tuệ của người khác, học sinh, Sinh viên "ăn cướp" bảng điểm, "ăn cướp" bằng cấp dỏm bằng phong bì.

Khi bắt đầu bước vào xã hội, bước đầu tiên, họ đã bị Lãnh đạo "ăn cướp" tiền đút lót để được có việc làm, nên họ phải tiến vào quỹ đạo ăn cướp, họ ăn cướp dự án, ăn cướp đất của nông dân, họ ăn cướp tiền phạt giao thông, họ ăn cướp sinh mạng của người dân bằng tra tấn, nhục hình .....

Vì vậy , khi tôi nhìn thấy những cô Ca sĩ, Hoa hậu, Người mẫu, vênh váo khoe khoang quần áo, túi xách, giầy dép hàng hiệu, xe "khủng", nhà "khủng", tôi thương hại họ quá, họ cũng bị "ăn cướp" trinh tiết, bị "ăn cướp" phẩm giá, anh ạ ! Tôi có con gái, và con gái tôi may mắn, được giáo dục tại trường học phân biệt điều phải, điều trái, được tôn trọng nhân phẩm.

Khi về Việt Nam, nhiều lần, xe người bạn chở tôi đi, bị công an thổi còi, rồi công an vòi vĩnh, xòe tay cầm tiền hối lộ. Tôi rơi nước mắt, họ còn nhỏ tuổi hơn con trai tôi. Con trai tôi có công ăn việc làm, nuôi con cái bằng chính sức lao động của mình, dạy con, làm gương cho con bằng chính nhân cách của mình . Những người công an trẻ đó cũng bị "ăn cướp" lương tâm, phải không anh?. Khi những người công an, đánh người, giết người, họ được bố thí trả công bằng vài bữa ăn nhậu, chút đồng tiền rơi rớt.

Khi những phóng viên, bẻ cong ngòi bút, viết xuống những điều trái với lương tâm, sự thật để được bố thí trả công bằng những nấc thang chức vị, những đồng lương tanh tưởi, nhà văn Vũ Hạnh đã gọi đó là "Bút Máu" đấy anh ơi !

Khi những quan tòa, đổi trắng thay đen, cầm cán cân công lý có chứa thủy ngân như trong truyện cổ Việt Nam, họ cũng bị "ăn cướp" nhân tính mất rồi !

Trong xã hội, toàn là "ăn cướp", vậy thì kẻ cướp là ai? Ai cũng biết, nhưng giả vờ không biết, Vì Văn hóa "giả vờ" là đồng lõa cho xã hội ăn cướp.

Cán bộ lãnh lương 200 đô la một tháng, xây nhà chục triệu nhưng "giả vờ" đó là công sức lao động tay chân, và trí tuệ, hay quà tặng của cô em "kết nghĩa"? Tôi muốn xin cô em đó cho tôi được làm "con kết nghĩa " của cô ta quá. Thế mà có những Lãnh đạo, Ủy viên Trung Ương Đảng, Đại biểu Quốc Hội, Ban Nội Chính, Ủy Ban Điều Tra, Quan Tòa "Thiết Diện Vô Tư", Phóng viên Lề phải, Thành Đoàn, Quân Đội Nhân Dân, Chiến sĩ Công An, Trí thức Yêu Nước, Việt Kiều Yêu Nước sẽ sẵn sàng giả vờ tin vào quà tặng của "cô em kết nghĩa" đó !

Còn có thể trong tương lai, sẽ có nhiều quan chức sẽ nhận được nhà "khủng", quà tặng của ông anh kết nghĩa, bà chị kết nghĩa, ông bố kết nghĩa, ông cố nội kết nghĩa, khi không tìm ra con người nữa, sẽ tiếp theo con chó kết nghĩa, con trâu kết nghĩa nữa ...

Công chúa mặc áo đầm hồng, ưỡn ẹo trên đôi giày cao gót hồng, đi thị sát công trường xây dựng, theo sau là một đoàn chuyên viên già tuổi tác, thâm niên công vụ, nhưng ai nấy vui vẻ, hớn hở, giả vờ Công chúa là một Chủ tịch tài năng thiên phú, không cần đi học, không cần kinh nghiệm gì cả . Y như tên nhóc Bắc Hàn mặt búng ra sửa Ủn Ỉn, và đoàn tùy tùng Tướng già của thằng con nít đó vậy ...

Toàn đảng đều "giả vờ" tin rằng các Hoàng tử, Công chúa đều là thiên tài không đợi tuổi, mặt trẻ ranh mà nhảy lên ngồi trên đầu các nhà cách mạng lão thành, và ai nấy đều "giả vờ" tán tụng khen thơm như múi mít !. Thượng bất chính, hạ tắc loạn:

"Thanh tra, thanh mẹ, thanh gì?
Hễ có phong bì thì Nó "Thank you"!

Tôi buồn lắm, có đôi khi quá tuyệt vọng, tôi tự hỏi, mình có nên quên mình là người Việt Nam như con đà điểu vùi đầu trong cát, như quả chuối ngoài vàng, trong trắng, vì tôi yêu nước Mỹ quá rồi. Nước Mỹ chưa, và có lẽ không bao giờ hoàn hảo, nhưng ở đây, ít nhất không ai có thể "ăn cướp" lương tâm, phẩm giá, và nhân tính của tôi. Tôi được sống như một "CON NGƯỜI" không phải chỉ "giả vờ " "làm người" đang sống đâu .....

 FB Lê Nhân Chính

304Đen - Llttm

Friday, March 25, 2016

Dòng Đời Nước Vẫn Đục - Thuyên Huy



 Dòng Đời Nước Vẫn Đục

Viết để nhớ ngày giỗ của các bạn tôi, những người không phải là nhân vật trong truyện, nhưng đã đóng trọn vai mình, ở màn cuối của vở tuồng đời mà đất trời sắp đặt

 

     Giữa trưa, chở ông bác lớn tuổi, từ miền Tây lên Sài Gòn, vừa ngừng xe cho ông xuống phía bên này góc đường ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản, mưa lại trút xuống ào ào, mặc dù cơn mưa lớn từ khuya đêm qua đã tạnh hẳn từ lúc trời hừng sáng, lâu lắm rồi mới thấy Sài Gòn có trận mưa như vậy, nơi mà người ta quá quen với chuyện mưa đến nắng đi bất chợt trong ngày. Thuận nhanh chân, đẩy cái xe Honda cũ, đời của những năm 1967, còn chạy tốt, được người chị gái, con của ông cậu bà con bên ngoại, nhà bên bến Bình Đông, cho mượn làm nghề chạy xe ôm kiếm sống, sau ngày ở tù “tập trung cải tạo” về, leo lên lề đường rộng, trước cửa rạp hát Đại Đồng, tấm bảng quảng cáo cho đêm hát của đoàn “kịch nói Kim Cương” dựng chắn ngang một khoảng lớn, mù mờ trong màn nước, người đi đường, người gánh gồng bán hàng rong, có cả bộ đội, xe đạp, xe gắn máy, đứng nép chật nức suốt một quảng dài dọc theo lề hai bên rạp. Tay vuốt nước trên mặt, tay vịn ghi-đông xe, may mắn tìm được chỗ trống, khuất sau cái máng xối, xem ra khô ráo, dưới mái hiên của căn nhà, sát bên cạnh cái xe bán bò vò viên ngày còn đi học, dựng xe ngoài mưa, Thuận vừa đứng gọn lõn vào, khẻ gật đầu chào ai đó bên cạnh, không biết đàn ông hay đàn bà vì cái bao ni lông dầy che trùm khuất cả mặt, cùng lúc đó, một người thanh niên trong cái áo lính bạc màu, năm sáu lổ vá, dài gần tới nửa đùi, che khuất cái chân trái cụt cao, ướt sủng dù trên đầu có được cái nón tai bèo rộng vành, khập khểnh nhắc từng bước, bằng chiếc nạng gỗ nứt nẻ, đứng xớ rớ giữa mưa, nhìn cái chỗ của Thuận thèm thuồng tiếc rẻ, Thuận nép sát vào tường nhà, làm dấu gọi anh, anh đứng ghé một bên, không ai nói tiếng nào, hai người cùng nhìn một phía ra đường chờ, mưa vẫn kéo dài, vẫn nặng hột, trời lành lạnh dù đã quá giữa trưa.

    Nắng vội vàng hé sáng, rực lên đâu đó, không thèm buồn chờ mưa dứt những giọt cuối trên đường, xe cộ lại nhốn nháo, xuôi ngược hối hả đi như mọi ngày, đám người đứng trốn mưa không còn ai ở đó, họ đã bỏ đi từ khi mưa bắt đầu nhẹ hột. Thấy chưa có chuyện gì phải vội phải vàng, Thuận kéo nón che đầu xuống, không nhìn lên, thong thả rút cái khăn cũ mèm dưới yên xe Honda ra, lau bớt chút nước còn đọng, chưa kịp tan dưới cái nắng mới lên, có tiếng “cám ơn” của ai đó, phía sau lưng không mấy xa, Thuận quay lại, người thanh niên tàn tật, cụt chân, cùng đứng trốn mưa khi nãy, gở nón xuống, gật đầu cười chào lần nữa, vết bầm tím như màu nắng xạm trên mắt trái, như dấu vết thương vừa lành, dài xuống gần nửa một bên mặt nhưng không che kín được cái nốt ruồi đen, ở xế góc chân mày, cánh tay phải hình như hơi cong đi, Thuận bước lại gần, há miệng chết trân “trời ơi, Trọng, mầy đây sao?”, đúng là “cái nốt ruồi, thằng Trọng rồi”, cũng cùng lúc, Trọng lê chiếc nạng gỗ nhích lên kế bên, nhìn không chớp mắt “Thuận, mầy hả Thuận?”. Thuận đở Trọng ngồi xuống, hai người tựa lưng vào bờ tường, nhìn nhau, rồi nhìn ra đường, bên kia cái sân vườn trước của căn biệt thự, sát hông nhà bảo sanh Đức Chính, treo lá cờ đỏ sao vàng, dùng làm quán bán cà phê, vang lên tiếng hát “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây” của người ca sĩ miền bắc nào đó, vội vàng, lanh lảnh, khó nghe kịp vì nhịp điệu nhạc Tàu, mắt cay xé đỏ hoe, cơn gió nhẹ bất chợt về ngang, lùa chút  nước mưa lẻ loi còn sót lại tạt nhẹ vào mặt, Thuận nhìn Trọng từ đầu xuống chân lần nữa, bổng dưng cả hai muốn khóc.
 
 
 

    Hai người chơi rất thân với nhau, từ những ngày cùng học chung ở trường tiểu học Gò Dầu Hạ, gia đình Trọng nghèo, ba anh làm nghề chạy xe lôi máy, chở người ra chợ, đón người về nhà trong vòng quận lỵ, hình như đôi lần cũng chạy lên tới chợ trời biên giới, mẹ anh có cái gánh bán kẹo bánh nhỏ ở bến xe Gò Dầu Tây Ninh Sài Gòn, ngay ngã ba, sát hàng rào chi khu, nhà Trọng, căn nhà lợp tôn, vách cây, nằm sâu ở cuối xóm nhà lá trong, dọc theo con đường đất mòn, từ quốc lộ, sát bên hông hàng rào gạch, của nhà ông bà năm Dương, chỗ bán vật liệu xây cất, gạch ngói xi măng, giàu có, nhà có ba đứa con, Hiếu, là cô chị lớn, cũng học chung lớp, nhà Thuận thì khá giả hơn, có căn phố đôi bán tạp hóa, ở một bên chợ quận, gần bờ sông. Trọng học giỏi, siêng năng, hiền, vui tính, hay giúp đở bạn bè, trai cũng như gái, được thầy cô thương, năm nào cũng lảnh thưởng cũng làm trưởng lớp, trong đám bạn, Hiếu là người xem ra ngưỡng mộ Trọng không ít, ngày nào cũng mang theo bánh kẹo gì đó trong cặp, vào chia cho bạn bè ăn trong giờ ra chơi, sáng đến trường, chiều tan học, chung đường, hai đứa đi bên nhau, đuổi nắng trốn mưa, vui nhiều buồn ít. Giống như bao nhiêu ngôi trường khác, xa hay gần, lớn hay nhỏ, ở đây cũng có mùa hè, có hoa phượng đỏ bầm màu máu, có tiếng ve, cũng bắt đầu biết buồn, biết sụt sùi ngày cuối chia tay năm lớp nhất, năm tới lên trung học, không biết còn gặp lại nữa hay không, chắc rồi đây sẽ có đứa đi đứa ở. Gần hơn phân nửa lớp nhất, con nhà trong chợ quận năm đó, đều đi học luyện thi ở trường Hữu Đức, không có Trọng, vì không đủ tiền đóng học phí, tự học ở nhà, sau mùa thi, một số lên trường tỉnh trên Tây Ninh, số kia, có Thuận, Hiếu và Trọng ở lại vào trường quận vừa mới được mở, họ lại quây quầng, cười nói bên nhau như những ngày xưa cũ nhưng xem ra đã bắt đầu có chút thẹn thùng và bẽn lẽn.

    Trọng và Hiếu thương nhau từ đầu năm đệ nhị, thỉnh thoảng Hiếu đến nhà Trọng chơi, nhưng Hiếu bây giờ, không còn là con nhỏ Hiếu, tóc chảy vội chảy vàng, sợi trước sợi sau, mê nhảy cò cò, đánh đôi đánh đủa, cũng như Trọng cũng đôi lần vào chờ Hiếu trước cửa nhà và Trọng bây giờ, không còn là thằng cu Trọng tóc hớt cua, quần xà lỏn, tuột lên tuột xuống, ham đánh đáo bắn bi, trèo cây  bắn ná, cả hai gia đình nhìn qua nhìn lại, biết đó nhưng không ai nói gì vì không mấy khi gặp mặt nhau và với ba mẹ Trọng, phận nghèo, cho dù muốn nói thì phải nói cái gì đây. Trọng rớt tú tài hai, bạn bè chưng hửng, không ai ngờ chuyện lại như vậy, buổi trưa hôm gặp nhau ngoài cái quán nước ngay ngã ba, đường xuống chợ quận, sau ngày có kết quả, ngồi bên Trọng, nhìn cặp mắt Hiếu đỏ hoe, lặng thinh, Thuận thấy nghẹn lời, rươm rướm, có nụ cười nhưng ai cũng biết là gượng gạo, lúc ra về, ngay đầu đường lên dốc cầu, chỗ ngã ba, đứng đó nhìn theo, Hiếu và Trọng đi bên nhau về hướng nhà mình, bụi đường mù mờ hắt lên, mặc dù mấy chuyến xe đò lớn về Tây Ninh đã cố tình chậm lại, hai người nói với nhau gì đó, hình như nhiều lắm nhưng không biết họ nói những gì. Nắng nóng hầm, người đàn bà gánh đôi thúng, đựng đầy trái thơm, hấp tấp băng qua đường xuống chợ, nhìn lên phía trên cầu, có chút mây xám đâu đó, lắc đầu, không thấy mưa.

    Cuối cùng, có nấn ná cho lắm, rồi cũng phải chia tay, đã qua rồi một thời rong chơi “mưa đầu sông nắng cuối chợ”, Thuận xuống Sài Gòn vào Phú Thọ ngành Công Chánh, Hiếu cùng Thư cô bạn thân qua đại học Sư Phạm. Trọng ở lại Gò Dầu, bữa chia tay, trời mưa dầm, Hiếu khóc thật nhiều, hẹn chờ nhau như đã hứa. Đầu năm học, có nhiều chuyện phải lo, từ nơi ăn chỗ ở, bài vở nầy nọ, cả hai ba tháng Thuận không về Gò Dầu, dù đường Gò Dầu Sài Gòn không xa bao nhiêu, dưới này, anh cũng có đến thăm Hiếu, bên nhà bà cô, chị của bác năm Dương, ở gần bệnh viện Bình Dân một vài lần rồi thôi, biết tin là Trọng vẫn còn trên đó, vã lại, cũng không có chuyện gì khác để phải gặp nhau thường. Trước tết hơn một tháng, hôm về đám giỗ ông nội vài ngày, Thuận qua nhà thăm ba mẹ Trọng, chú ba Dựng không còn chạy xe lôi máy chừng tháng nay, chú bị đau nhức gì đó ở cột xương sống, đi đứng, khum lên cúi xuống khó khăn, không xách nổi đồ nặng nữa, thiếm Dựng thì buôn bán cũng không khá lắm như xưa, nên bữa có bữa không, giờ theo người quen chạy lên chạy xuống kiếm hàng mua qua bán lại trên chợ trời biên giới Miên, gặp lại họ, Thuận mới biết là Trọng đã tình nguyện vào lính, mặc dù Trọng được hoản dịch vì lý do gia cảnh, vào trường bộ binh Thủ Đức từ ngày đám Thuận xuống dưới Sài Gòn không bao lâu, chú thiếm xem ra không buồn không trách gì anh ta cả, thiếm thì cứ nhắc đi lập lại “thôi ai cũng có phần số mà con”, thấy mà thương, vậy là Trọng cũng đã bỏ Gò Dầu đi, giống như đám bạn cũ, nhưng lại đi theo một lối rẽ khác, một lối rẽ rất buồn và thật buồn.

    Chiều thứ bảy, Sài Gòn đông nghẹt người, nắng của buổi xế trưa vẫn còn nấn ná, chưa chịu đi, nhập nhằng giọt ngắn giọt dài trên ngỏ hè góc phố, gió nhẹ đong đưa một màu phấn bui đường bay, bay xa xuống tận bến sông rồi nuối tiếc trở lại, ngờ ngợ về chuyện biết tin Trọng bỏ vào lính, hôm về Gò Dầu, Thuận đón xe buýt qua nhà Hiếu xem cô nàng có nghe gì chưa, mới biết là Trọng có gởi cho Hiếu một lá thư thật dài, từ quân trường, trong đó anh xin lỗi về quyết định của mình và xin cô nàng thứ lỗi, anh đã không giữ tròn lời hứa sẽ chờ nhau, vì Trọng cảm thấy mình không còn xứng đáng nữa, biết nói gì hơn đây, Thuận bỏ về, Hiếu đưa tới ngoài cửa, thư của Trọng trên tay, mắt nhìn mông lung ra đường, rươm rướm đỏ, có cơn gió nhẹ cũng mang phấn bụi đường đâu đó về ngang, Thuận không nhìn lại nhưng mắt mình cay cay từ lâu lắm rồi.

    Từ ngoài sân trước, tiếng bà tư, chủ nhà, gọi vọng vào bảo có người tìm mình, đang lui cui xếp mớ sách cũ của năm thứ nhất, không cần phải dùng tới nữa, sau mùa thi vừa rồi, trong phòng sau, Thuận ngưng lại vừa đi ra vừa dạ lớn để bà biết, Thuận chưng hửng trố mắt nhìn, Trọng, quân phục Nhảy Dù và nón bề rê đỏ, đang đứng nói gì đó, quay lại cười, hơn một năm rồi không gặp và cũng không có thư từ gì từ ngày Trọng vào quân trường, hai người ôm chầm lấy nhau, muốn khóc. Chiều chầm chậm đuổi nắng đi, đâu đó ngoài kia, người xe chộn rộn chờ đêm xuống trên đường phố, Sài Gòn là vậy đó, sáng vội vã, chiều hôm hối hả như những ngày qua, trời không một chút gió, nóng cứ nóng nung người, chờ mưa mấy ngày rồi không thấy tới, mấy chuyến xe lam chờ khách đi miệt Phú Thọ Hòa, Hương lộ 18, ồn ào trên bến đậu xe, trước cái cổng đóng im lìm của trường đua ngựa, vào phòng không lâu, Trọng bỏ đi ra ngoài trước, Thuận đẩy xe Honda theo sau, kép cái cửa sắt khép lại, nói vọng vào trong dặn bà tư “đừng chờ cơm chiều nay”. Ngồi trong quán cà phê nhìn qua bên kia trường, Trọng giờ đây xem ra ít nói hơn ngày xưa, buồn không thấy buồn nhưng vui cũng không thấy gì gọi là vui, họ nói với nhau, chuyện quê nhà, chuyện trường cũ nhiều hơn chuyện bây giờ, sau ngày ra trường, Trọng về Gò Dầu, ở lại với chú thiếm Dựng vài ngày, có ghé qua thăm ba mẹ Thuận nên mới biết chỗ ở trọ của anh ta dưới Sài Gòn, không tính gặp lại Hiếu vì vẫn còn thấy chưa xứng đáng như những gì đã viết trong thư, Trọng ngồi nghe, không hỏi thêm về chuyện đó, trời nhá nhem tối, đèn lên một màu vàng hắt hiu hai bên đường Nguyễn Văn Thoại từ lâu, Thuận đưa Trọng đi ăn cơm chiều tại một quán cơm bình dân trên đường Trần Bình Trọng, trở lại nhà, bên nhau không lâu, trời dịu lại,  một chút gió man mác lạnh về ngoài sân, đường phố vắng thật vắng, Thuận đưa Trọng về trại Hoàng Hoa Thám, để kịp chuyến bay đưa quân Dù ra chiến trường Quảng Trị giữa khuya nay. Người lính gác lặng lẽ mở cổng, đưa tay chào, Trọng quay nhìn ra ngoài, vẫy tay, lờ mờ trong màn sương đêm vừa bắt đầu xuống thấp, Thuận vẫn ngồi yên trên xe Honda, một lần nữa, cái cổng trại hạ xuống, có chiếc phi cơ vận tải quân sự nào đó vừa cất cánh ở phía phi trường Tân Sơn Nhất, Thuận thở dài, xin cho bạn bình yên, không biết chừng nào mới gặp lại.

    Tốt nghiệp xong, Hiếu lại chọn theo Thư xuống dạy ở Mỹ Tho mặc dù có thể xin về trường trung học Gò Dầu, Thuận cũng xong bằng kỹ sư công chánh nhưng theo lệnh động viên, phải nhập ngủ, theo học khóa sĩ quan Thủ Đức rồi mới xin biệt phái đâu đó. Hôm chia tay nhau ở Gò Dầu, cũng tại cái quán nước đầu ngả ba xuống chợ quận ngày xưa, mưa tầm mưa tả suốt nửa buổi chiều mới chịu ngưng, đường phố chợt dưng tối một màu phượng đỏ bầm của trời đã vào giữa mùa hạ, Hiếu cho Thuận biết, có nhận được thư của Trọng, giờ mang lon Trung Úy, nhắc chuyện hai đứa, hứa sẽ về thăm vào mùa bãi trường năm sau, nghe tin Thuận thấy vừa mừng vừa lo, rồi thêm một lần nữa chia tay, hẹn vu vơ gặp lại mai này, ở đâu đó. Xong mấy tháng quân trường, gữa năm 1972, Thuận về với binh chủng Công Binh của quân đoàn 3, đóng ở Biên Hòa, một thời gian sau lên Thiếu Úy rồi may mắn được biệt phái về làm kỹ sư ở ty công chánh Bình Thuận, Phan Thiết. Chiến cuộc ngày càng tăng dần, quân cộng sản ùn ùn rầm rập, xâm nhập vào nam, đem xe tăng đại pháo của Trung cộng Nga sô, vượt biên giới, tung quân đánh nhau với quân VNCH, quyết tâm chiếm thêm đất, nhất là những ngày của mùa hè đỏ lửa 1972. Lần về Gò Dầu năm sau, thiếm Dựng đã mất, trong một sáng sớm,  chợ vừa lưa thưa nhóm, vì bị trúng đạn pháo kích của quân cộng sản bắn vào chi khu, nhưng rớt ngoài đầu con đường đá, đi vô xã Thạnh Phước, chỗ bến xe lôi, có chừng chục gánh hàng bán thứ này thứ nọ, không may, đạn nổ trúng ngay khoảnh đất có thiếm tư Dựng, hai ba người chết và một số bị thương, thiếm chết sau một đêm ở trong bệnh viện quận, ba mẹ Thuận, hai bác Dương cùng đám em hai nhà, người lớn người nhỏ, phụ giúp chú Dựng làm đám tang, rồi chú đem thiếm về chôn cất bên Gò Dầu Thượng, không có mặt của Trọng, sau đó không lâu, chú thường đi lang thang ngoài đường quanh chợ quận, lúc đứng lúc ngồi nói năng nhãm nhí, không đầu không đuôi, khi cười khi khóc, nhà chú có khi suốt mấy ngày không thấy ánh đèn bên trong, những đêm mưa lớn cũng không thấy đóng cửa.
 
 

     Trong trận đánh lớn giữa năm 1974, cùng với sư đoàn Thủy quân Lục chiến và Nhảy dù, quân VNCH tiếp tục tập trung lực lượng đẩy mạnh nỗ lực tấn công hai hướng đông và tây,  cùng chiếm lại khu vực Ái Tử, Đông Hà, Trọng bị thương khá nặng, ở nửa mặt trái và chân trái, máu ra quá nhiều, bất tỉnh, khi tiểu đoàn Dù của anh tiến chiếm cao điểm 367, động Ông Do và phía nam sông Thạch Hản, dưới mưa pháo của quân cộng sản Bắc Việt, trực thăng tải thương nhào lộn nhiều lần mới đem được Trọng cùng một số thương binh khác về bệnh viện Quảng Trị, bác sĩ y tá cố gắng làm hết sức để tình trạng thương tích của anh tạm ổn, lúc mê lúc tỉnh, nẳm ở đây vài ngày, không khá hơn, người ta quyết định đưa Trọng vào Tổng Quân y viện Cộng Hòa, vết thương ở chân trái càng ngày càng tệ hơn, cứ tiếp tục sưng lên đầy ắp mủ, cuối cùng bệnh viện buộc phải cưa lên tới hơn nửa đầu gối, con mắt trái chỉ còn thấy mù mờ, thường chảy nước mắt, Trọng trở thành người què quặt từ những ngày tháng đó. Nằm đơn độc một mình trong bệnh viện, chán chường nhìn thân thể tàn tật, nhớ Hiếu nhiều, muốn viết một lá thư dài cho trọn ý, nhưng rồi thôi, viết gì đây, cái hình ảnh Trọng ngày xưa, còn gì để cho người, với thân xác rã rời của “một bại trướng cụt chân”như thế này, anh dặn lòng cố mà quên nhưng có những chiều, ngồi trên xe lăn, ngoài hành lang, nhìn hoàng hôn tím đục xuống dần ngoài xa, nhiều lần Trọng đã khóc cho một phần đời đã chết.

    Trong thời gian ở Phan Thiết, Thuận có viết thư cho Trọng, theo địa chỉ KBC mà anh ta cho trước đây, chiến trận lúc này sôi sụt quá, quân VNCH tận lực chống đở trên mọi chiến trường, một mất một còn với quân Bắc Việt, chẳng biết Trọng có nhận được không mà không thấy thư trả lời, Thuận đành chịu, cũng trong thời gian này, Thuận được thư của mấy đứa em từ Gò Dầu cho biết, Hiếu có về, biết thiếm Dựng mất và tình cảnh của chú hiện giờ, Hiếu khóc nhiều lắm, mùa bãi trường Trọng hứa sẽ về đã qua đi, Hiếu đau buồn chờ mùa bãi trường nữa tới. Cũng như Thuận, Hiếu đã gởi không biết bao nhiêu lá thư cho Trọng, cũng cái địa chỉ KBC đó, nhưng thư đi mà không thấy thư về, trời đất vô tình xé nát hồn mình từng mảnh vỡ, Hiếu lặng lẽ đi về với lớp học sân trường, trách thầm định mệnh và xem như đã chết một phần đời. Lần gặp lại nhau hôm về Gò Dầu nghỉ Tết đầu năm 1975, không nhắc gì nhiều tới Trọng nữa, không người nào nói ra nhưng hình như Thuận cũng như Hiếu, ai nấy đều cho rằng, có lẽ Trọng đã nằm xuống, tử trận ở một chiến trường nào đó rồi, trong đám bạn bè xưa, từ nay không còn có Trọng.

    Ba mươi tháng tư một chín bảy lăm, miền Nam thua cuộc, Trọng bị nhà cầm quyền mới tống cổ ra khỏi Tổng Y viện Cộng hòa, cùng chung số phận với hàng trăm thương bệnh binh của VNCH khác, lê lết thân tàn đầu đường xó chợ ở  Sài Gòn, giờ đã đổi tên lạ, may gặp một người lính cũ, cũng tật nguyền, đi ăn xin vòng quanh khu chợ trời Ngã Ba Ông Tạ, dẫn về tá túc tại ngôi chùa nhỏ, của ông sư già bên Gò Vấp, nên tạm có chỗ đi về. Vài tháng sau, hàng ngàn công chức quân nhân các cấp VNCH bị chở vào trại “tù cải tạo” trong đó có Thuận, chắt chiu dăm ba đồng tiền mới có được cộng với phần phụ thêm của người bạn tàn phế vừa quen, Trọng lần mò ra bến xe, chen giữa đám bộ đội, tay xách nách mang đủ thứ đồ đạc, nhí nhố xì xào về lại Gò Dầu, ngoài đường lộ, nhà của Hiếu, không còn là chỗ bán vật liệu, lá cờ đỏ sao vàng còn khá mới treo cao trên cái cột giữa sân, hai ba tên công an, đứng lên ngồi xuống trước mái hiên, căn nhà tôn của gia đình anh ngày nào, cũng không có ai, cửa mở tung, đập qua đánh lại theo chiều gió trưa, trời đứng nắng, bóng Trọng xoảy dài vào trong, không khác gì bóng ma vất vưỡng, Trọng bước vào, vài người lạ, ở mấy căn nhà xa xa chung quanh đứng nhìn, cây nạng gỗ rớt xuống, Trọng ngã người, vịn một bên cạnh cái bàn, chết trân, sướt mướt khóc òa lên, tấm hình thiếm tư Dựng phủ đầy bụi bám nhện giăng, trên bàn thờ xiêng xẹo, nhìn ra lặng yên. Xuống chợ, nhà Thuận cũng còn đó, nhưng không còn bày bán nhiều như trước, ông bà ôm Trọng khóc sụt sùi “trời ơi con ơi”, cho biết, cả nhà bác năm Dương, chị em Hiếu, cùng với hai đứa em của Thuận gởi theo, đã theo tàu ở Trà Vinh, vượt biên từ mấy tuần nay, ba mẹ Thuận đón xe đưa Trọng đi thăm mộ thiếm tư trên Gò Dầu Thượng, người quen trong chợ, sau ngày quân cộng sản vào Gò Dầu, nói rằng, họ thấy chú tư Dựng đi lang thang đâu đó, bên kia cầu một hai lần về phía Gò Dầu Thượng rồi không thấy nữa.

    Được bà chị thương tình, đồng ý, Thuận đưa Trọng về ở chung bên bến Bình Đông, không biết chị ăn nói như thế nào mà đám cán bộ phường khóm không làm khó dễ gì, mỗi ngày, sáng sớm, Thuận lái xe đưa Trọng tới đầu chợ Nguyễn Biểu, nhận vé số bán, chở bỏ anh ta ở đó rồi chạy xuống xa cảng Phú Lâm, kiếm khách đi xe ôm, lòng vòng trở vào Sài Gòn rồi chiều quay lại đón Trọng, thanh toán tiền bạc trước khi về nhà. Vài ba tuần, một hai tháng, người chị bà con thường lên xuống Gò Dầu, ba mẹ anh nhắn cho biết, chú tư Dụng, ba của Trọng không còn thấy lang thang ngoài đường nhưng không ai gặp ở đâu hết cả, mỗi lần thấy Trọng ngồi khóc, không ăn trọn được chén cơm chiều, Thuận cũng rươm rướm mắt, thương bạn không biết bao nhiêu nhưng lặng thinh nhìn, mặc cho lòng mình ray rứt.

    Thuận chạy tới chạy lui, tìm cách vượt biên, khi được tin mấy đứa em, gởi theo gia đình Hiếu đã tới được Mã Lai, nhưng khó quá, vã lại chưa có đủ tiền, ba mẹ anh cũng chật vật sống trên Gò Dầu, tài sản vốn liếng đã tiêu tan sau lần bị “đánh tư sản” của nhà cầm quyền quận, thêm nữa, còn phần của Trọng thì sao, tấm thân tàn phế đó, nếu chết được thì may, còn nếu sống thì, trong tình cảnh này, chỉ có nước “đi ăn xin”, không cách này, cách khác, chớ chẳng làm gì khác hơn, Thuận quyết định nghĩ tới chuyện đem Trọng theo nhưng giữ kín không cho anh ta biết, Thuận về Gò Dầu, lên chợ trời biên giới vài lần, nghe ngóng tình hình, quân Khờ Me đỏ cũng sắt máu dữ dằn, tính chuyện đi đường bộ nhưng xem ra không dễ gì, đành bỏ cuộc.

    Một lần nữa, nhà cầm quyền cộng sản cử hành lễ ăn mừng ngày cái gọi là “mùa xuân đại thắng 30 tháng 4”, cũng cờ đỏ sao vàng, cũng hàng hàng lớp lớp học trò, công nhân, công an bộ đội, ùn ùn theo lệnh khóm phường, hét hò tung hô “muôn năm, anh hùng, thần thánh, vinh quang” như những năm qua nhưng xem ra, nếu nhìn kỹ một chút, mặt mày dân chúng có vẻ kém “hồ hởi phấn khởi” hơn trước đây nhiều. Thuận biết đường dây vượt biên khá an toàn, đi ngay tại Sài Gòn do một bà chị quen, trước làm thơ ký đánh máy ở văn phòng của phân khoa công chánh, trường kỹ sư Phú Thọ, mà đám sinh viên thường nhờ chị đánh máy giùm mấy tập bài nộp cho thầy, giới thiệu, tình cờ lúc gặp lại chị khi ngồi nghỉ chờ khách ngay ngả vào bệnh viện Bình Dân, hai người thăm hỏi nhau khá lâu rồi chia tay, chị không quên chúc Thuận bình an may mắn, chị đi rồi, Thuận đứng nhìn theo, lòng chợt dưng thấy vui.

    Cuối cùng, có vất vả nhưng rồi Thuận cũng đem được Trọng lên tàu, với sự phụ giúp của bà con đi cùng chuyến vượt biên, sau khi lên chiếc ghe nhỏ tại chân cầu Nhị Thiên Đường lúc  vừa rạng sáng. Giữa khuya, chiếc tàu chở chừng năm sáu chục người, trông còn tốt, lặng lờ ra khỏi cửa biển Cần Giờ, trời lất phất mưa, sóng nhè nhẹ nhấp nhô từng đợt thấp, ai nấy nín thinh, ngồi chật cứng bên nhau dưới hầm, nhìn bóng đêm lầm thầm cầu nguyện, ở một góc, gần phía đầu mũi, Thuận nắm tay Trọng nói nhỏ “chắc khỏe rồi”, sau một đêm bình yên, mặt trời sáng rực ở phía đông đường chân trời, mọi người kéo nhau lên trên sàn đứng nhìn, mặt lo âu hơn là vui mừng, sương mù mờ chưa tan, chỉ có trời và nước, con tàu vẫn tiếp tục êm êm đi, biển bắt đầu có những con sóng lớn.

    Máy tàu có vẻ hơi khựng khựng lại, đôi ba lần sau bốn ngày đêm ròng rã trên biển, nước đen một màu sâu thẳm, vẫn còn chạy được nhưng chậm hơn nhiều, tờ mờ sáng ngày thứ năm, đâu đó trên trời, sáu bảy con chim Hải Âu lượn qua lượn lại theo hướng tàu đi, ông tài công già mừng rỡ la lớn “vậy là sắp gần tới đất liền rồi”, ngồi ở cuối tàu, gần bánh lái, lâu lắm Thuận mới thấy Trọng cười, chừng một lúc lâu sau, anh thanh niên đứng bên, nãy giờ cầm cái ống dòm trên tay nhìn qua nhìn lại, chợt vỗ mạnh tay xuống thành gỗ của phòng lái nói thật to “thấy đảo rồi, có màu xanh xanh mờ mờ, chắc là có cây cối”, mọi người ùa lại phía anh ta chờ, xem có gì thêm nữa không, mừng rỡ bàn tán xí xô xí xào, dán mắt về phía trước. Gần tới sắp trưa, mây xám đen và đen xịch, xuống thấp, có chút gió hơi hâm hấp nóng, trời không mưa, trong tầm mắt mình, ai nấy đều thấy xa xa, một cái đảo nhỏ xíu, có cây cối và lưa thưa dăm ba cái nhà, lúc bấy giờ người trên tàu mới thật vui ra mặt, họ thúc hối ông tài công cho tàu chạy lẹ lên thêm, chiếc tàu chậm chạp hơn, không nhanh thêm chút nào, máy nóng, dây kéo máy bơm nước đứt từ sáng nay, ông lắc đầu cười trừ “cầu trời cho nó ráng gần tới bờ đảo”.
 
 

    Trời xế chiều, càng lúc cái đảo, với bải cát trắng phao, rải rác nhiều cái nhà sàn nho nhỏ nằm khuất mình giữa những hàng cây dừa xanh mướt lá, dăm ba chiếc ghe sơn màu xanh đỏ, và lác đác có dáng người đi, được nhìn thấy rõ mồn một, người  ùa lên đứng phía đầu mũi tàu, chỉ chỏ nói cười quên đói, chiếc tàu chòng chành nhấp nhô, bất chợt mây giông từ một phía xa kéo về, gió lớn nổi lên, thổi chiếc tàu nghiêng qua lắc lại, sóng lớn và cao, thành đụng vào bải đá san hô rộng ngầm dưới nước, chạy dài theo ven bờ cát, kêu ken kéc, máy tàu tắt hẳn từ lâu, gió cứ rít lên rờn rợn, càng lúc càng mạnh hơn, không lâu chiếc tàu nghiêng hẳn một bên, thành tàu nứt theo đường dài, bể ra làm hai, làm ba, ai nấy quýnh quáng la hét, cuống cuồng, người lội, người bám ván bám thùng nhựa đựng dầu, đựng nước, cố sức đập tay đập chân, mấy người dân trên đảo, chắc đã thấy chiếc tàu chìm, nên chừng chục người đẩy ghe chèo ra, tiếp vớt, lôi kéo đưa được hết vào bờ, còn lại, Thuận tay nắm cái thùng nhựa lớn làm phao, vẫn còn lội qua lội lại tìm, miệng gọi to “Trọng hởi Trọng ơi”, ông già dân đảo kềm chiếc ghe cuối cùng nằm yên một chỗ chờ, chỉ tay vào phía tấm ván bánh lái tàu, trôi bập bềnh, bên dưới có người chết, Thuận lội nhanh đến, xác Trọng tím bầm, bụng phình lên vì nước mặn, mắt nhắm nghiền, Thuận khóc to, gào lên “trời ơi, Trọng ơi” tiếng thét không áp nổi tiếng gió giông còn hú từng chập. Người đàn ông, xuống ghe, đứng dưới nước, phụ đem xác Trọng lên, cái chân phải còn nguyên xụi lơ, chầm chậm chèo vào, nhìn đám người cùng đi trên tàu, đứng ngồi lố nhố trên bờ cát, Thuận nghẹn đắng cổ họng, nước mắt chảy dài xuống môi, mặn hơn nước biển Nam Dương.

    Người ta đem chôn Trọng tại cái nghĩa địa nhỏ của đảo trên một ngọn đồi cao, đầy những cây dừa xum xuê lá, ngày hôm sau, đám người vượt biên được tàu hải quân Nam Dương đến chở về Jakarta, Trọng lẻ loi nằm lại đó, xứ người, đứng ở cuối sàn, chiếc tàu chiến lần lần xa bờ đảo Pulau Butong, nơi cách xa Gò Dầu một trời thăm thẳm, môt lần nữa, không biết rồi sẽ có một lần nào nữa không, Thuận òa lên khóc, nghèn nghẹn, lâm râm khấn nguyện “xin ngủ yên trong an bình Trọng ơi, nơi đó dòng nước đời sẽ mãi không còn đục, hẹn một ngày ở kiếp sau, vĩnh biệt”.

Thuyên Huy
Đầu tháng mưa xứ người 2015