Sunday, November 23, 2014

Truông Nứa - Thuyên Huy


TRUÔNG NỨA
 
Để tặng chị tôi, xin trả thay cho một chút nợ nần mà tôi không trả được ở đời này.
 
 
1.   

    Nắng len nhẹ, từng giọt nhỏ lẻ loi rớt chập chững, xuyên màn sương mờ mờ từ phía bên kia con rạch ngang, chia đôi cái truông nứa mênh mông chằng chịch rễ. Sắp sửa cuối đông, nhất là từ hôm hai mươi ba tháng chạp, đưa ông Táo đi, trời chưa chịu bớt lạnh. Ngoại khoát thêm cái áo bà ba vừa đủ bạc màu nâu, cầm gào nhỏ làm bằng mo cau khô, đi ra sàn nước, nhìn qua nhìn lại hai mươi mấy chậu vạn thọ vàng hực bông, trồng trong mấy lon sửa bò xin từ tiệm bán cà phê trên chợ xã từ những ngày giữa thu, định múc nước tưới nhưng lại thôi vì đất vẫn còn ướt đẩm hơi sương. Ngoại cúi người sắp cho nó ngay hàng thẳng lối dọc theo tấm vách đất bên hông nhà, miệng đếm từng chậu một. Đưa tay vuốt hờ mấy cọng tóc bạc trắng lòa xòa che trên vầng trán nhăn nheo, ngoại nhìn mông lung xa xa ngoài phía cuối truông không nói một lời. Nắng theo bóng ngoại nghiêng nghiêng ngã về phía tấm liếp cửa đan bằng lá dừa già. Ở ngoài vàm sông lớn đã có chút mặt trời lên.

    Mới đó mà thằng Chuồng, cháu ngoại của bà đã bỏ nhà đi vào đầu mùa cấy gần ba năm rồi. Những ngày còn có nó, chiều nào cũng chạy lên chợ xã, sau khi đi chăn trâu cho ông sáu Khỏe về, đứng chờ tiệm cà phê ông ba Tý dọn dẹp đóng cửa, xin hết mấy cái lon sửa bò không, đem về rửa sạch phơi khô để ngoại trồng bông vạn thọ  bán vào buổi chợ chiều ngày ba mươi. Năm nào cũng vậy, từ Bến Mương, hai bà cháu, trẻ háo hức đi sau, già kéo chiếc xe cút-kích làm bằng cái thùng tre đựng chừng hai chục chậu bông đi trước, băng con đường đất dọc theo tỉnh lộ, phía bên này rừng cao su, lên bán trên chợ xã chiều ba mươi Tết. Hai bà cháu dọn mấy chậu bông trên một khoảng đất nhỏ, dưới gốc cây trứng cá trước căn phố gạch của ai đó mà bà chưa có lần thấy mặt. Chợ nhỏ, buổi chiều nhưng cũng đông người mua kẻ bán cho nên năm nào hai bà cháu đều bán hết sạch bông. Nhờ đó tiền bán năm trước có dư đủ để may cho thằng Chuồng cái áo và chiếc quần cụt mới mặc ba ngày Tết mặc dù nó chẳng có đi đâu xa, cao lắm là theo mấy thằng bạn chăn trâu xin lên chợ xã, mang theo vài chục trã lương từ người chủ điền chủ trâu, đánh bài cào ăn hột vịt lộn hay chơi bầu cua cá cọp một hai ngày.

    Ngoại là người bán bông vạn thọ duy nhất ở chợ xã chiều ba mươi từ ngày thằng Chuồng lên sáu tuổi. Chị Bền, mẹ nó, đứa con gái độc nhất của bà, lấy chồng làm ruộng thuê, năm tròn mười chín trên miệt Bến Kéo. Hai vợ chồng làm ăn cực nhọc nhưng không thấy gì khấm khá, vẫn thiếu trước hụt sau. Ngoại đau lòng nhưng bà đã nghèo cho nên không có gì để cho ngoài cái lưng già còng và dăm ba manh áo vá. Sau khi sinh ra thằng Chuồng, vợ chồng chị có bồng nó về thăm ngoại vài lần trong dịp cúng giỗ ông ngoại. Nhà trống trước trống sau nhưng hai mẹ con lần nào cũng ráng có cái tô bể kho thịt heo được bán rẻ vào cuối chợ chiều. Ở Bến Kéo không hơn hơn hai năm, vợ chồng chị Bền bồng bế nhau về tận Khiêm Hanh, Cầu Khởi quê chồng, đổi nghề đi bỏ lưới câu cá câu tôm.

    Cuối mùa gặt, năm thằng Chuồng được năm tuổi, sau khi mãn tang chồng chết vì bị rắn độc cắn khi tát nước đìa trong một ngày mưa chưa tạnh hẳn, chị Bền dắt thằng Chuồng trở về Bến Mương sống với bà ngoại. Căn nhà giờ có thêm hai miệng ăn, túng thiếu nhưng ngoại cảm thấy có chút vui trong tuổi già. Thằng Chuồng tuy hơi đen đúa nhưng siêng năng dễ dại, chịu khó quanh quẩn bên bà phụ chẽ củi tưới cây. Có một điều là nó không ham đi học, ở nhà cũng đem nó lên trường tiểu học xã, chỉ học lên tới lớp tư rồi bỏ. Ngoại và mẹ nó cũng không ép uổng làm gì, cả nhà có ai học hành gì đâu, ngoại thì khỏi nói rồi, mẹ nó chị Bền may mà còn biết đọc biết viết chút đỉnh. Cho nên không ai than vản hay thắc mắc gì chuyện thằng Chuồng có học hay không. Bỏ học, Chuồng theo mấy đứa bạn con nhà nghèo cuối ấp, gần cầu Đá Hàng, vui vẻ với cái việc đi chăn trâu mướn cho ông tám Khỏe, trên khoảng đồng cỏ chạy dọc theo truông nứa dầy đặc cây bần bên này con rạch chảy ra sông Vàm Cỏ Đông.

    Chị Bền thì đi làm phụ tráng bánh tráng cho thiếm ba Thắm, nhà ở đầu ấp, nằm bên cạnh đường lộ, có sân đất rộng hơn nguyên cái nhà của ngoại. Dù gì đi nữa thiếm với ngoại cũng là láng giềng, cũng chạy qua chạy lại  thăm nhau mỗi khi tối lửa tắt đèn. Gia cảnh thiếm ba tạm gọi là kha khá vì công việc buôn bán bánh tráng có thường xuyên trong năm và từ lâu lắm rồi. Thiếm biết chị Bền từ hồi còn nhỏ, thiếm lại ở góa không con cái, cho nên có chị giúp một tay thiếm cũng thấy vui và cũng là cách giúp gia đình ngoại có thêm chút đỉnh tiền xài ngoài việc chạy vào chạy ra biếu ngoại mấy xấp bánh tráng nóng tươi như từ đó tới nay. Rãnh rỗi chị Bền dắt con đi bắt cua bắt còng trên mấy đám ruộng quanh ấp hay phụ cấy mướn nếu có ai đó kêu.

    Cuối mùa cấy năm sau, chị Bền một lần nữa lấy chồng. Chị phải lòng anh thanh niên làm công việc bỏ mạ của đám người chuyên đi cấy mướn từ dưới miệt Gò Dầu Thượng lên. Cũng như lần trước không có mâm cau miếng trầu, cũng nồi nào úp vung nấy. Bên trai bà dì, bên gái bà ngoại, hai đàng gặp nhau trong cái nhà tranh vách đất thiếu trước hụt sau của ngoại, nói tiếng hỏi tiếng bằng lòng qua bữa cơm nghèo với cá rô kho ớt, tô canh bông súng, mấy cái bánh tráng đục màu vôi cuốn gỏi thịt chim mõ nhát của thiếm ba Thắm đem qua, ba cây nhang thơm và ba chung rượu trắng trên bàn thờ ông ngoại. Chị Bền ở với ngoại thêm ít ngày, thôi không phụ thiếm ba Thắm làm bánh tráng nữa. Thương tình cảnh mẹ con, thiếm ba đã mua cho chị Bền mấy sấp vải tốt hai ba màu để có thêm áo quần mà mặc khi về Gò Dầu Thượng.

    Hôm chồng lên rước về, chị Bền không đem thằng Chuồng theo mà để nó ở lại với ngoại như hai mẹ con đã bàn tính. Ngoại thương thân nó côi cúc, sợ cảnh cha ghẻ con riêng và cũng còn người an ủi tuổi già, ra vô có nhau đở hiu quạnh nên khuyên chị Bền theo nhà chồng một mình, lúc nào rãnh thì về thăm. Phần chị thì thương con, không muốn nó thiếu mẹ nhưng ngặt cảnh tình cũng khó xử, thôi thì nghe lời ngoại rồi từ từ tính sau. Xế trưa thằng Chuồng theo ngoại đưa chị Bền và chồng mới ra ngoài đường lộ chờ đón xe lam về Gò Dầu Hạ. Nó ôm mẹ nó mà không khóc nhưng khi xe chạy khỏi ấp Bến Mương không xa, nó nắm tay ngoại khóc ròng làm ngoại không cầm được nước mắt. Hai ba cháu đứng nhìn theo khi chiếc xe lam khuất mất ở cuối dốc cầu Đá Hàn.

    Ở lại với bà ngoại, thằng Chuồng vài hôm đầu còn buồn, ít nói hơn đôi chút nhưng sau rồi cũng nguôi ngoai. Nó thôi không hỏi han gì chị Bền nữa, tiếp tục đi chăn trâu mướn với đám bạn cũ trong ấp như trước đây. Dân trong ấp biết chuyện nên không ai đá động gì tới mẹ nó mỗi khi gặp nó đâu đó ngoài đường ngoài ngõ. Thằng Chuồng tuy còn nhỏ nhưng cũng biết tính, sáng nào cũng vậy, khi dẩn hai con trâu của ông tám Khỏe ra đồng, nó đều mang theo hai cái đục tre mà ngoại đan từ lâu lắm rồi, để lúc trâu ăn xong ngủ, chạy đi bắt cua bắt còng, dưới bờ nước bùn dọc theo truông nứa khi nước ròng. Coi vậy mà chiều nào nó cũng mang về nhà đầy ắp cua còng, đôi khi có thêm vài con cá rô cá trê đen bóng.

    Đầu truông nứa phía cuối ấp, cạnh bờ con rạch ngang dẩn ra nhánh sông cái, cách đường đất mòn không xa, có một chiếc xuồng ba lá cũ, nứt nẻ vài chỗ, không biết của ai và dân trong ấp cũng không ai nhận, cho nên nó đã trở thành vật sở hữu của đám con nít chăn trâu, trong đó có thằng Chuồng. Chiều chiều trước khi lùa trâu về, bọn nó ba bốn đứa thong thả cột trâu lại rồi kéo nhau lên xuồng, chèo lên chèo xuống hai bờ con rạch vui cười với sông với nước. Xong xuôi đâu đó, công việc của thằng Chuồng là kéo chiếc xuồng cột vào chỗ cũ, chờ mấy đứa kia lùa trâu đi ngang về ấp lại. Sau lần chị Bền về thăm con hôm tết một mình không có chồng theo, thằng Chuồng lâu lâu lùa trâu về nhà chủ trễ hơn mấy đứa khác. Thằng Chuồng nói với đám bạn là ở lại kiếm bắt thêm mớ cá mớ cua cho ngoại chớ thật ra không đứa nào thấy nó làm gì. Mỗi lần như vậy, khi về ngang qua hông nhà ngoại, đám bạn thằng Chuồng, vừa la trâu vừa nói vọng vào là nó chưa về, từ trong bà chỉ trả lời ừ một tiếng gọn.

    Một đêm, trời vừa nhá nhem tối, đầu mùa cấy năm sau, sau khi lùa hai con trâu của ông tám Khỏe vào chuồng xong, thằng Chuồng la lớn cho bên trong nhà biết rồi băng qua đống rơm cao, quơ tay lấy gói quần áo quấn trong tờ giấy báo cũ mà nó đã dấu ở đó từ chiều hôm qua, ôm gói giấy vào ngực, thằng Chuồng đi thật lẹ, tắt ngang qua nhà ngoại. Nó quay nhìn ánh đèn dầu mờ bóng ngoại lần nữa, đưa tay quẹt chút nước mắt vừa ứa ra, rồi lặng lẽ bước đi trong màn đêm tỉnh mịch về hướng truông nứa. Thằng Chuồng bỏ Bến Mương năm vừa tròn mười tuổi và cũng từ ngày nó bỏ đi cho tới bây giờ không thấy chị Bền về thăm ngoại và con nữa. Chiếc xuồng ba lá vẫn nằm yên chỗ cũ, không thấy đám bạn nó đụng tới dù chiều nào cũng lùa trâu về ngang. Dân trong ấp Bến Mương, thương cho tuổi già của ngoại, lo lắng không biết bà có chịu đựng nổi tình cảnh đó không nhứt là trong cái đêm hay tin thằng Chuồng bỏ đi, ngoại đã ngất xỉu ngoài bờ đất đầu truông trong lúc người ta túa nhau đốt đuốc chạy tìm. Thiếm ba Thắm, ông tám Khỏe cùng hai ba chú khác khiêng ngoại vào nhà, lấy dầu gió xanh con cọp, vừa thoa dầu vừa cầu trời khẩn Phật, cho nên không sáng thì chiều, không người này cũng người kia, tạt ngang tạt vào hỏi ngoại vài tiếng. Chiều ba mươi năm đó, người ta không thấy ngoại lên chợ xã bán bông vạn thọ nữa, và cho đến nay, chỗ bà thường ngồi trước căn phố gạch có cây trứng cá, vẫn còn trống, không có ai dù có khi chợ cũng đông người.

 

2.   

    Ra Tết lâu rồi mà trời cũng còn hơi lạnh, giữa khuya mấy con chó của đám nhà bên cạnh sủa nhiều tiếng hơn ngày thường. Cây đèn dầu treo đầu giường chưa tắt, ngoại lầm bầm giờ này mà còn sủa ma cỏ gì nữa. Ngoại lửng thửng bước ra định gài lại tấm liếp cửa, nghe có tiếng người xì xào, chưa kịp hỏi ai thì thằng Chuồng đã lách vào trong. Hai bà cháu ôm nhau khóc sướt mướt, ngoại rờ thằng Chuồng từ đầu tới chân, nó vẫn ốm như ngày nào. Thẳng Chuồng thổi tắt đèn dường như sợ bên ngoài người ta thấy, bà cháu nói với nhau cái gì đó nhiều lắm rồi thằng Chuồng bỏ đi ra, cùng hai ba người lạ đứng chờ trong bóng đêm ngoài sân vội vả đi về hướng truông. Ngoại đứng bên liếp cửa nhìn theo, mắt già không thấy rõ gì hơn ngoài mấy cái bóng người mờ mờ đen, như bóng ma chập chờn lên xuống.

    Ngoài truông nứa, sương sáng tan dần theo ánh mặt trời lên bên kia sông lớn. Nắng chập chững trải dài trên từng ngọn lá của mấy dây trầu mướt xanh gần chái bếp.  Ngoại trở vào nhà lấy cái khăn quàng rằn, quấn che quanh đầu đi ra, sửa lại chiếc áo bà ba ngoài, rảo một vòng quanh các chậu bông vạn thọ rồi cúi xuống nhìn vào cái khạp lớn rọng cá để sát vách nhà, xế cái sàn nước, ba con cá lóc lớn vẫn bơi qua bơi lại như thường ngày. Ngoại hờ khép tấm liếp cửa lại, theo con đường đất mòn từ từ đi ra đường lộ. Hôm nay ngoại có hẹn gặp chú tư trưởng ấp. Bà vừa đi vừa quay lại nhìn về phía truông nứa lần nữa, trong ánh mắt đầy vui mừng bà mĩm cười, một nụ cười trọn vẹn mà chưa ai thấy lần nào, từ sau ngày thằng Chuồng bỏ đi.

    Từ Gò Dầu về, chiếc xe lam chạy vào ngừng ngay trong sân nhà thiếm ba Thắm, chú tư trưởng ấp xuống trước, ngoại tay dắt thằng Chuồng theo sau. Thiếm ba lăng xăng gọi lớn, con nít, người lớn mấy nhà chung quanh chạy ùa ra, ai nấy vui mừng, thằng chuồng về thằng Chuồng về rồi. Thiếm ba Thắm giựt thằng Chuồng ra khỏi tay ngoại, ôm nó vào người rưng rưng từng tiếng một, con ơi con ơi.

    Chiều ba mươi Tết năm nay, dân trong làng trong xã lại thấy hai bà cháu, người trước người sau, đẩy xe bông vạn thọ lên chợ xã bán như những năm trước đây, nói nói cười bên đường lộ. Ở phía bên này ấp, đầu truông nứa, chiếc xuồng ba lá cũng không còn ở đó, đám bạn chăn trâu đã cắt dây cột, thả nó theo dòng nước mà đi, mặc nó muốn trôi ra sông cái hay trôi theo chiều ra biển. Tàn buổi chợ, bông của ngoại người ta mua không còn một chậu và ai nấy cũng bảo nhau, bông vạn thọ của hai bà cháu bán Tết năm nay, nở cánh lớn, nhiều bông hơn và vàng hực như một trời xuân mới.

    Chiến tranh, ngày một tăng dần và lan rộng hơn trong mấy lúc gần đây, người dân ấp Bến Mương cảm thấy hình như nó đang ngấp nghé đâu đó tới gần mình và cảm thấy đời sống họ không còn bình thản như trước nữa. Đám con nít chăn trâu ngoài cánh đồng, chạy dài theo truông nứa giờ đã hối hả lùa trâu về chuồng khi mặt trời chưa kịp lặn. Chiếc xe đò nhỏ quen, chạy chuyến chót Tây Ninh – Gò Dầu cũng không về ngang Bến Mương, lúc nhà dân bên đường lộ, chập chững lên đèn như những ngày trước đó. Sau Tết ta vài ngày, vợ chồng chị Bền dắt nhau về thăm nhà và cũng để báo tin cho ngoại biết, hai người sẽ dọn xuống Hốc Môn, ở chung với bà dì vì bà vừa mở một cái sạp bán kẹo đậu phộng và bánh ú lá tre, bán cũng khá đắt, thôi không đi cấy ruộng mướn. Họ cũng định đem thằng Chuồng theo nhưng thằng Chuồng một hai gì cũng nhất định ở với ngoại, rốt cuộc chỉ có hai vợ chồng về lại Gò Dầu Thượng.

    Ra Giêng, ngoại và thằng Chuồng không còn ở Bến Mương nữa. Căn nhà tranh và miếng đất nhỏ bà bán lại cho thiếm ba Thắm lấy chút tiền, thiếm ba mũi lòng hứa sẽ giao trã khi nào ngoại trở lại đây. Được sự giúp đở của ông bảy Luôn, người đứng đầu, trông coi cái thánh thất Cao Đài xã Thạnh Đức, ngoại đưa thằng Chuồng lên cô nhi viện ở với bà và ở đây đã cho nó theo mấy anh lớn học nghề thợ mộc, tại cái trại đóng bàn ghế trong khuôn viên tòa thánh. Ngày hai buổi ra vào quét dọn ngoài trong, nghe tiếng đám trẻ thơ ngây, cười vang ngoài sân trước vườn sau, ngoại cảm thấy lòng mình ngập tràn một niềm thanh thản.

    Hôm từ giã bà con trong ấp, đứng chờ đón xe từ Gò Dầu lên, trời đã gần giữa trưa mà sương mù vẫn chưa tan trên mấy cánh đồng xa phía bên này sông cái. Hai bà cháu ngồi sát hàng ghế gần cửa sổ xe, nhìn lần cuối cùng cái truông nứa lờ mờ phía sau, thầm mong là sẽ mãi mãi và vĩnh viễn không bao gờ thấy lại nó nữa.
 
Thuyên Huy

 

 

   

 

   

 

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

LỖI HẸN- Nguyễn Cang


 Lỗi Hẹn

 
Cảm tác  của Nguyễn Cang

   

 











Mười năm chưa trở lại cố hương,

Mong một ngày về thoả nhớ thương.

Ra đi từ dạo trường xưa cũ,

Khép cổng hờ, bè bạn mỗi phương.

*

Hơn một lần anh đỗ bến mê,

Cùng em nối lại mối tình quê.

Nay hè lặng lẽ trôi đi mãi,

Anh vẫn ngồi đây chẳng chịu về!

*

Nhớ lời hẹn ước nói sao đây?

Trăm đắng nghìn cay cứ ngập đầy.

Bóng nhò đường chiều… ai đứng đợi?

Bên trời hiu quạnh tóc em bay.

*

Chốn ấy nơi nầy mãi nhớ nhau,

Nhớ nhau hạnh phúc lẫn sầu đau.

Xin em gắng đợi ngày mai tới,

Anh sẽ đền em... mắt lệ trào!


Nguyen Cang

 

 
Xin Đừng Đứng Cạnh Mộ Tôi Mà Khóc

 














Với cảm xúc của riêng mình, khi đọc bài thơ, xin phép được phỏng dịch theo lời văn khác
 
 
Xin đừng đứng cạnh mộ tôi mà khóc

Tôi không ở đây với một giấc ngủ vùi
Tôi là ngàn cơn gió thổi

Là hạt kim cương sáng long lanh trên tuyết trắng
Là tia nắng mai trên hạt lúa vàng chín mọng

Là cơn mưa nhè nhẹ của trời Thu
Trong lặng yên của buổi sáng mai thức giấc

Tôi là con chim tung đôi cánh bay vù
Của đàn chim nối  vòng trên không đó

Là ánh sao hiền tỏa sáng đêm thâu
Xin đừng đứng cạnh mộ tôi mà khóc

Tôi không nằm ở đây và tôi đã chết đâu!

 

Thuyên Huy

 

(Phỏng dịch từ bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye 1932
được anh Đào Anh Dũng sưu tầm)

 

Sunday, November 16, 2014

Làm Kẻ Bên Đường - Thuyên Huy


Làm Kẻ Bên Đường

 

 

Người về làm khách bên đường
Nửa sầu bỏ lại nửa buồn mang theo

Ở đây trời đất quạnh hiu
Muộn tình khép vội buồn hiu hắt buồn

Còn không một thoáng dư hương
Tìm nhau trong cỏi mù sương cuối trời

Gọi nhau chi cố nhân ơi
Thôi thì chôn giấc ngủ đời thiên thu

 Thuyên Huy

Ngày Mai Của Hôm Qua - Thuyên Huy


    Ngày Mai Của Hôm Qua

Thuyên Huy

(Chuyện được viết bằng tưởng tượng, xin thứ lỗi cho những trùng hợp vô tình, từ tên người tới bối cảnh)

Viết để nhớ Nguyễn TN chết trong trận đánh Bồng Sơn và Đổ QT nằm xuống trên chiến trường Quãng Trị

  


     Sài gòn mùa này vẫn vậy, cũng cái nắng tình cờ nung người và những cơn mưa bụi, bất chợt vội vã về rồi hấp tấp đi. Người Sài Gòn vẫn sống như họ đã sống từ những ngày tháng cũ. Chiến tranh ngột ngạt đâu đó, nhưng xem ra chưa đến, dù quanh đây, đâu đó, lưa thưa dăm ba màu áo trận, ở một góc phố đông vui hay tại một ngỏ rẻ buồn thiu cuối đường, những con đường của “lối xưa xe ngựa”. Thuận đứng ngay ngã tư, trước tiệm kem Mai Hương, chờ đèn xanh, chưa kịp qua đường thì có tiếng ai đó gọi tên mình, trong đám đông, từ hướng nhà sách Khai Trí. Bạn bè, phần lớn mỗi đứa mỗi nơi sau những năm học hành thi cử cuối cùng, đã không còn mấy ai ở đây nữa, nhất là lâu lắm rồi Thuận mới về lại Sài Gòn, cho nên Thuận chỉ quay nhìn lại một cách lấy lệ. Tiếng gọi một lần nữa gần hơn và vội vã hơn, Thuận bỏ ý định băng qua đường, lùi lại bên trong lề ngờ ngợ chờ.

    Nhã Vy tay dắt đứa bé gái chừng khoảng lên ba, tách đám đông tiến đến gần bên. Cả hai người nhìn nhau thật nhanh rồi im lặng ngó ra đường. Cuối ngày rồi mà trời cũng chưa chịu mát, hơi nóng từ trưa hình như còn quanh quẩn theo người. Nhã Vy vuốt vội dăm sợi tóc đang bay ngược chiều gió trên vai, cúi xuống nói nhỏ gì đó, đứa bé khoanh tay, cúi đầu chào Thuận kèm theo tiếng dạ nhẹ lờ lợ dễ thương. Thuận đưa tay xoa đầu nó hỏi tên rồi nhìn lên, hơn ba năm rồi, Nhã Vy tuy không thấy khác hơn nhưng nụ cười hình như có cái gì đó làm nó không trọn vẹn. Nắng đuổi theo chân người đi, che khuất gần nửa con đường Lê Lợi, ở phía sông từ bến Bạch Đằng, vài cơn gió lẽ loi mang theo hơi nước, len nhẹ qua ngang mấy dãy phố lầu cao trong bóng chiều lấp lửng xuống. Nhã Vy bồng đứa bé lên, nhìn vào chỗ có cái bàn trống trong tiệm kem ngó ra rạp hát Casino, làm dấu rồi đi vào, Thuận lặng thinh gật đầu theo sau.

    Gặp lại Nhã Vy lần này, lần gặp mà Thuận đã không dám mong và nghĩ tới, cho nên không biết phải bắt đầu câu chuyện từ đâu, may mà Nhã Vy nhanh miệng hơn. Sau ngày đám cưới của Nhã Vy và Triều, Thuận cố lánh mặt và cố mà quên, và từ ngày bỏ lên Đà Lạt thì một phần đời của những ngày tháng bước vào tuổi biết buồn biết thương, biết vương biết vấn ở Tây Ninh xem như đã không có nữa. Cả hai người cùng nhìn bé Thảo Mi, hồn nhiên ăn ly kem đủ màu một cách ngon lành, rồi ngó ra đường, phía bên kia rạp Casino, quầy bán vé không còn mấy ai. Gánh bán bún bò bên lề đường vẫn đông từ xế trưa tới giờ, mặc dù cái nóng của nó và cái nóng của nắng chiều Sài Gòn không khác gì nhau, cũng có tiếng xuýt xoa, có tiếng xì xào và có những giọt mồ hôi rươm rướm chậm ở cuối bờ mắt đọng. Một lần nữa, Nhã Vy nhìn con rồi cho Thuận biết Triều đã chết trên chiến trường Triệu Phong, ngày bé Thảo Mi vừa mừng sinh nhật một tuổi. Thuận chợt thấy nghèn nghẹn, có cái gì đó làm tim mình đau nhói, đau hơn cái đau của ngày được tin Nhã Vy lấy chồng. Trên đường về, Thuận đưa hai mẹ con tới chỗ giữ xe gắn máy bên lề Lê Thánh Tôn, khúc gần thư viện Gia Long, Nhã Vy lấy miếng giấy nhỏ trong túi xách, viết vội địa chỉ đưa cho Thuận, nói nhỏ đã không còn ở chỗ cũ, Thuận nhận một cách lơ đểnh, lặng thinh. Con bé vòng tay chào, Nhã Vy lái xe bỏ chạy nhanh qua ngã tư, Thuận đứng bất động nhìn theo, tóc Nhã Vy thả dài, nhẹ bay xuôi theo chiều gió, giữa dòng sóng lá me vàng lả tả rơi, lững lơ đuổi bắt bóng nắng chiều đi xuống, không khác gì cơn mưa bụi của Sài Gòn, cũng vẫn đi và về bất chợt.

   Thuận thân với Triều từ ngày hai đứa còn học những năm đầu ở trường tiểu học xã Cẫm Giang. Gia đình Triều tương đối khá giả, có nhà có cửa ở trên tỉnh cũng như có bà con sống ở dưới Sài Gòn, ngược lại, Thuận mồ côi mồ cút sống với mẹ và bà ngoại bằng nghề buôn thúng bán bưng, nuôi vừa đủ ba miệng ăn, may mắn không dư không thiếu. Nhà Thuận, một căn nhà lộp tôn, nằm khuất mình trên miếng đất nhỏ thoai thoải xuống bờ con sông Vàm Cỏ, không mấy xa bến tàu lớn về Bến Cầu. Triều ở xế phía trên chợ xã, dọc theo tỉnh lộ, cách hàng rào sân trường có đôi ba cây Phượng già nua, lúc nào cũng còn sót lưa thưa vài chục cánh hoa đỏ bầm trong những ngày cuối hè vào học lại. Giữa năm lớp nhì, gia đình Triều dọn về Tây Ninh, hai đứa chia tay từ đó, mãi cho tới ngày gặp lại nhau hôm đứng sắp hàng chờ vào cùng lớp đệ thất của trường trung học công lập tỉnh. Rồi mớ kỷ niệm của những sáng thách nhau đuổi chân chim sáo hoang trên đường tới trường, những chiều chờ đếm đám lục bình đầy hoa tím, phía bên kia sông xem cái nào về bên này bờ trước theo từng đợt sóng nhấp nhô hay của những trưa chia nhau trái ổi nhỏ tí teo, một nửa mầy một nửa tao, dưới bóng nắng nung người quanh sân vườn nhà ai đó, trong chuỗi ngày hồn nhiên thơ dại có thêm những ngày tháng buồn vui của tuổi biết buồn và chập chững những bước đầu đời học làm người mới lớn ở ngưỡng cửa trung học.

    Nhà Triều là một ngôi nhà gạch không lớn lắm nhưng có cái vườn cây khá rộng, gần bên cạnh căn nhà sàn bằng gỗ đen, nằm ngay đầu ngỏ vào xóm dân có đạo, sau lưng nhà thờ tỉnh, trên đường Pasteur, là con đường chạy dọc theo bờ tường bọc bệnh viện. Thuận thì ở trọ tại nhà bà dì quen, chị em bà con xa gì đó với ngoại, bà dì sống với người con gái lớn, cở trạc tuổi mẹ mình nhưng không lấy chồng, làm y tá, ở cuối ngã ba trường tư thục Văn Thanh. Bà dì thì ăn chay trường và tu tại gia, thường xuyên đi cúng chùa. Buổi sáng đi học, năm nào cũng vậy, Thuận đi bộ từ nhà trọ, theo đường xuống chợ cũ , chờ Triều ngay ngã tư Võ Tánh từ hướng Pasteur đến, rồi cả hai cùng nhập bọn với đám bạn khác tới trường. Một tuần vài lần, chiều về, Triều lấy cái xe đạp mới đến, thay phiên đèo nhau hết đường ngoài ngỏ trong, chợ xa phố gần rồi dựng xe trước rạp chiếu bóng cuối đường Gia Long, chia nhau ly nước mía nhỏ, xuýt xoa đọc tấm bảng quảng cáo vẽ hình chuyện phim mà phần lớn là phim Ấn Độ, trước khi ì ạch đẩy xe lên dốc tòa hành chánh về nhà trong tiếng cười, những tiếng cười của ngày tháng vô tư, cho tới tiếng cười của tháng ngày trong hồn đã có chút biết nhớ biết thương cái gì đó.

    Đầu năm đệ tam, bà dì quen bệnh rồi qua đời, người con gái lớn bán căn nhà dọn về mãi tận dưới Đức Hòa, Đức Huệ. Thuận vào ở trong nam ký túc xá, do hội phụ huynh học sinh tỉnh vừa cất xong chừng một năm qua, nằm bên cạnh đình Hiệp Ninh, có cái cổng xi măng trên đường Trần Hưng Đạo, ngó qua trường trung học. Sau lưng cổng là cái quán nước, bán đủ thứ, từ bánh mì, kẹo mứt tới bút viết sách mực ngay đầu con đường dốc thoai thoải dẫn lên ký túc xá. Giờ hai đứa không còn chờ nhau tại ngã tư Võ Tánh như những năm trước nữa, người tới trước thì chờ người tới sau tại cổng trường mỗi sáng, dù đứng dưới mưa hay trong màn sương đục mờ, trãi dài từ phía xóm chài bên kia sông, xuyên ngang sân trường loang lỡ cỏ. Cũng không còn đèo nhau trên xe đạp chạy rong, đã biết sợ mái tóc chảy chia hai bên kỹ càng, bị cơn gió ngược nào đó làm rối tung bực dọc. Tên mấy cuốn sách vật lý, hóa học, hình học đại số được nhắc tới nhiều hơn là những chuyện trên trời dưới đất không đầu không đuôi. Chưa biết chờ biết đợi, nhưng cả hai đã thường ngồi quán nước, tập tành uống ly cà phê nóng, nghe nhạc tình, cùng nhìn ra đường trong những chiều cuối tuần, thả hồn theo gió quyện tóc thề bay của ai đó, đan từng sợi nhỏ dài lưa thưa trên tà áo một màu trắng tinh, để rồi nhìn nhau cười, ngẫng ngơ trên đường về.

    Chiều chủ nhật, Thuận tình cờ gặp lại Nhã Vy trên chuyến xe đò giữa trưa từ Gò Dầu, hôm trở lên tỉnh sau khi về Cẫm Giang thăm nhà. Thuận quen Nhã Vy trong năm xuống học luyện thi đệ thất ở trường tư thục Hữu Đức, nằm gần cuối chợ Gò Dầu, bên bờ sông. Nhà Nhã Vy là cái tiệm bán thuốc tây lớn cạnh góc ngã tư, ngó ra sân văn phòng quận và đầu chợ. Vì là con nhà giàu cho nên cô nàng lúc nào cũng ăn mặc sạch sẽ, tươm tất hơn nhiều học trò cùng lứa khác. Thuận là thằng học trò giỏi nhất, được thầy Đức thương và để ý tới hơn cho nên cả lớp, ai nấy đều có vẻ nể nang, trong đó có Nhã Vy. Trưa nào cũng vậy, trước khi vào lớp lại buổi chiều, cô nàng đều mang theo vài cái bánh tây, năm ba cục kẹo, chia cho nhóm bạn, có cả Thuận, cùng ăn miếng một miếng hai, trong tiếng cười đùa theo mùi bùn của con nước vừa lớn bên này bờ sông Vàm Cỏ. Cuối năm, nhóm này nhóm kia chuyền nhau, viết đôi câu trong cuốn tập gọi là lưu bút, cũng nhớ hoài tình bạn hôm nay và cũng bảo đừng quên nhau sau này, cái chuyện cũng như bao lứa tuổi học trò khác đi qua đã làm, từ những ngày xa xưa lắm. Cũng giống như các đám bạn khác, chia tay nhau, mỗi đứa mỗi nơi, người về dưới Bình Nguyên, Trãng Bàng, người ngược lên Gò Chùa, Trà Võ, Cẫm Giang, Thuận không còn gặp Nhã Vy từ hôm đó và quên dần cô nàng trong cái thấp thỏm, lo âu của từng ngày chờ mùa thi tới.

    Xe đông khách, chỗ ngồi không gần lắm, qua tiếng mất tiếng còn, ngờ ngợ nhận ra nhau nhưng không nói được gì nhiều. Về tới Tây Ninh, bến xe vẫn còn đông người dù mặt trời đã khuất hơn nửa phố chợ. Nắng dịu dần nhờ gió mang hơi nước từ phía sông lên, mấy chiếc xe lôi máy giành khách, ồn ào trước cửa sân cái khách sạn độc nhất của tỉnh lỵ ngang hông trụ sở xã Thái Hiệp Thạnh. Hai đứa thả bộ dọc theo phố Gia Long, qua cầu Quan, lên đầu dốc tòa hành chánh. Nhã Vy hỏi Thuận nhiều hơn là trả lời, Thuận cứ thong thả trả lời nhiều hơn là hỏi, từ chuyện ngày xưa còn bé của quê nhà tới chuyện bây giờ của phố xá thị thành. Nhã Vy cùng Hiếu, cô bạn thân, có tiệm tạp hóa lớn trong chợ Gò Dầu đậu vào đệ thất, rồi vào trường học chung lớp cho đến giờ. Hiếu ở trọ tại nhà người quen bên kia đường, ngó qua nhà Nhã Vy không quá tầm mắt, sáng đến trường hay chiều về nhà, hai người lúc nào cũng có cặp có đôi. Tới nhà, một căn phố lầu đầu ngã ba trên đường Trần Hưng Đạo, dọc bờ sông, bên hông cư xá sĩ quan tỉnh, Nhã Vy hồn nhiên cười chào, Thuận đã đi thật xa rồi mà cô nàng vẫn còn đứng trước nhà nhìn theo, bỗng dưng thấy buồn muốn khóc. Ở phía cuối đường, mây rủ nhau xuống thấp về ngang qua sân ký túc xá, nắng vội vàng bỏ đi rồi mất hút, trời lửng thửng vào đêm. Trong phòng học, bài toán hình học vẫn còn bỏ dỡ trên bàn, thằng bạn ngồi bên thắc mắc nhìn không hỏi. Chưa có đêm nào Thuận lại mong cho trời mau sáng như đêm nay.

    Giữa năm đệ nhị, sau ngày Nhã Vy mời cả bọn, trong đó có Triều xuống nhà dưới Gò Dầu chơi, về lại Tây Ninh, Triều thường hỏi Thuận nhiều thứ về cô nàng và cũng không ít lần đứng một mình, trên hành lang lầu lớp học nhìn qua phía bên dãy lầu con gái. Thuận không nhắc nhở gì về Nhã Vy trước mặt Triều, nhưng kể từ ngày gặp lại, trên chuyến xe chiều từ Gò Dầu về, hình ảnh cô nàng cứ ẩn hiện đâu đó quanh mình, trên những trang sách học cũng như trong giấc ngủ muộn rả mệt cuối đêm, từ đó Thuận chợt biết rằng hồn mình đã vừa chớm yêu, một chút tình yêu riêng mình và chỉ có một mình mình hiểu, giữa những buồn vui vô tư của đám bạn giờ đang chập chững vào phần đầu của cuộc đời người lớn. Bài học thi tú tài ngày càng nhiều, nhút là đám con trai, không thức đêm cũng ráng mà thức, công thức, định luật toán, hóa học, vật lý nuốt không nổi cũng phải ráng mà nhét vào đầu, nếu không thì, đường vào quân trường luôn rộng cửa chờ đâu đó. Ngoài những giờ trong trường trong lớp, đám bạn bốn năm người đã không còn thường gặp nhau, Triều đôi lần lái xe Honda vào ký túc xá chỡ Thuận, đi ngồi nhâm nhi chút cà phê sáng chủ nhật ngoài chợ cũ hay tại dãy quán nước đối diện ty cảnh sát, không xa trường Văn Thanh bao nhiêu. Hai người không còn thường tản bộ, theo chân Nhã Vy và Hiếu về đến nhà khi tan trường chiều về như trước đây, bỏ mặc phố xá buồn thỉu buồn thiu dưới ánh đèn đường vàng màu lá úa.     

    Cuối năm đệ nhất, trước hôm Thuận rời ký túc xá tỉnh, chuẩn bị khăn gói về lại Cẫm Giang chờ ngày thi tú tài hai, Triều mời cả bọn đến nhà ăn bữa tiệc nhỏ gọi là chia tay. Cả đám ngồi quanh cái bàn lớn, trong vườn cây giữa trưa, nhắc chuyện xưa tích cũ, chuyện vui chuyện buồn của những ngày tháng đã qua. Nhã Vy cũng như Hiếu vui cười kể mớ kỷ niệm hồn nhiên mà hai cô có với Thuận ở trường Hữu Đức dưới Gò Dầu, rồi buổi đầu bối rối khi gặp Triều do Thuận giới thiệu làm quen vào buổi chiều cuối tuần, tại cái quán bán chè sâm bổ lượng bên bờ sông chợ cá, dưới dốc cầu Quan. Xế trưa, chia tay nhau, ai nấy không quên chúc mình chúc người, may mắn trong ngày thi sắp tới. Thuận đi bộ theo Nhã Vy và Hiếu trên đường về, nắng đã chia đôi con sông từ lâu, bên này trong bên kia đục theo con nước vừa lớn. Đôi lần Thuận ngập ngừng định nói với Nhã Vy điều gì đó nhưng lại thôi, lòng dặn  mình thôi đừng nghĩ đến, khi tương lai của một thằng con nhà nghèo, vẫn còn là căn nhà tranh và hai bàn tay trắng.

    Đậu tú tài hai xong, Thuận thi vào học Hóa Học ở trường Kỹ Sư Phú Thọ, Triều quyết định tình nguyện đi Võ Bị Đà Lạt, chuyện mà anh ta chưa hề nói với ai, ngay cả với Thuận. Nhã Vy cùng cô bạn thân Hiếu, dắt nhau vào ngành Cán Sự Điều Dưởng, trường nằm sát bên cạnh bệnh viện Từ Dũ. Hôm tiễn Triều lên Đà Lạt, trong phòng chờ đợi tại phi trường có mặt đủ bốn người, cũng có ly cà phê nóng, cũng có lời tạm biệt chia tay và cũng có những cái nhìn lặng câm không nói.  Chuyến bay Hàng Không Việt Nam cất cánh đúng giờ, bỏ trời Sài Gòn lại sau lưng, trong lưng chừng của bóng nắng xế chiều. Năm học đầu, Thuận có đến nhà Nhã Vy vài lần, một căn biệt thự nhỏ đối diện bệnh viện Bình Dân trên đường Phan Thanh Giản. Nhã Vy ở với vợ chồng anh chị hai cùng đứa cháu  gái, hai vợ chồng dạy ở trường Hồng Bàng, vui tính, thân thiện và dễ mến, lúc nào cũng bảo Thuận ghé chơi khi rảnh rổi. Thuận có đến năm ba lần sau đó, khi thì ngồi kể chuyện cơm áo học hành trước hiên nhà, khi thì kéo nhau đi ăn chè Hiển Khánh ở Phan Đình Phùng hoặc thả bộ qua ăn bún bò với anh chị hai bên kia đầu đường Yên Đổ, rồi còn phải lo cho mình nên không thường lắm. Tiền nhà tiền học nhiều khi cũng đủ làm Thuận đau đầu không ít, ở quê nhà bà ngoại lúc này già yếu và mẹ Thuận cũng không khỏe hơn xưa, chợ bán bữa được bữa không, còn may là gia đình vẫn tạm sống trong cảnh đời lăn lóc. Nhiều đêm ngồi một mình với mớ sách vở giữa khuya, đã có nhiều lần Thuận rấm rứt khóc, khóc thương mẹ thương bà, thương phận đời nghèo khó và thương cả mối tình chưa dám ngỏ. Ở trọ trên căn gác xếp gần ngã tư Bãy Hiền, có xe buýt chạy ngang qua nhưng đâu ai biết là Thuận đã thường đi bộ đến trường, để dư chút đỉnh tiền, dành cho vài thứ cần khác. Thỉnh thoảng Nhã Vy cũng cho biết là có nhận thư Triều gởi về từ Đà Lạt, có hỏi thăm Thuận đôi câu. Đầu mùa hè, cuối năm thứ hai, sau khi thi cử xong, nhờ người quen của một anh bạn học chung giới thiệu, Thuận đến dạy kèm toán và hóa học cho đứa con gái của gia đình ông nha sĩ khá giàu và vài cô bạn cùng lớp, sửa soạn thi tú tài một năm tới, nhà nằm ở góc đường Mạc Đĩnh Chi, ngó qua nghĩa trang. Từ đó, Thuận tạm kiếm đủ tiền ăn tiền học cho mình, đôi khi cũng mang chút ít về Cẫm Giang giúp mẹ và bà có thêm chút vốn liếng bán mua.

     Nhã Vy tốt nghiệp cán sự điều dưỡng, về lại Tây Ninh, làm y tá trưởng tại bệnh viện tỉnh, nằm cách nhà Triều không xa, cạnh bên Tòa Án, không bao lâu thì Triều cũng ra trường, theo sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra đóng ở Cam Lộ, Đông Hà. Thuận có đến dự buổi lễ tốt nghiệp của Nhã Vy và Hiếu nhưng không gặp được Triều, khi anh về Tây Ninh nghỉ phép, trước ngày lên đường ra đơn vị. Nhã Vy đi rồi, Sài Gòn đối với Thuận cũng vẫn vậy, vẫn ấp ủ hoài mơ ước mối tình chưa dám ngỏ, dù quanh quẩn tháng năm này đã có lần cùng nhau đi về, trên con đường quen hay ngồi hỏi chuyện ngày mai trong quán nước nhỏ bên lề một góc phố vắng, Thuận tiếp tục lầm lũi đời mình, sống ngày hai buổi, mưa nắng nắng mưa, theo định luật của đất trời với cái vai đời được sắp sẳn trong vở tuồng định mạng, buồn nhiều hơn vui từ những ngày sau đó.

    Chiều chủ nhật, vừa vào học năm cuối được vài hôm, Thuận nhận thiệp báo tin Nhã Vy và Triều cưới nhau do đứa cháu của Nhã Vy từ nhà anh chị hai mang tới, Thuận chưa kịp hỏi thêm lời gì thì con bé đã đạp máy xe Honda bỏ chạy đi. Cầm cái thiệp trở lên gác, để hờ lên mấy cuốn sách còn lật dỡ dang, nằm ngổn ngang trên bàn học, Thuận không thấy đất trời sụp đổ, nhưng cảm thấy có cái gì tận cùng mất mác đâu đó, làm tim mình chợt đau nhói, trong phút chốc tất cả những gì mà Thuận ôm ấp bấy lâu bỗng dưng trở thành vô nghĩa, Thuận chết trân và lặng câm đứng nhìn nó rồi nhìn ra ngoài khung cửa sổ nhỏ, không tròn cái hình vuông, ở một phía xa cuối đường, trời nhuộm một màu tím bầm của mây chiều đang xuống thấp. Bên kia nhà thờ Đắc Lộ, chuông lễ chiều thong thả đổ từng hồi một, giờ này khu ngã tư Bảy Hiền thấp thỏm vào đêm, chuyến xe đò về Tây Ninh đã bỏ đi từ lâu lắm rồi.  Thuận mở lá thư viết định gởi cho Nhã Vy, đắn đo sửa đi sửa lại, từ lâu lắm nhưng chưa dám gởi, để cạnh bên cái thiệp báo tin lễ cưới, ngồi gục đầu trên bàn trong bóng đêm rươm rướm khóc. Dăm ba tia sáng vàng vỏ từ ngọn đèn đường len nhẹ vào căn phòng tối om, trên bàn hàng chữ “trăm năm hạnh phúc” rực lên một màu đỏ thẩm. Thuận không về Tây Ninh dự đám cưới của Nhã Vy và Triều, nhờ Hiếu nhắn lại là phải đi xa có việc cần gấp. Tốt nghiệp, Thuận được nhận vào làm ở trung tâm Nguyên Tử Năng Đà Lạt như đã nộp đơn xin từ mấy tháng trước đây. Thuận về Cẫm Giang thăm mẹ và bà ngoại vài ngày rồi chuẩn bị đi nhận việc. Buổi chiều xuống Sài Gòn, trước hôm khăn gói lên Đà Lạt, Thuận quyết định đem bỏ cái thư dài mà anh đã viết, đề địa chỉ của Nhã Vy ở Tây Ninh, có sửa lại vài đoạn và thêm câu “chúc Nhã Vy và Triều được trăm năm hạnh phúc” ở cuối thư, ngay thùng thư bên hông nhà thờ Đức Bà.  Ngày xách cái túi vải, xuống chuyến xe đò nhỏ chạy đường Sài Gòn – Đà Lạt tại bến xe chợ, bên cạnh rạp hát Hòa Bình, ngó xuống hồ Xuân Hương mờ mờ sương chiều lạnh, cũng là ngày Thuận bỏ Sài Gòn đi và cố mà quên Tây Ninh từ đó.

    Chiến trận độ rày xem ra căng thẳng và khốc liệt hơn tại các tỉnh địa đầu giới tuyến và dọc theo biên giới Miên Lào. Bạn bè có hai ba đứa kém may, đã nằm xuống nơi cuối núi đầu rừng khi chưa tròn tuổi lính. Thuận xin nghĩ vài ngày, về tới Sài Gòn hôm qua, chưa kịp về Cẫm Giang thì gặp lại Nhã Vy. Hai người ngồi trong phòng khách nhìn ra đường, trời đã trưa hẳn từ lâu, và đứng gió, con bé Thảo My còn nằm ngủ muộn trên cái đi-văng cạnh tường, phía trên có treo tấm ảnh bán thân của Triều trong quân phục sĩ quan Võ Bị. Loanh quanh đôi câu chuyện, cũ không cũ mới không mới, chưa đâu vào đâu thì Thảo My thức, nó dụi mắt nhìn Thuận cười hết sức ngây thơ. Ở đó không lâu, Thuận từ biệt ra về, Nhã Vy bồng con đưa ra cửa, con bé vẫy tay, Thuận mĩm cười xoa đầu nó khen giỏi. Chiếc xe xích lô đạp bên kia đường quay qua đón, Thuận không buồn hẹn ngày gặp lại, gật đầu chào. Chờ cho Thuận ngồi vào xe, Nhã Vy nói với theo là đã đọc thư của Thuận rồi. Cũng như lần chia tay trước nhà ở Tây Ninh, khi gặp lại Thuận, trên chuyến xe chiều từ Gò Dầu về tỉnh, chiếc xe xích lô  khuất mất ở ngã rẻ, cuối đường Trần Quý Cáp rồi mà Nhã Vy vẫn còn đứng nhìn theo, ôm cứng con trong lòng, bỗng dưng buồn muốn khóc. Trên xích lô, Thuận cũng bỗng dưng muốn khóc, khóc trong niềm vui muộn màng vừa chợt đến, niềm vui mà từ lâu rồi Thuận chưa có được. Cuối cùng, Thuận cũng nói ra được những gì mình đã giữ kín cho riêng mình qua bao nhiêu năm rộng tháng dài.

    Nửa phần đất miền Trung mất gần hết vào tay quân cộng sản Bắc Việt, hàng hàng lớp lớp người, dắt dìu bồng bế nhau, bỏ chạy trốn giặc vào Nam, Thuận theo đoàn người di tản về tới Xuân Lộc nơi chính quyền VNCH lập phòng tuyến cố thủ bảo vệ Sài Gòn, Cộng Sản Bắc Việt đang quần thảo đánh nhau với quân của Sư Đoàn 18, những người lính quyết một mất một còn với giặc, cùng ngày mà  tên phi công nằm vùng phản quốc tên Trung, lái oanh tạc cơ dội bom Dinh Độc Lập. Tức tối vì bị chận đứng và thiệt hại khá nặng, Bắc quân điên cuồng dùng tất cả những khẩu đại pháo cở lớn và xe tăng T54 có mặt, cùng số quân tăng viện từ cao nguyên xuống, pháo kích, tấn công tới tấp, nhất định chọc thủng vòng đai cho bằng được. Thuận cùng hai mươi mấy người di tản khác đã bị trúng đạn pháo chết, khi họ cố vượt qua một khoảng đồng rộng trồng khoai mì hoang, không xa giao thông hào phòng thủ của quân VNCH bao nhiêu. Xác Thuận nằm duỗi thẳng, trên đường đất còn in rõ dấu dây xích xe tăng cộng quân chằng chịt một vùng, trong màn bụi đỏ mịt mù giữa cái nắng quái chiều hôm đang xuống của đất trời Long Khánh.

    Trên sàn tàu chiếc thương thuyền lớn còn sót lại, đang hối hả rời bến Bạch Đằng, chỡ theo cả ngàn người bỏ Sài Gòn ra đi rạng sáng ngày 30 tháng tư, ngày miền Nam lọt vào tay quân giặc Bắc, Nhã Vy ôm con, mắt đăm đăm nhìn xuống đám người đông như kiến, có già có trẻ, gọi nhau ơi ới, đang cố bám các mạng dây thừng trèo lên, trong lúc chiếc tàu chầm chậm xa bờ, mong tìm thấy Thuận trong số những người đó, nếu không cũng ở trên một chiếc tàu nào khác quanh đây. Tàu chạy qua ngang khúc rẻ, đầu kho xăng dầu 18 lâu rồi, ở phía bến Bạch Đằng vẫn còn người và người, nhốn nháo giữa cái nắng đầu mùa hạ nóng nung người của trời Sài Gòn. Nhã Vy một lần nữa ôm sát con mình vào lòng, ngước nhìn lên khoảng trời mênh mông thì thầm, như đọc một đoạn kinh cầu, xin người có được cuộc tình trọn vẹn, ở lại dưới mộ sâu ngàn năm yên nghỉ và với người chưa được trọn vẹn cuộc tình, còn đâu đó trên đường đời nghiệt ngã, xin nhớ cho, vẫn có một người đã biết chờ ngày mai của hôm qua, dù có chút muộn màng.

 
Thuyên Huy

(Trích từ tập truyện “Bất Chợt Thu Về Đầu Hạ” – Athena Press, Luân Đôn, 2005)

 

 

   

   

     

   

   

   

 

   

   

  

   

  

   

   

Monday, July 7, 2014


BÓNG MA TRONG KHU NỮ KÝ TÚC XÁ

(Chuyện được viết bằng tưởng tượng trong bối cảnh có thật. Xin thứ lỗi cho những trùng hợp vô tình nếu có)

 Thuyên Huy

 

    Chủ nhật trời lưng lững trưa, nắng không nóng lắm. Gió từ con sông ngăn đôi chợ tỉnh Tây Ninh thổi nhè nhẹ lên dốc đường công viên, mang theo hơi nước mát rượi. Hàng cây phượng già rậm lá, bóng đổ che ngang gần hết đám xe lôi máy bên kia con đường đá đỏ đi núi Bà Đen. Giờ này vắng khách, mấy anh chủ xe nằm lim dim nhìn trời cao đất rộng. Trong công viên cũng không có mấy ai, lưa thưa ba bốn thằng bé bán bánh mì, cà rem tụm nhau đánh bài, không đứa nào nói một tiếng. Người lính gát trong cái lô cốt giữa dãy hàng rào tiểu khu tỉnh thỉnh thoảng ngáp vụng vài cái, hờ hững ngó về phía chợ dù ở đó cũng im lìm như bên này.

    Tiến ngồi thu mình trên xe Honda, sát cạnh bụi dạ lý hương, chỉ có lá mà không có hoa, từ khi mặt trời vừa đứng bóng. Anh nhìn xuống hướng sông, lầm thầm cái gì đó rồi đạp máy xe chạy vụt ra khỏi công viên. Mấy thằng bé đang đánh bài miệng chữi thề, chẳng buồn nhìn lên.

    Bài vở thi càng ngày càng nhiều vã lại ngày thi cũng gần tới nơi cho nên Mây không về thăm nhà như  thường lệ mặc dù hôm nay là chủ nhật. Mây nhất định đậu tú tài hai cho được để thi vào trường Dược như từng mơ ước. Em gái Mây, em Mơ năm nay học lớp đệ lục, theo đám bạn về nhà ở mãi tận dưới Gò Chùa từ chiều thứ sáu. Nhà có hai chị em lên tỉnh học, ăn ở tại nữ ký túc xá tỉnh nằm ngay ngã ba đường Pasteur, cách trường trung học công lập Tây Ninh không bao xa. Cũng như thường lệ, Mây cùng hai cô bạn cũng ở trong ký túc xá, đến học nhóm ôn bài chung với mấy người khác tại nhà Linh, con gái ông giáo Mai ở cuối con đường nhỏ, hai bên là hai hàng cây keo thẳng tấp gần giữa khúc đường ra chợ cũ.

    Hơn sáu bảy cô quây quầng trong cái nhà xe nói nói cười cười. Trời giờ này đứng gió. Tay phe phẩy mấy cái quạt giấy nhìn lên tấm bảng đen lớn, giống như tấm bảng trong trường trong khi Mây đang đứng vẽ lên vẽ xuống mấy đường biểu diễn của bài toán hình học hóc búa mà họ vừa tìm ra cách giải. Thình lình, Tiến từ ngoài đường phóng xe Honda nhanh vào rồi dừng xe khựng lại, cách chỗ đám con gái ngồi học không quá chục thước, rút dưới yên xe cây súng cạt-bin M12, bắn xối xả vào nhà xe, đám con gái la lên kinh hoảng, chui càn xuống sàn gạch, điếng hồn nhắm mắt, chết trân không ai dám nhìn lên. Người nhà bên nghe tiếng súng nổ sợ hãi không ai dám mở cửa ra xem. Tiếng súng ngưng, họ mới  ùa ra  về phía nhà xe của Linh. Tiến bắn xong, quăng cây súng xuống đường, phóng xe chạy mất. Đám con gái lòm còm ngồi dậy, ùa lên chỗ tấm bảng đen. Mây bị trúng đạn ở ngực, máu rĩ dài trên bảng xuống nhuộm đỏ thắm viên phấn trắng mà Mây cầm vẽ lúc nãy.

    Bác nhà bên xông vào, đỡ Mây lên. Mây không nói tiếng nào nhưng còn thoi thóp. Người khác chạy đi kêu xe cứu thương tới. Không lâu lắm người ta đưa Mây vào bệnh viện sau đó. Nghe tin, đám con gái trong ký túc xá và mấy cô giám thị hớt hơ hớt hãi kéo nhau ùn ùn vào thăm. Mây nằm bất động, bác sĩ và y tá trực nín thở làm tất cả những gì họ có thể làm để cứu Mây nhưng vì vết thương quá nặng, hơn một giờ sau Mây trút hơi thở cuối cùng. Bác sĩ , y tá đứng ngồi lặng thinh, đám học trò hơn mấy chục đứa trong phòng cấp cứu khóc bù lu bù loa vang dội cả một góc sân bệnh viện.

    Tiến là con trai đầu của một thương gia giàu có trong tỉnh, học lớp đệ nhị còn Mây lớp đệ nhất. Không biết ở nhà Tiến học hành ra sao nhưng dân chúng trong tỉnh lỵ không ai xa lạ gì với anh ta. Ngoại trừ những giờ trong lớp trong trường, người ta thấy Tiến cặp đôi cặp ba với đám con trai con ông chủ tịch hội đồng hay trưởng ty gì đó, chạy xe Honda lang thang ngoài đường phố, hết quán cà phê này tới quán nhạc nọ suốt ngày. Có điều là Tiến lại yêu Mây . Tan trường ra, chiều nào cũng vậy, cứ lẻo đẻo theo sau lưng Mây, tán tỉnh lời nọ lời kia, cho tới khi nào Mây về đến ký túc xá mới thôi. Thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, Tiến chạy xe vòng lên vòng xuống bên ngoài ký túc xá không biết bao nhiêu bận. Mây hết sức bực bội vì anh ta cho nên trong ngày ăn tiệc tất niên của trường năm nay, Mây đã nói thẳng với Tiến là cô không ưa những chuyện mà anh ta đã làm và khuyên Tiến nên cố gắng học hành đi trước mặt đám bạn cùng lớp. Tiến lầm thầm không nói gì rồi biến đi trong đám đông.

    Trưa chủ nhật, lần này Tiến không cùng mấy thằng bạn xách xe chạy rong như thường lệ. Hắn gói cây súng trong bao vải cát màu xanh ô liêu, xuống quán cà phê người Tàu ở đầu chợ cũ, ngồi uống cà phê một mình. Chờ tới gần giữa trưa, Tiến chạy xe vào công viên, núp mình trong bụi dạ lý hương một lúc lâu, trước khi bỏ đi hắn không quên dấu lại nơi đó mấy trái lựu đạn mà hắn đã nhờ người lính nào đó tìm giùm từ mấy ngày trước, nói là để đi bắt cá bên xóm chài. Ra khỏi công viên, trên xe Honda Tiến thong thả nhìn dòng sông đục ngầu màu bùn dù trời đã ngập nắng.

    Sau khi bắn Mây chết, cảnh sát lùng bắt Tiến khắp nơi. Tiến chạy xe ngược vào công viên, tới chỗ mà hắn đã dấu mấy trái lựu đạn. Cảnh sát vây quanh, dùng loa kêu hắn ra đầu thú. Tiến lặng thinh, độ nửa giờ sau, người ta nghe tiếng lựu đạn nổ, xác lá  dạ lý hương văng tứ tung cả một khoảng đất. Khi cảnh sát vào đến nơi, Tiến nằm gục chết nát cả lồng ngực.

    Đám ma của Mây đông nghẹt người, không kể dân làng Gò Chùa, học trò trường tỉnh chắc phải  có cả trăm cùng thầy cô, họ cứ ôm nhau mà khóc ròng khi chiếc quan tài từ từ xuống huyệt. Chôn cất xong, em Mơ nghỉ mấy ngày liền rồi trở lên tỉnh học lại.

    Buổi chiều, giờ ăn chiều của ký túc xá bắt đầu khoảng sáu giờ và kéo dài chừng hơn một tiếng đồng hồ. Sau đó mấy người làm dọn dẹp sạch sẽ rồi ra về, nhà ăn trở thành phòng học. Nhà ăn nằm giữa sân trên khu đất rộng đầy cỏ xanh. Dãy phòng ngủ cất theo hình chữ V theo góc ngã tư đường. Từ nhà ăn ngồi nhìn lên, ai đi qua hành lang đều được thấy rất rõ. Chừng độ mươi ngày sau khi Mây chết, các chị học lớp lớn xì xầm với mấy cô giám thị là vài đêm nay, lúc học trò trong đó có cả Mơ xuống phòng học hết, họ nhìn thấy Mây đi qua đi lại, ngồi xuống giường của Mơ, tay xếp qua xếp lại gối mền mặc dù nó đã được xếp rồi trong ánh đèn điện đêm vừa đủ sáng, Bóng Mây ở trong phòng chừng mươi phút rồi biến mất. Cô nào cô nấy sợ điếng hồn, không ai dám ngồi lại học khuya và đi lên đi xuống gì cũng đi từng nhóm ba bốn người. Riêng mấy em lớp nhỏ cở tuổi Mơ, hồn nhiên khóc đó rồi quên đó, cứ nói cười luôn miệng.

    Vài  đêm sau, mấy cô giám thị cũng xuống nhà ăn, ở tới khuya, Quả thật họ cũng thấy giống như lời học trò lớp lớn nói. Mấy người làm bếp nghe vậy cũng ở nán lại xem, tất cả đều thấy như nhau. Chừng một tuần sau, cả trường cả lớp ồn ào bàn tán chuyện bóng ma trong khu ký túc xá. Hội phụ huynh học sinh tỉnh qua chùa Thiên Ấn tự hỏi ý kiến rồi quyết định tổ chức buổi lễ cầu siêu cho Mây tại ký túc xá. Ba má và gia đình Mây cũng có mặt. Chuông mõ, nhang đèn, tiếng kinh văng vẳng. Thiên hạ đứng xem chật cứng cả đường Pasteur.

    Từ sau ngày cúng cầu siêu không còn ai thấy bóng Mây hiện về thăm em mình và vì sợ đứa con nhỏ là Mơ bị ám ảnh, ba má Mơ đã xin cho nó chuyển về học dưới Gò Dầu. Mơ đi rồi, cái giường Mơ ngủ đã đem bỏ đi và thay vào cái mới nhưng từ đó cho tới ngày tựu trường năm sau, giường cứ trống trơn, không có ai nằm.

 

Thuyên Huy

Monday, March 18, 2013

Đưa người qua sông - Thuyên Huy

Đưa Người Qua Sông

























Đưa người ta không đưa qua sông
Nửa ngỏ trúc xưa mấy cụm hồng
Nắng sau vườn nhỏ thưa vàng vỏ
Người có còn ta với người không?

Bước chậm để hồn theo tiếng xưa
Quanh ta đâu đó gió giao mùa
Bướm hoa rã cánh đêm trừ tịch
Người thấy đời ta buồn hơn chưa?

Hỏi khẻ lòng nhau trong mắt trong
Khúc thiên thai lỡ phím tơ chùng
Áo hoa xiêm áo giờ mộng tưởng
Người bỏ đi đời ta trống không.


Thuyên Huy