Friday, December 27, 2019

Đêm Giáng Sinh Đóng Quân Ở Tha La Xóm Đạo - Nguyễn Trọng Hoàn


Đêm Giáng Sinh Đóng Quân Ở Tha La Xóm Đạo
 
 

 ( HNPĐ ) 1. Tôi không biết có phải qua bài thơ dài tới 93 câu của Vũ Anh Khanh mà từ một vùng đất…” đèo heo hút gió” của xã An Hòa, quận Trảng Bàng, đã khiến nơi này biến thành một địa danh rất trữ tình của thi ca và âm nhạc.


Nhưng, với Tôi hay nói xa hơn một chút nữa, với Tiểu đoàn 2/46/25, nơi ấy, vâng, chính nơi phía “ lắm Công giáo, nhiều Ma Việt cộng” ấy ( …theo một con đường trải nhựa, đến Quốc lộ 1, rẽ phải đi về Quận lỵ Trảng Bàng, rồi rẽ trái theo con lộ đá đỏ chậy miết đến một nhánh sông Sài Gòn… Có một căn cứ là nơi đóng Bộ Chỉ Huy của Trung đoàn ” Ông Cường”…Ông Cường là Đại tá Lều Thọ Cường, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 ), đã để lại cho Tôi những kỷ niệm khó phai…

2. Tiểu đoàn 2/46 được trực thăng vận xuống vùng Lưỡi Câu rồi xuất phát, ngược xuống các mục tiêu ở phía Tây Nam và các mục tiêu chót nằm dọc theo con sông Vàm Cỏ Đông, xanh ngắt bóng dừa nước. Nơi ấy, bên kia, phần đất Việt Nam là một đơn vị Thủy quân lục chiến đang làm tuyến án ngữ.

3. Ngày 23 tháng 12…
Những cơn gió se lạnh hắt lên hơi nước ngầy ngậy mùi phèn, có văng vẳng từ thinh không xa tít tiếng chuông nhà thờ…
– Mẹ kiếp ! Còn 2 ngày nữa là Noel rồi, mà vẫn phải “chân lấm tay bùn” như thế này.. Ông Thày , Ông…
“Thằng” Tiểu đoàn phó Dương Kim Mãng, có gốc đạo Cao Đài này, có con bồ ngay quận Hiếu Thiện này, thế mà ” thiêng” ra phết, hiệu thính viên vội mang combiné đến cho tôi:
– Ông Thày ơi… Có 173 gặp…
(Thời kỳ ấy, mã số truyền tin đã cấm không cho dùng những đại danh như Đại Bàng, Sao Lớn, Mặt Trời, kể cả những Đích Thân, Thẩm quyền rồi..) . 173 là ám danh của ” Ông Cường có dáng dấp thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ nhưng cương quyết”.
– 173…169 tôi nghe đây.
– 169 cho ngay cả gia đình anh , ” zu lu” đến tọa độ XT…
Nghe số XT69…Tôi sướng run lên.Bên kia sông là Tha La Xóm Đạo.
– Trình 173…Rồi có vượt sông không?
– Sẽ có một đơn vị ” Cải cách Bắc bình” ( Công Binh ) đón…
Mãng tung cây gậy lên trời…

4. Bộ Chỉ Huy của tôi sang sông vào những chuyến hobo áp chót…Đại tá Cường cùng Ban tham mưu nhẹ với những chiếc jeep có ăng-ten tua tủa đứng chờ…
– Mệt không…nào….” toa” được đặc ân của Sư đoàn đấy nhé…Ông Tướng cho ” toa” dưỡng quân ít ngày, rồi… ( …rồi, mấy “bố” này chẳng tốt lành gì, sau này tôi mới biết, đơn vị tôi là TĐ tăng phái đầu tiên cho mặt trận An Lộc…) Nhưng, đây là một xóm Đạo…Đừng cho ” chúng nó” quậy phá,và lệnh cấm phép chỉ “xả ra” sau tết Dương lịch đấy nhá.
– Nhưng, thưa Đại tá.Tôi có nghe đài BBC, thấy mình với Việt cộng có hưu chiến mà ?
Tự nhiên tôi thấy gương mặt vốn xám ngoét của Đại tá Cường ửng đỏ:
– Cậu không nhớ đêm Giáng sinh hưu chiến ở Trảng Lớn năm ngoái à ? Mà mình cũng mong năm nay, chúng nó tôn trọng, nhưng phải cẩn thận. Cậu nên vào thăm Cha Nghị.

5. Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn tôi đóng quân ở nhà ông Ba Tít, Tôi không biết tại sao dân ở đây gọi tên ông như vậy. Tôi cũng không nhớ Tôi quen với gia đình ông lúc nào, nhưng cứ mỗi khi đơn vị đi ngang, Tôi đều ghé vào thăm ông ít phút… Xởi lởi, sống độc thân với 2 cô con gái đang học ở Sài Gòn, chỉ Chủ nhật mới về thăm cha.
…Từ ngày vợ ông chết thảm, khi VC chiếm ấp An Hội , nơi có cái lò gạch, mà từ ngày Tết Mậu Thân não nùng năm ấy, đã cướp đi người vợ tấm mẳn của ông,  những cột ống khói của hầm nung gạch ngun ngút mùi đất nung ngày nào, không còn nhẩy múa, đùa bỡn với tiếng chuông chiều, với những đợt gió quyện theo hơi nước của con sông Vàm này nữa…
Từ đó, cứ mỗi buổi chiều, Ba Tít thường phễnh bụng trên bộ chõng tre, dưới bóng cây mít già ( ấy, già thế, trông cằn cỗi là thế mà hoa trái quanh năm đấy, lại do ông nhạc của goa trồng đấy, ôi, Bà ơi, bà nó ơi ! ), với cút rượu Gò Đen, với những câu nguyền rủa: “ Bọn vô thần vô thánh chúng bay…Goa mà bắt ( ? ) được một đứa, thì goa giết một đứa, bắt được 2 đứa..Goa giết 2 đứa”…
Cho đến khi ông “ bắt được” đứa thứ 100, 101 rồi ông lăn quay ra ngủ…

6. Chiều 24…
Tôi đang đứng ngắm hàng cây cam quýt thẳng tắp mới được vun gốc,thì có tiếng xe lam đậu trước cổng, có thấp thoáng bóng áo dài tím…A..
– Chào cô Dược sĩ ! Cô mà là VC thì tụi tôi chết cả nút.
– Thiếu tá cứ giỡn em hoài, ấy là vì em mới đến thăm chị em. Gặp ông Tướng mới biết anh Đáng về đây, đã mấy hôm rồi. Em vội lên…Đại đội anh Đáng đóng gần đây không, Thiếu tá..?
( Đáng là một Trung đội trưởng Trinh sát 46…Khi tôi qua TĐ 2 này…Tôi có xin Đáng về theo, Anh đang làm Đại đội trưởng Đại đội 3. Trong một lần Ủy lạo..Một “em gái Hậu phương” có cái tên ngồ ngộ, lãng mạn, bay bổng thi ca… Ngô Thị Chiều Tím đã phải lòng ngay anh chàng ăn nói bạt mạng, gan lì, hay lôi cả dòng họ Đỗ Đình ra…” khoe”…
Tình yêu của họ tưởng vỡ tan khi Chiều Tím lỡ lời khoe với bà chị họ, lại là người nhà của Chuẩn tướng Tư Lệnh.
Đáng được gọi thẳng lên gặp Đại tá Tích, Trưởng phòng Tổng quản trị Sư đoàn…
Ra khỏi cửa phòng “ ông Tích”. Đáng văng tục liên hồi rồi phóng xe về thẳng Tiệm Thuốc Tây ở Ngã tư Trung Chánh nơi có Bố của Cô Chiều Tím làm chủ.
Trong lúc Đáng bước lên xe jeep trở về Chà Rầy là lúc Chiều Tím bị ông bố đay nghiến:
– Cái thứ lính tráng mất dạy này. Con “ nhặt “ nó ở đâu ra vậy? Từ này bố cấm con! quen với thằng xích lô xe kéo cũng được…Trừ thứ mục hạ vô nhân này !
– Không đâu bố ạ…Anh ấy có dòng Đỗ Đình… Có..
– Không có với không gì hết…từ nay cấm !
Chẳng biết ông cấm thế nào mà từ đó Đáng ít nói hơn. Họ lại càng khắng khít hơn. )

7. Mãng xòe lòng bàn tay . Nói với 3 Đại đội trưởng:
– Trong này có 3 cái thăm. Ông nào bắt được số 2 thì trở về ấp 2 ( An hòa 2 ), ông nào bắt được số 3 thì đóng quân ở đây…làm thành phần trừ bị..Còn không may, ông nào bắt trúng số 1 thì ở lại gặp Tiểu đoàn trưởng..
Đáng bắt số 1…Tôi chỉ vào khu vực mênh mông những nước ở phía Nam của cầu Quan: Khu từ cầu đến sát bờ sông này là khu vực hoạt động của Cậu. Những mục tiêu có số lẻ là chỗ Việt Cộng thường đặt súng cối pháo kích vào đây, vào Quận lỵ. Tôi vừa gặp Cha Chánh Xứ. 2 Khẩu đại liên ở trên gác chuông sẽ yểm trợ trực tiếp cho Cậu ( Hồi ấy chưa có gác chuông giống lồng chim như sau này )…Cuộc hành quân này sẽ chấm dứt vào 1 giờ đêm . Sau đó, cậu sẽ về đóng quân tại XT..
Rồi như có vật gì chặn cứng cổ họng…
– Nhưng, …
Tôi cố làm vẻ tự nhiên..
– Còn…” Ngàn Thu Áo Tím” của cậu thì sao? Hay để thằng Bắc dẫn đại đội đi vậy?
Đáng đứng bật dậy, gấp tấm bản đồ bỏ vào túi áo :
– Cô ấy sẽ ở đây, sẽ vào Nhà thờ lễ…Rồi sau lễ nửa đêm, rồi 1 giờ đêm, bên hang đá, tôi sẽ trao cho cổ cái nhẫn đính hôn này ( đáng vỗ vỗ vào cái túi nhỏ bên cánh tay. )

8. “Máu nhuộm sân…Nhà thờ”:
Tôi nói với Dương Kim Mãng:
– Ông ở Bộ chỉ huy coi “ nhà”, tôi vào trong nhà thờ làm…Đạo vòng.
Bộ Chỉ huy nhẹ của Tôi vừa đi ra khỏi cổng lò gạch, bỗng nghe một tiếng súng cối..kế tiếp một tiếng nữa.. “ Vào ngay nhà thờ rồi ”…Một sĩ quan la lớn…Tiếp đến là những tràng đạn đại liên từ gác chuông…Tôi quay lại lò gạch, rồi vỗ vào vai Sĩ quan Tiền sát pháo binh:
– Ông cho thằng Chà Rầy, Trảng Bàng. Cả thằng Củ Chi nữa, TOT vào những mục tiêu tiên liệu đi.
Những tiếng phản pháo rung chuyển mặt đất nhưng không át được tiếng tiếng Mãng:
– Thằng 3 đụng địch…Rồi…Có chiếu sáng cho mày rồi đấy…Rồi, rồi…Bảo nhà thờ ngừng bắn…Thế hả?…Mấy đứa…
Một hiệu thính viên của một trung đội đóng trong nhà thờ báo cáo thẳng cho Bộ chỉ huy…Tôi nghe xong, buông máy rồi kéo Bộ chỉ huy nhẹ “chất” lên chiếc jeep chạy thẳng vào Nhà thờ.
Quái lạ, không có một giáo dân nào chạy từ Nhà thờ ra cả,  vẫn tiếng hát vang vang: “ Mẹ ơi, đoái thương cho nước Việt Nam…Trời u ám chiến tranh điêu tàn…”
…2 quả pháo súng cối đang ghì kéo âm vang thánh ca cao vút kia, xuống cùng với làn khói đạn mịt mù, đang vây quay hang đá…Có nhiều người nằm la liệt….Có cả một vạt áo dài mầu tím hất lên che khuất một gương mặt…
Mắt tôi cay cay (… tôi sẽ trao cho cổ cái nhẫn đính hôn này ..)
Có tiếng Cha chánh xứ:
– Nhanh lên các Con, chuyển hết về Bệnh viện Trảng Bàng.
Tiếng chuông nhà thờ lại đổ dồn…tiếng hát…tiếng cầu kinh…
Tôi đến bên chiếc jeep , ở đấy mấy chiếc máy truyền tin PRC-25 đang ồn ào truyền, nhận lệnh…Có tiếng Mãng đang như càng lúc càng gay gắt, bên kia là tiếng của Đáng…
– Họ gom hết đưa ra bệnh viện Trảng Bàng rồi…sống chết làm sao, tôi chưa biết…Khoan khoan…Không được làm bậy….
Tôi chộp lấy combiné:
– 169 gọi Đống Đa..
Tiếng Đáng sắc như gươm:
– Tôi sẽ lên 169  nhận tội…Tôi, chính tôi đã “ xử” thằng Việt Cộng trưởng toán này rồi…Còn 2 thằng tôi đang tính cho nó về chầu Diêm vương…. vâng vâng, tôi sẽ giải chúng về.

9. Sáng 25… Trên chiếc chõng tre, mấy chú “ tà loọc” đã  hâm lại phần “ tiệc” Lễ nửa đêm do cha Chánh xứ gửi biếu…
Tôi kết thúc buổi họp… nhìn về phía Đáng:
– Tôi nghiêm khắc cảnh cáo Đại úy Đại đội trưởng Đại đội 3.  Vì lý do gì, chắc Đại úy đã hiểu… Cũng may, lúc này không còn “ bọn” cố vấn Mỹ, chứ không, hành động giặc cỏ kiểu Lương Sơn Bạc của Đại úy sẽ gây ra rắc rối to cho đơn vị.  Đại úy nghe rõ chưa?
Có tiếng giầy máp, có tiếng nghẹn ngào của Đáng:
– Nghe rõ !
Tôi ra hiệu cho mọi người “ nhập tiệc” , rồi bảo Thượng sĩ Hùng Ban 1:
– Ông viết cho Đại úy Đáng một sự vụ lệnh về Bệnh viện Cộng hòa thăm thương bệnh binh…Sau đó, Đáng được nghỉ 48 giờ để…
Tôi chỉ vào cái gói Đáng cứ kẹp mãi trong nách:
– Cậu đưa ngay cái gói  chiến lợi phẩm kia cho tôi.
Đáng nói như khóc :
– Xin Thiếu tá cho tôi cái này,  tôi sẽ đốt trước linh cửu..
Tôi nói to như cố cho các Sĩ quan có mặt cùng nghe :
– Cái gì linh cữu? Sáng nay, Cha Nghị đã từ bệnh viện Trảng Bàng về qua đây báo tôi một tin vui…Trong 13 người mang đến bệnh viện ngày hôm qua,  chỉ có một nạn nhân còn phải nằm lại. Tất cả đã xuất viện, kể cả cô nàng “ Ngàn Thu Áo Tím” của ông đấy. Còn cái áo “ Đẫm máu cháu Bác Hồ” này. Tôi sẽ biếu cho Chú Ba làm mồi.  Nghe nói hôm nay, Chú đốt lại cái Lò gạch.
Đáng nhẩy lên nhẩy xuống như một đứa trẻ con.
Tiếng Chuông nhà thờ ngất ngây, thánh thót..


Nguyễn Trọng Hoàn ( HNPĐ )
(  Bài viết này cũng để tặng :
– Hương hồn Cố Thiếu tá Dương Kim Mãng, Tiểu đoàn Phó TĐ 2/46 /25 BB..
– NT Bùi Văn Ngô ( K 16 ) Quận trưởng & Chi khu trưởng Trảng Bàng – Đồng Môn, Đồng Khóa, Đồng đơn vị: Trần Như Xuyên )

304Đen – Llttm -dsc

 

Những Đứa Trẻ Tháng Tư - Khuất Đẩu



NHỮNG ĐỨA TRẺ THÁNG TƯ
 
 
 

Thủa ấy, thế hệ chúng tôi thường ca cẩm đầu thai nhầm thế kỷ! Cái thế kỷ mà chúng tôi ngán ngẩm là thế kỷ hai mươi, với thế chiến thứ nhất, thế chiến thứ hai, rồi chiến tranh lạnh, chiến tranh qui ước và cuộc nội chiến lê thê suốt hai mươi năm dài.
Kêu trong chán nản, trong hờn dỗi nhưng không tuyệt vọng. Vì còn kêu được kia mà. Chỉ có một chút tấm tức, sao không được sinh ra trong những thế kỷ yên bình. Có nghĩa rằng, dù thế nào chăng nữa, thì được sinh ra làm người vẫn hơn là không được sinh ra.
Khác hẳn với những đứa trẻ sinh ra trong tháng tư, bảy lăm, sau chúng tôi một thế hệ. Chúng không kêu mà hỏi:
Sinh chúng tôi ra làm gì?

Đó là những đứa trẻ mẹ mang đầy bụng, mẹ không thở ra hơi mà vẫn phải bết bát chạy.
Chạy từ cầu Ái Tử qua cầu Tràng Tiền. Rồi từ cầu Tràng Tiền lê lết trèo qua đèo Hải Vân. Rồi từ đèo Hải Vân qua đèo Mẹ Bồng Con. Sau cùng đến giữa trái tim thủ đô Sài Gòn, vẫn phải giẫm đạp lên nhau để xuống bến Bạch Đằng, hay chen lấn nhau đến nghẹt thở để chui vào phi cảng Tân Sơn Nhất. Một cuộc chạy Marathon dài nhất trong lịch sử.
Và rồi mẹ sinh. Không phải trong nhà thương Từ Dũ với sự giúp sức của các bác sĩ và cô đỡ mát tay để mẹ tròn con vuông.
Mà sinh, có thể là lúc đang chạy trối chết, con rớt trong quần mà mẹ không hay.
Cũng có thể là lúc mẹ mệt quá cái đôi chân này đang ngồi tựa lưng vào một bức tường lỗ chỗ dấu đạn. Rồi con lặng lẽ chui ra mà mẹ không cần phải rặn, đúng hơn là không còn hơi sức đâu mà rặn.
Có thể trong thùng xe chất cứng người, suýt nữa con bị người ta đạp cho nát bét.
Có thể trên con tàu mấp mé sắp chìm, người ta đang ném những xác chết và những người sắp chết xuống biển cho nhẹ bớt. (Cũng may họ không ném những người đàn bà chửa)
Có thể trong khoang trực thăng mà viên phi công bị đạn dưới đất bắn lên, xuyên qua ghế ngồi khiến anh ta đầm đìa máu, vẫn cố sức giữ cho máy bay khỏi rơi.

Có thể mọi lúc, mọi nơi, mọi giờ, mọi phút.

Ngay cả phút cuối cùng của giờ thứ hai mươi lăm, khi tông tông Dương Văn Minh vừa nói xong mấy tiếng “đầu hàng không điều kiện”.


Mẹ sinh, không có cha bên cạnh.

Có thể cha đã chết trong chiến hào, có thể đang chiến đấu mà súng bị gãy, có thể bị thương, bị bắt, cũng có thể cởi bỏ quân phục lẫn lộn giữa đám thường dân đói khát trên quốc lộ số 1

Người ta đi biển có đôi
Còn tôi đi biển mồ côi một mình.
Mẹ sinh con ra chỉ mình ên, quạnh hiu lắm con ơi!
Mẹ sinh con ra, chính mẹ, cũng không biết để làm gì!
Không biết để làm gì nhưng vẫn muốn con được sống.


Giữa chốn đông người, mẹ vẫn cứ vạch áo ra cho con bú. Tuy chỉ uống nước lã cầm hơi, mẹ cũng hãy còn một ít máu. Những giọt máu hiếm hoi màu đỏ khi chảy qua miệng con vẫn thành màu trắng thơm tho.

Và kỳ diệu làm sao, con vẫn sống được.

Nghĩa là con vẫn thở trong khi khắp nơi đậm đặc mùi xác chết thối rữa, mùi khói, mùi xăng, mùi nhà cháy. Và con vẫn khóc được trong tiếng đại bác ì ầm, tiếng A.K cọc cọc, tiếng xe tăng rít trên mặt đường.
Con sống, nhưng sau cái phút cuối cùng của giờ thứ hai mươi lăm, mẹ ngơ ngác không biết đang ở đâu, rồi sẽ đi về đâu giữa rừng cờ nửa xanh nửa đỏ.
Sau cùng, mẹ cũng hiểu ra rằng lịch sử đã sang trang. Không chỉ riêng mình mẹ mà nửa nước đều thấy xa lạ với chính thành phố, xóm làng của mình. Ngay cả con phố, căn nhà, mảnh vườn cũng không còn là của mình nữa.
Mẹ bị đuổi về quê làm xã viên hợp tác xã. Mẹ lội xuống ruộng, mặc dù rất sợ đỉa, để cấy, gặt. Đôi lúc mẹ trần vai để kéo cày thay trâu. Mẹ làm ra lúa ra khoai đầy kho đụn, nhưng mẹ và những người đội nón lá chỉ làm cho nón cối hưởng, nên con vẫn đói khát, bủng beo.
Mẹ bị hốt trong đêm quẳng lên rừng thiêng nước độc, gọi là kinh tế mới. Mẹ phải sống chung với rắn rít và cả cọp beo, khi ấy hãy còn nhiều lắm. Mẹ bẻ măng rừng, hái nấm ăn cho đỡ đói. Nhiều lần ăn phải nấm độc suýt chết. Cả con và mẹ đều bị sốt rét rừng, bụng ỏng da vàng khè.
Chịu hết xiết, mẹ cõng con trốn về thành phố. Mẹ vay mượn chút ít chạy chợ trên, lộn chợ dưới. Bị mắng là con buôn, bị quản lý thị trường rượt đuổi còn hơn mã tà. Một đôi lần bị cướp sạch cả vốn. Đến nổi, nói ra thật xấu hổ, chỉ còn cái vốn trời cho. Để làm lại cuộc đời mẹ đã thử theo bè bạn đi đứng đường. Nhưng mẹ gầy yếu teo tốp quá, chẳng ai thèm rớ tới.
Cũng may, lúc ấy cha con chẳng phải chết, chỉ bị bắt đi cải tạo, vừa được thả ra. Cha con còn thảm não hơn cả mẹ. Nhưng nhờ cái gọi là tình chồng nghĩa vợ, mẹ cha cũng gắng gượng mà sống để nuôi con. Cha đạp xe thồ, bán cà rem, mẹ lượm lon nhặt giấy vụn trong bãi rác.

Con được (hay bị) dạy thành cháu ngoan Bác Hồ.

Rồi con cũng học đến lớp 12.
Nhưng tới đó thì thôi, cánh cửa đại học đã đóng sầm trước mặt con.
Con bị ném vào đời không nghề nghiệp, không vốn liếng.
Con sống lây lất cho đến hôm nay.


Hôm nay, những đứa trẻ tháng tư năm ấy đã bốn mươi tuổi, cái tuổi
"tứ thập nhi bất hoặc." Còn bi đát tội nghiệp hơn cả cha mẹ, chúng không có quá khứ để tiếc thương, không có tương lai để hướng tới, chỉ có cái hiện tại không sắc màu, không mùi vị, như một con số không chẳng biết để làm gì.
Trong gia đình, nhìn thấy mẹ cha co rúm, mòn cùn, tuy không nói ra, nhưng chúng thừa biết họ là những kẻ hèn. Ngoài xã hội, chúng chỉ đứng bên lề, nếu không muốn nói là đứng dưới đáy. Trong khi những đứa cùng năm sinh, tháng sinh nhưng ở nửa nước bên kia hay dưới cái dù lý lịch màu đỏ phía bên này đang được cơ cấu vào những chức vụ ngon ăn, sắp sửa đi làm đầy tớ cho những ông chủ kém may mắn nói trên.

Thế nên, đến chết vẫn còn nguyên câu hỏi:
Sinh ra trong chết chóc, lớn lên trong đói khổ và suốt đời sống trong ô nhục, vậy sinh chúng tôi ra làm gì?!

Khuất Đẩu
©T.Vấn 2015

304Đen – Llttm - YD

 

Giấu Tình Yêu - vkp Phượng ngày nay


GIẤU TÌNH YÊU  

( Xin phép được cảm ý bài Giấu của thi sĩ Trầm Vân )

 
 
 
 















Giấu tình câm trong tim côi
Máu luân lưu sẽ đắp bồi ái ân
Giấu tình xa nơi sông Ngân
Chờ cầu Ô Thước đưa gần tới nhau
Giấu tình muộn, nén khổ đau
Một lần gặp lại đã vào cuối thu
Giấu tình sầu chốn phù du
Mai về bên ấy hát ru nhạc buồn
Tình ngoại Đạo giấu tháp chuông
Thấm nhuần giáo lý cội nguồn yêu thương
Giấu tình lỡ để tìm quên
Men cay rượu đắng môi mềm ướt mi
Giấu tình yêu? Hởi cố tri!

 
Saigon Mùa Giáng Sinh 2019
vkp phượng ngày nay

Wednesday, December 25, 2019

Bốn Mươi Lăm Năm Tình Lỡ - Thuyên Huy


Bốn Mươi Lăm Năm Tình Lỡ

Để tặng T. Trang

 
 
 










Bốn mươi lăm năm mình gặp lại
Trên chuyến xe chiều qua phố quen
Ngở ngàng lặng thinh không ai hỏi
Hơn nửa đời người chợt nhớ tên

 
Hai đứa quen nhau chiều cuối hạ
Góc sân trường vắng đứng chờ mưa
Tóc theo từng giọt gầy trên lá
Khẻ hỏi thầm nhau nắng về chưa

 
Người viết cho tôi tình thư trắng
Tôi gởi lại người giấy màu xanh
Đếm buồn theo từng ngày xa vắng
Nép bóng bên nhau dệt mộng tình

 
Biền biệt người đi trời xa xứ
Tôi bán hồn thơ giữa chợ đời
Lâu lắm quên mở tờ thư cũ
Của thuở chờ nhau một kiếp mai

 
Người bước xuống xe về cuối ngõ
Ngậm ngùi tôi lặng lẽ nhìn theo
Cũng bờ vai nhỏ ngày xưa đó
Mình dắt nhau đi giữa phố chiều

 
Tóc xanh chốn cũ giờ đã bạc
Còn nợ gì nhau ở đời này
Đàn xưa thôi không còn tiếng hát
Mai sau xin làm kiếp cỏ cây

 
Thuyên Huy

 

 

Người Nam Kỳ - Nguyễn Gia Việt


NGƯỜI NAM KỲ...

 
 
 

Người Nam Kỳ không lập gia phả 

Đó là một câu khẳng định chắc như đinh đinh đóng cột nhà.
Gia phả là gì?家譜 gia phả hoặc gia phổ là phả hệ của một dòng họ,gia đình,là cuốn sách chép tên ông bà tổ tiên,con cháu của một dòng tộc nào đó.

Người Bắc Kỳ xưa rày ta nghe tới là thói "lũy tre làng", có gia phả, có dòng tộc nghiêm ngặc, có trưởng tộc, có nhà thờ tổ, mả tổ, thủy tổ và những quy định ná thở với con cháu. Nhưng với dân Nam thì không có, hoặc có hời hợt, hình thức.

Dân Nam Kỳ có câu cười Bắc Kỳ là "Tổ tiên đại bác thụt chưa tới".

Chúng ta biết tổ tiên khai phá dựng lên Nam Kỳ Lục Tỉnh là dân khai hoang, kêu là lưu dân.

流民 lưu dân là dân phiêu lưu, dân đi xa, dân bỏ làng quê gốc mà ra đi.

Đó là người Ngũ Quảng: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi hiệp cùng người Minh Hương, đồng hóa người Khmer, người bổn địa Stieng... mà trộn ra dân Nam Kỳ ngày nay.

Đó là dân nghèo rách nát, dân bị lưu đày, bị truy nã, bị làng ruồng bỏ, gái chửa hoang, học trò thất chí, quan bị biếm chức, người thích phiêu lưu, giang hồ lãng tử...

"Tới Cà Mau - Rạch Giá
Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?"(Sơn Nam) 

Xa hơn dân Ngũ Quảng là những người ở mạn Bắc di cư theo chúa Nguyễn Hoàng vô Trung Kỳ mà Phạm Duy tả là "Gió tiễn người về đến quê hương câu ca giọng Hời."

 
"Mộng ngoài biên giới mơ hồ
Chẳng ngăn được sóng vỡ bờ
Với đêm mờ hồn về trên Tháp ma"

Rồi thời chúa Nguyễn, lưu dân Việt từ Ngũ Quảng theo bà Ngọc Vạn vô Mô Xoài, Đồng Nai:

"Nhà Bè nước chảy chia hai 
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về" 

嘉定 Gia Định là nơi đô hội, trù phú nhứt Nam Kỳ, có nghĩa là định cư nơi an ổn, phước lớn.

Là những lưu dân tạo ra hợp chúng quốc Nam Kỳ, ông bà chúng ta tạo ra một nền văn hóa đặc trưng riêng của Nam Kỳ mà nhìn lại có phần khác ngoài Trung, đối lập với ngoài Bắc.

Thí dụ Bắc ăn bánh chưng cắt 8 miếng hình trụ nhọn, Nam Kỳ ăn bánh tét -tét ra khoanh tròn, Bắc Kỳ uống trà kêu uống chè, Nam Kỳ kêu trà.

Văn hóa Bắc là lũy tre làng bốn góc chôn chặc cái làng ở giữa, làng nào sống kiểu làng đó, cấm giao lưu trai gái, có hương ước ngặc nghèo, có thầy Lý hắc cám, có con Thị Màu lẳng lơ, có chị Dậu bế tắc, có những người con gái chửa hoang bị cạo đầu bôi vôi thả bè chuối trôi sông.

Nam Kỳ khác Bắc phần nhiều.

Nam sống mở, làng của Nam dựa vô mé sông, giao lưu với làng khác bằng ghe xuồng, bằng những con lộ, người Nam luôn mời khách xa xôi vô ở chung, giúp đỡ nhau cùng an cư vui vẻ, gái làng thích lấy trai xa xứ và thương chồng đứt ruột đứt gan vì cái quá khứ "trôi sông lạc chợ" đó.

"Rồng chầu ngoài Huế ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Thương người quân tử lạc loài tới đây,
Tới đây thì ở lại đây
Bao giờ bén rễ xanh cây sẽ về"

Gái Nam Kỳ chịu chơi, dám theo người mình yêu, dám nhận hậu quả do tình yêu đó đem lại.

"Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp dzìa"

Ông bà tổ tiên Nam Kỳ mình quá hãi hùng ở đất Bắc hắc ám nên vô Nam bỏ tục gần hết. 

Họ không muốn con cháu họ phải sống cái cảnh mõ làng rùng rợn phiên xử "hương ước" ở đình làng như ngoài Bắc.

Làng xóm Nam Kỳ không có hương ước, lệ làng, làng Nam Kỳ là làng mở, nhưng có những luật bất thành văn, mọi người phải tôn trọng, làng Nam Kỳ tuân luật triều đình, tôn trọng quan chủ quận, tri huyện. 

Thành ra gái Nam thất tiết thì bị gia đình xử bằng cách đuổi ra khỏi nhà, nhưng đuổi là thủ tục thôi vì lén nhét tiền của cho nó đi trốn khuất mắt một thời gian hoặc đày nó xuống nhà sau cấm ló mặt lên nhà trước trong một hai năm, hoặc ra vườn sau cất nhà mà ở. Hết thời gian đó cô gái sống lại bình thường, con cháu máu mủ mình mà.

Nên ai làm phim làm cạo đầu bôi vôi, thả bè chuối trôi sông, thả rọ heo xuống sống, quăng người xuống giếng là không hiểu gì về văn hóa Nam Kỳ. Tổ tiên Nam Kỳ chúng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ đó trong đầu với con cháu mình.

Người Nam Kỳ không lập gia phả, vì sao?

Đừng bao giờ nói người Nam Kỳ là lưu dân dốt không biết chữ mà không lập gia phả.

Các bạn nghiên cứu thấy rằng Nho giáo Bắc Kỳ là đầu môi chót lưỡi, tức thể hiện bằng cái miệng, Nho giáo Nam Kỳ thể hiện bằng cách sống.

Có ai đó nói “Người Bắc cao đạo một cách ngây ngô còn người Nam thì thực tế một cách trần trụi".

Cái chữ trần trụi hơi quá, nhưng những quy tắc bất thành văn ở Nam Kỳ nó vô hình dữ lắm nha, thí dụ dân Nam Kỳ mời bạn ăn cơm, mà bạn ăn hỗn trong mâm cơm quá, họ không nói, nhưng lần sau sẽ không mời. Người Nam Kỳ luôn để khách tự giác và không nhắc nhỡ.

Trong làng Nam Kỳ vẫn có người biết chữ Nho,sau là chữ Quốc Ngữ, nên biết chữ Quốc Ngữ được dạy ở Nam Kỳ đầu tiên.

Nhìn đền chùa, miếu mạo Nam Kỳ xưa đi,hoành phi câu đối rất nhiều, đó là bằng chứng.

Không viết gia phả vì thấy không cần thiết. Một xã hội mở thì không cần gia phả.

Xưa đất rộng người thưa, con cháu đi tứ tán, ở nhà toàn nhờ láng giếng gần đó,có câu "Bán họ hàng xa mua láng giềng gần".

Là dân gốc lưu dân, dân Nam muốn xóa bỏ quá khứ hãi hùng từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Cách xưng hô “anh Cả” ở Bắc so với “anh Hai” ở Nam là điển hình.

Rất nhiều người đặt câu hỏi tại sao người Nam gọi “anh Cả”, “chị Cả” (người con trưởng, theo cách gọi miền Bắc) là “anh Hai”, “chị Hai”? 

Nhiều người giải thích rằng thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng dân ở Bắc vào khai phá vùng đất Phương Nam, rằng trong đoàn quân Nam tiến lúc đó, hầu như không có ai là “anh Cả”, vì đi mở cõi thì nguy hiểm, theo tục Bắc phải để người con trưởng ở lại để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc mộ phần tổ tiên; những người ra đi đều là con thứ.

Nói vậy không trúng.
Có những gia đình họ ôm cả nhà cả dòng họ của họ vô Nam kìa.

Chuyện anh hai ở Nam Kỳ là chuyện đặc trưng,không thể giải thích là ông cả cọp gì đó mà sợ nên Nam Kỳ tránh "Anh Cả", vậy chứ ông Hương Cả thì sao? Nam Kỳ có Hương Cả trong ban hội tề.
Đơn giản người Nam cố tình làm cho khác Bắc Kỳ khi bỏ cả, chỉ gọi người lớn là anh hai, chị hai.

Bỏ chữ cả là một dạng dứt áo, cắt đứt với hương ước, lũy tre làng, với họ tộc kinhhoàng kiểu Bắc Kỳ.

Ông Hương Cả trong Nam đâu có quyền hành gì, chỉ tượng trưng và là cả duy nhứt trong Nam, có lẽ là một chút hoài vọng. 

Người Bắc thừa tự là con trưởng, nhưng thừa tự, cúng kiếng trong Nam là con trai út, Nam Kỳ rất thực tế, thằng út lúc nào cũng trẻ trung, nó sẽ gánh vác gia đình ở mức hăng hái, thằng hai thì già chát, nhỏ hơn cha mẹ không nhiều gánh gì nổi.

Câu "Giàu út ăn nghèo út chịu"cũng của Nam Kỳ đưa ra.

Thằng út giữ hương hỏa trong nhà,nhưng vẫn không hạ bệ thằng anh hai nha.

Bằng chứng là trong những ngày giỗ chạp, cúng kiếng tổ tiên, đám cưới thì ông anh hai vẫn đứng ra tế lễ, thằng út đứng sau lưng anh hai.

Trong họ tộc thì người thứ hai vẫn mang tiếng người đứng đầu, đám cưới thưa gửi là ông bác hai hết thảy, ông này chết thì ông bác ba lên thế.

Nhưng anh hai làm lễ thôi, anh hai không có quyền xen vô chuyện cúng kiếng của thằng út như cúng lớn, cúng nhỏ, cúng ra làm sao. Nam Kỳ chia quyền hết là ở đây.

Ngày nay Nam Kỳ thực tế luôn ở kiểu chia bàn thờ, anh hai giỗ cha, út giỗ mẹ, tới ngày tụ lại hai nhà vui vẻ.

Không gia phả, không họ tộc, không có khái niệm nhà thờ tổ, nhưng Nam Kỳ mặc định nhà thằng Út là nhà thờ tổ, tức là nhà nào mà cha mẹ, ông bà chết và thờ là nhà tổ.

Ông nào giữ hương hỏa có nghĩa vụ làm đám giỗ, không có quyền chỉ trỏ, ra lịnh này nọ nghĩa vụ với con cháu như tộc trưởng ngoài Bắc.

Con cháu trong Nam sướng là vậy, cứ về ăn đám giỗ, giàu mua đồ nhiều, nghèo mua đồ ít, không ai dám nói.

Với bản chất trọng người sống, kính người chết ở mức tượng trưng, việc cúng kiếng Nam Kỳ cũng khác Bắc Kỳ.

Thường giữa nhà người Nam đặt cái bàn thờ 九玄七祖 "Cửu Huyền Thất Tổ" tức "7 đời tổ tiên trên chín tầng trời@.

Nhưng thực ra người miền Nam cúng giỗ chỉ 3 đời tới ông cố bà cố thôi, hết 3 hoặc 4 đời là không cúng kiếng gì nữa.

Có câu: 五代埋神主 “Ngũ đại mai thần chủ" (Đến 5 đời thì chôn thần chủ), tức đem bài vị chôn hoặc đốt, nhập lại làm một gọi là "Cửu huyền thất tổ' và giỗ chung tượng trưng.

 
"Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ
Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha"

Cái đình Nam Kỳ rất chan hòa, vui vẻ, là nơi dân làng tụ hợp lại cúng thành hoàng rồi ăn uống vui chơi, coi hát bội, nó như một cái ân khấu.

Gánh hát về đình là niềm vui bất tận của người Nam Kỳ.

Nam Kỳ không có thằng mỏ tay chưn của lý trưởng, không có cảnh phạt vạ kiểu Thị Màu 

Trong cái làng Nam Kỳ có nhà việc là chổ làm việc của làng, tra án ở đó, không mang vô đình như Bắc Kỳ.

Coi 'Con nhà nghèo', bà Cai Hiếu đòi đóng gông Ba Cam thì Hương Quản đáp lại "Tôi đang tra án nó, mà thủa nay làng tôi có gông đâu mà đóng".

Là gốc lưu dân, không viết gia phả, không lập họ tộc, không lập lũy tre làng, không có ông lý trưởng hét ra lửa.

Để ý coi đi trong đám giỗ Nam Kỳ luôn cúng một mâm ngoài sân nhà, đó là mâm cúng lề, cúng những người khai hoang bỏ mình hồi xưa, sau 1975 CS kêu "mâm chiến sĩ" 

Tất cả các miếu, am, và bàn thông thiên Nam Kỳ đều có cúng mấy hủ muối, gạo và nước, có nơi cúng bó củi.

Đó là cúng tổ tiên gốc lưu dân của mình hồi xưa.

Người Nam Kỳ cúng lề, cúng đất, cúng cô hồn.

Cúng tổ tiên Nam Kỳ chung là ngày 25 tháng Chạp, khi con cháu tụ về dẫy mả, tảo mộ, họ sẽ làm mâm cơm cúng ở nhà, thường là nấu cháo gà cháo vịt.

Tục thờ ông bà ở Nam Kỳ rất đơn giản, chỉ ba bốn đời, nhưng không được bỏ bàn thờ tổ tiên..

Đồ Chiểu chửi rằng "Sống làm chi theo quân tả đạo-Quăng vùa hương đạp bàn độc thấy lại thêm buồn" 

Xưa nam Kỳ có cái bàn thờ và giường thờ.

Người Pháp qua, đem qua Nam Kỳ cái tủ chén đứng kiểu thời Louis XVI, không cao không thấp, trước tiên là ở xứ Thủ Dầu Một, sau thợ Gò Công sáng tạo đóng cái tủ thờ dựa trên nguyên lý ráp mộng đi khung của tủ kiểu Pháp, nhưng cải tiến theo phong tục Nam.

Từ đó cái tủ thờ này là đặc trưng Nam Kỳ Lục Tỉnh, hiệp cùng tranh kiếng nữa, ra cái hồn tổ tiên Nam kỳ mình.

Trong "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức có đoạn: 

"Vùng Gia Định.... đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ. nhà nào tục nấy…. Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trong nghĩa khinh tài…."

Đó là tánh hiếu khách, hào phóng, không câu nệ hình thức, sống thực dụng. 

Dân Nam Kỳ hay đờn ca xướng hát, làm ra đờn ca tài tử và cải lương vang danh, hệ thống bài lý nhiều nhứt Việt Nam.

Người Nam Kỳ trọng tôn giáo, nhưng kiểu của họ.

Đạo Phật vô Nam biến thể, phải trộn với tín ngưỡng dân gian. Dân Nam Kỳ không phải là những tín đồ Phật giáo thuần thành.

Các phái Phật trong Nam đều là biến thể, chùa trong Nam không lớn.

Công giáo trong Nam Kỳ xưa khác ngoài Bắc,Nam không có các giáo xứ, người Công giáo Nam Kỳ hòa nhập, thế tục.

Sông rạch và đồng bằng tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn trong chánh trị, nhưng tràn trề tình thương, biết nhìn người khác, biết cúi mình xuống với Quốc Gia 

Dân Nam Kỳ không những nói ngay mà hay nói lớn tiếng, thiếu trau chuốt, đôi lúc bổ bả.
Biết cái hay cái tệ của mình để nhìn lại bản thân mình.
Và tính cho ra cách thức tồn tại của xứ sở mình trước thời cuộc...

 
NGUYỄN GIA VIỆT
304Đen – llttm- - BCT