Monday, August 7, 2017

Gói Măng Khô - Tôn Thất Tuệ


Gói Măng Khô
 
 

 

    Khi tôi thực sự đến Quán Chim để chôn chặt cuộc đời bằng đôi chân đất thì Quán Chim không còn chim nữa. Chỉ còn một cây dầu cao khỏng đứng một mình ở góc chợ. Chẳng hiểu vì sao nơi nầy có địa danh như thế, trong lúc tên thật là làng Thái Thiện nằm ngay ở ranh hai tỉnh Phước Tuy và Biên Hòa trong tổ chức hành chánh trước 1975. Đi tắm biển Vũng Tàu du khách thường ghé lại Long Thành mua trái cây, nghỉ xả hơi rồi đi tiếp 25 cây số nữa thì gặp nó. Quán Chim. Trước đây chim đủ loại được chưng bán dọc tỉnh lộ vào ngày cuối tuần; chim đã làm thịt bán từng xâu từng rổ.

Khi tôi đến thì không còn gì nữa, chỉ có những gánh khoai mì chờ đưa lên xe một cách lén lút đem cho dân Saigon cái món sâm của thời cách mạng mới. Nơi đây cũng có máy xay lúa, cả làng phải gánh thóc đến mà chà. Từ nhà tôi đến chợ mất ba cây số.

Đây là nơi quần hội của cả bốn ấp trong xã; người mới đến nhiều hơn người cũ. Có những cô gái đẩy những chiếc xe thồ mà mặc chiếc quần jean nhung màu rượu chát đỏ còn mới nguyên kèm với chiếc áo rách vai vá vội. Có những chàng thanh niên chừng 30 tuổi, chiếc nón lá rách móc vai thưởng ngoạn ly café bít tấc một cách trang trọng như ngày còn ngồi ở Continental hay La Pagode Saigon. Cũng cùng trên những chiếc ghế dài ấy, có cả Năm Ngoãn, Sáu Lô hay Tư Bèo... cho luôn cặp dò lấm bùn lên mặt gỗ, ngồi chồm hỗm theo kiểu nước lụt như muốn chờ ai đến trình xin một chữ ký rồi cười khoái chí vì vừa ban một ân huệ.

Cứ nhìn phố chợ chạy dài chừng 100 mét, ta có thể hình dung sinh hoạt xã hội một cách đầy đủ. Đây là cái thau pha nước và dầu, không bao giờ tan loãng dung hợp nhau. Như ở các chàng thanh niên kia, quá khứ có mất đi chỉ còn đọng lại ở cái nón rách thì nó cũng còn ở nơi cung khách vân vê cái thìa rồi để nhẹ xuống bán. Đó là mới nhìn bên ngoài. Biết đâu bên trong họ còn cả mọi thứ trầm kha.

Một thiếu phụ còn trẻ lắm vói qua bờ rào xé trộm mấy mảnh lá chuối của nhà ai để lót vào thúng rồi trở ra mé đường nhựa. Nơi đó có một bãi phân bò tròn trĩnh như mặt trăng mười bốn, còn nóng hổi như cái bánh đúc vừa đưa khỏi bếp, màu đen như chiếc phèn la dùng trong làng xã cũ. Bà ta nói: "Bầu bí nó thích phân bò", rồi như khóc, nói tiếp:

@******

Nhà tôi đưa cho tôi một gói măng khô. Tôi dục ông đi nhanh, càng nhanh càng tốt, còn không nhỡ như người ta kêu trở lại thì biết làm sao. Mà ông cứ dừng lại, mở cho được cái bao bố lấy cho được gói măng.

- Em ạ, ông nói, cả một gánh măng mà phơi ra còn ngần ấy. Món quà cho em và các con sau bốn năm.

Tôi thương quá mà phát cáu: "Sao anh không ăn đi; phơi cất; nhịn đói".

Nhà tôi ngơ ngác nhìn trời đất như lạ lắm, thỉnh thoảng ngồi xuống lấy cái kẹp tre xỏ quai dép sút vào cái đế bằng vỏ xe. Tôi nhìn chồng tôi. Cả cái khuôn mặt ngày nào chỉ còn lại mấy sợi râu mép đỏ như râu tôm luộc, đỏ như râu bắp. Mấy sợi râu màu hoe như râu Mỹ râu Tây trên khuôn mặt gầy ốm. Những sợi râu đỏ vì thiếu ăn. Những sợi râu chỉa ra như các cần ăng ten của người máy trong các phim khoa học giả tưởng. Những sợi râu màu vàng hung như màu những lát măng khô.

Đường từ trại cải tạo ra bến xe hoang vắng. Những bụi tre nho nhỏ chạy theo hai cây số hương lộ rải đá. Chỉ có những cặp vợ chồng mới gặp nhau sau bao ngày chờ đợi. Ngày trở về, may quá, chồng tôi không què quặt, trở về cọng thêm gói măng khô với mấy sợi râu như râu tôm luộc.

Bỗng nhiên nhà tôi giật cái giỏ xách trong tay tôi, xé cái bao măng lấy ra một tờ giấy. Duỗi thẳng tay ra xa mà đọc vì không có kính, rồi đọc lớn:

Một lời thỉnh cầu tha thiết: xin trao gói nầy cho Nguyễn Thị Lý, 218/3  hương lộ 3, ấp 2, xã An Thái, quận Bình Thạnh, Gia Định. Xin tìm mọi cách trao cho Lý gói này. Lý, vợ tôi, vợ của Võ Thái Hóa. Chữ ký và chữ viết của Lý có ở mặt sau tờ giấy nầy. Đa tạ 1979.

Đó là tờ giấy học trò tôi dùng viết thư cho Hòa. Thư thì viết mấy chữ cho đúng khuôn phép, bảo chồng yên tâm học tập. Tôi bớt sợ chồng tôi bị kêu trở vào trại nên ngồi ở gốc cây cho đỡ mỏi chân. Hòa ngồi bệt xuống đất một cách dễ dàng, duỗi thẳng chân. Quần áo tôi dẫu sao cũng tươm tất, có đôi dép nylon, tôi thấy nhà tôi rách nát quá mà còn để giữa hai chân cái bao bố túm miệng. Rõ là một kẻ ăn mày với mấy sợi râu ngô trông chẳng giống ai. Tôi chợt nhớ có đem theo cái áo sơ mi ngắn tay nên bảo chồng thay cho dễ coi hơn. Hòa cầm cái áo bất động, xếp lại bỏ vào túi xách rồi nói:

- Còn sá gì nữa bà ơi. Mà thay áo giữa đường, người ta nói mình thay hình đổi dạng, thêm rắc rối.

Dạo ấy trời vừa hết mưa. Tre trổ nhiều măng vòi. Tôi đứng dậy hái một nắm đem về ướp chua nấu canh. Nhà tôi vỗ mạnh vào bắp chân và nói:

- Nó to thế nầy. Nhiều lắm nhưng không dễ gì hái. Em tưởng dễ mà bẻ một mụt măng rừng à. Mới nhú ra một tý tụi nó chụp ngay. Người đông như kiến. Của ít người nhiều. Những cây măng gần thành tre còn trèo lên bẻ đọt mà ăn.

Tôi hỏi vậy sao có cả gánh mà làm khô được một gói. Nhà tôi cho biết sáu tháng trước người ta đưa anh và một nhóm nhỏ đến một khu rừng tre phát hoang. Hòa nói:

- Muốn làm khô, phải dùng măng non. Phần già anh đã ăn, ăn phần già lâu tiêu hơn nên lâu thấy trống bụng. Anh nhớ em thường nấu măng khô với bún tàu, với cải tầng ô. Anh sấy chứ không phải phơi nắng đâu. Củi thiếu gì, anh đốt lấy than rồi sấy. Không có mùi khói đâu. Trong rừng rậm, lửa ấm là hạnh phúc mà ngồi trăn trở lát măng cho em cho con thấy ấm lòng không tả.

Hòa đứng phắt dậy chạy lại bụi tre, hai tay nắm chặt vào nhau như đang cầm con dao chém ngang chém dọc cả chục lần, rồi ngã quỵ. Tôi hốt hoảng chạy đến đỡ dậy. Hòa cười:

- Anh vừa diễn xuất cho em một phần nhỏ cái màn đốn măng. Nhiều lúc mệt lã anh nghĩ sẽ chết thật khi tay vói được mụt măng. Cái bụi tre trước mắt em nghĩa lý gì. Tre trong rừng chằn chịt. Thấy nó đấy mà chặt cả ngàn nhát chưa vào được. Gai tre, cành tre thì em biết rất dai. Còn rựa hả? Rựa bọn anh rèn lấy, rèn bằng thứ sắt tệ nhất, bất cứ cọc sắt nào cũng được, đập bẹp, đốt lửa mà rèn. Dao hả, đúng cái dao để đạt chỉ tiêu số cây, số tre đem về nạp. Em cứ tưởng tượng như lấy con dao cùn trong bếp mà cạo râu. Hừ, anh cứ nghĩ có ngày sờ được mụt măng rồi chết luôn cho lá tre rơi xuống phủ kín làm mồ.

Một chiếc xe lôi dừng lại mời. Chúng tôi từ chối vì không có tiền, một phần còn sớm mà đi bộ cũng vui, lâu ngày chẳng đi bên nhau.

- Biết có thể chết vì kiệt sức, tôi nói, sao anh cứ hái măng cho nhiều, phơi khô, sấy khô. Tội nghiệp anh quá. Ăn làm sao cho đành gói măng nầy.

- Măng tre có gì bổ béo, chỉ để cho món ăn có cái gì dai dai cưng cứng. Mà ăn nhiều lại độc. Luộc không kỹ hai nước, ăn vào có thể say mà chết. Măng rất độc, nó làm giảm lượng calci trong người nên mỏi xương lắm. Anh biết chứ. Vào lúc đói thì cái gì cũng ăn. Đó là chuyện thường tình như ăn cỏ ăn lá. Nhưng việc hái măng nó kỳ thú. Anh muốn nói cho em nghe. Anh đã bắt đầu bằng màn diễn xuất hồi nãy ở gốc tre kia.

Tôi thấy mừng vì nhà tôi còn minh mẫn tuy áo quần rách nát, mặt mày hom hem, râu ria lởm chởm. Tôi im lặng lắng nghe:

- Hôm nằm mệt nhừ ở bụi tre, anh thấy mình vô lý. Một calorie vào lúc thiếu ăn rất qúi. Anh đã đổ hết sức lực để đổi lấy một thứ chả cho anh một năng lượng nào. Tính cho kỹ việc nhai măng cũng tốn thêm calorie. Làm một bài tính thì thấy mình thua thiệt. Nhưng anh vẫn xông vào bụi tre, quyết hái cho được mụt măng. Nhiều lần; nhiều lần.

- Anh phơi khô cho vợ, cho con. Em làm khổ anh.

- Không, không phải thế. Em? Con? ồ chỉ là huyễn mộng, không thực như sương núi, không thực như hơi nước. Chỉ là huyễn mộng. Anh còn tệ hơn một thủy thủ đa tình viết thư cho người yêu bỏ vào chai thả xuống biển, em còn tệ hơn cô tình nhân bé nhỏ trên bờ.

Tôi thật ngậm ngùi, bây giờ mới biết tại sao Hòa bỏ vào gói măng khô mấy chữ sau bức thư của tôi, nhờ bất cứ ai trao cho tôi gói măng khô. Nhưng tôi chưa hiểu tại sao Hòa tiếp tục đốn măng. Chồng tôi giải thích:

- Hành động xem như phi lý ấy cho anh biết anh đang còn sống. Có thể nói cho dễ hiểu tuy không đầy đủ, đó là bản năng sinh tồn, cái bản năng làm cho chúng ta lao đầu vào cuộc sống, vào cái sống cho dù quá khổ đau. Ở vào một nơi rất lạ, nơi mọi tư tưởng đều đảo ngược, nơi con người sống như ngoài trọng lực, nơi con người mơ thành con kiến để đi ra đi vào tổ kiến, mơ được thành con mối sống trong tỏ mối ở gốc cây hắn dựa lưng trong rừng, mơ thành trái gì đắng rụng đầy mái tranh trên cái xác buồn hiu, ở vào nơi ấy, ở vào nơi ấy, Lý...

(Nhà tôi không nói nữa. Tôi tiếp tục đi. Bỗng nhiên tôi quay mặt nhìn Hòa. Hòa đang đưa tay áo dơ bẩn chùi má bên trái, má phải vẫn còn một giọt nước mắt đang chảy.)

"Ở vào nơi ấy anh không còn một ý nghĩa nào để sống. Mười phần chết bảy còn ba, chết hai còn một, thân ta rẻ rề. Anh không phải là thiền sư ngồi quay mặt vào tường để gạt bỏ mọi sự ra ngoài trí tưởng. Anh vẫn có hai cảm giác khác nhau khi ăn một miếng thịt và một miếng rau. Anh vẫn còn thương nhớ em khi thấy hai con chim rỉa cánh cho nhau.

"Hành động lăn xả vào bụi tre trong hơi tàn mệt mỏi cho anh thấy mình đang còn muốn sống. Cảm thấy qúi cái thân xác, làm anh bỏ những điều người ta dạy về con người. Lúc ấy anh thấy linh hồn nằm trong bao tử; lòng bàn chân là đầu não vì nó báo hiệu đường có nhiều gai.

"Ồ, cái mụt măng như cái ngà voi, nó nằm sau những lớp gai đan chéo. Nó hấp dẫn, nó tập cho anh trở lại cái tha thiết nồng nàn, tha thiết những thứ tầm thường; đúng, cái mụt măng nó cũng tầm thường trong rừng rậm hay giữa chợ. Anh tha thiết nó như anh tha thiết cái bao tử, mà trong bao tử có linh hồn, có lương tri của con người.

"Những nhát dao anh chém vào bụi tre là những nét đục trên tảng đá, trên khối gỗ để chạm một hình tượng, để vật thể hóa thế giới tâm linh. Anh gục ngã, anh kiệt sức như điêu khắc gia gục ngã dưới chân tượng mình mới khai sinh. Tảng đá ấy, khối gỗ ấy, bụi tre ấy đã được đục đẽo thành một hình tượng. Hình tượng ấy là mụt măng. Ồ mụt măng trắng ngà, to bằng cái bắp chân. Mụt măng ấy chính là anh cũng như hình tượng ấy chính là điếu khắc gia vậy".

Chồng tôi để cái bao bố xuống đất, móc trong túi cái gói nylon, lấy một nhúm thuốc rê rồi vấn trong mẫu giấy báo, ngơ ngác không kiếm đâu ra lửa để hút. Tôi trở về với thực tại để nhớ rằng có đem theo cho chồng một gói thuốc hiệu Đà Lạt và một hộp diêm quẹt. Tôi quên lững cũng như tôi quên đưa cho chồng chiếc áo sơ mi còn khá lành thay cho chiếc áo rách bấn trong tù.

Đằng xa đã hiện ra mấy nóc nhà phố chợ, khu bến xe. Phần còn sớm, phần mỏi chân, bọn tôi ngồi nghỉ, cũng gần một bụi tre bên đường. Mặt khác tôi sợ đường ngắn không đủ cho chồng tôi nói nốt ý tưởng về cái mụt măng, vã lại tôi thích nghe chồng tôi nói, lâu lắm không nghe tiếng nói thân yêu ấy. Đến chợ và nhất là trong xe thì thế giới ấy của tai vách mạch rừng, của thời đại sợ hãi. Hơn bao giờ hết, lúc nầy là lúc "bụi tre có mắt, nồi đồng có tai".

Tôi ngậm ngùi thương cảm nhưng cũng mừng thầm vi chồng tôi chưa loạn trí, ăn nói còn mạch lạc. Con người muôn thuở trong anh vẫn còn, không thích chửi rủa những chuyện vụn vặt. Hòa ngồi trầm ngâm hút điếu thuốc rê, hút xong xé tàn thuốc vứt mẫu giấy và giữ chút thuốc còn lại bỏ vào bao nylon. Hòa vẫn trầm ngâm, quả đúng như cái tên Thái Hòa cha mẹ đặt cho. Từ lúc ra trại đến giờ chồng tôi chưa hỏi về các con, ngoại trừ câu "món quà cho em và các con" khi đưa cho tôi gói măng khô. Tôi mở gói thuốc Đà Lạt đưa cho Hòa một điếu và nhắc khéo bằng cách nói các con xin ngoại gói thuốc đem cho bố. Hòa vẫn ngồi yên, lại vỗ vào bắp chân mà nói:

- Ồ nó to như thế nầy, to như bắp chân, ồ cái mụt măng nó to như bắp chân.

Tôi đâm sợ chồng tôi mê dại, ám ảnh bởi mụt măng trắng ngà mà anh xem như chính anh, chẳng khác bước tượng chính là điêu khắc gia. Tôi vững tâm khi thấy mắt Hòa vẫn sáng, khuôn mặt tuy tiều tụy nhưng không có gì ngây dại, mấy sợi râu bắp ngô vẫn còn linh hoạt như râu con mèo tinh thông. Hòa tiếp:

- Anh thương cái mụt măng, anh nhớ cái mụt măng. Gói măng khô anh để ở đầu nằm. Những đêm không ngủ được anh cầm đưa lên mặt ngửi thấy mùi măng khô, đưa sát vào môi như ôm hôn nhẹ má em. Gói măng khô, người bạn đồng hành trên đoạn đời vô định, quảng đời mà vợ con là huyễn mộng, huyễn mộng không thực bằng gói măng khô để ở đầu nằm. Lý, anh muốn giữ gói măng khô.

Tôi chẳng hiểu gì, đưa mắt nhìn chằm chặp nhà tôi. Hòa đưa đôi tay dụi mắt vừa nói:

- Ra hỏi cổng, anh không còn thấy em là huyễn mộng. Em dục anh đi nhanh, anh đưa em gói măng khô, cái mà anh cho không phải là huyễn mộng để tăng cường điều không phải là huyễn mộng nơi em. Chỉ nửa giờ sau, anh lại thấy em huyễn mộng như bao giờ.

- Anh nói gì? em vẫn yêu anh. Bốn năm anh xa nhà em vẫn chăm lo cho con; nào có thay lòng đổi dạ.

- Không, không phải chuyện ấy. Hồi nãy em bảo anh thay cái áo, anh không chịu. Tại sao? (Chồng tôi đứng dậy, lấy tay chỉ vào ngực mình). Hòa nầy vừa ra một nhà tù nhỏ để vào một nhà tù lớn. Có gì khác đâu mà thay áo thay quần.

Hòa lấy trong túi ra tờ giấy mà họ mới cấp, đọc cho tôi nghe:  Nay chấm dứt thời gian cải tạo trong trại thiếu úy Võ Thái Hòa, số quân (tôi không nhớ) của chế độ miền Nam cũ". Chồng tôi xếp tờ giấy bỏ vào túi nói:

- Họ giữ đầu cán. Họ chơi chữ rất khéo. Em nhớ hai chữ trong trại, nghĩa là còn cải tạo ở địa phương, ở mỏ than Nông Sơn, Hòn Gay, Cẩm Phả ...Ôi huyễn mộng nuôi em từ đây. Ha ha, người ta chơi chữ thì mình làm thơ.

Tôi dục về và xoa dịu Hòa:

- Chuyện gì đến sẽ đến, hơi đâu mà lo. Em xin được miếng đất ở Quán Chim, đất khô chỉ trồng khoai mì. Bán đồ đạt em mua được ba công ruộng hơi xa một chút. Cái chòi tranh nho nhỏ cũng được, anh về kiếm tranh tre nới rộng ra. Gặp thời thế thế thời phải thế.

Trên đường đến bến xe, chồng tôi cứ lẩm nhẩm nhắc đến mụt măng, tôi thực sự ghen tức với vật vô tri ấy. Nửa đùa nửa thực tôi nói:

- Được về rồi, ông cố quên giùm tôi cái bụi tre ấy, còn chỗ mà nhớ giùm tôi, thương giùm tôi. Khổ quá ông ơi.

- Ai lại đi ghen với bụi tre. Anh đã nói với em chính nhờ nó mà anh tha thiết một cái gì trên cuộc đời, nó tập cho anh tha thiết trở lại. Nó nhắc anh nhiệm vụ phải giữ một niềm tin như chiếc thuyền độ mình qua cơn sóng gió.

@

Suốt đoạn đường nhựa gần hai cây số, tôi hoàn toàn giữ yên lặng cho chị Lý kể hết câu chuyện. Tôi chưa hiểu tại sao phân bò lại móc qua gói măng khô nhưng không dám hỏi thẳng. Vừa rẽ vào con đường đất, chị Lý để cái thúng xuống, tôi cũng đặt bao trấu trên vai xuống đất và hỏi khéo:

- Chị đi bán cái gì ở chợ mà đem cái thúng không về?

Người đàn bà duyên dáng ấy cười tự nhiên:

- Sao nói là thúng không? Có bãi phân bò. Nói chuyện quên thấy nó nặng. Bây giờ phải nghỉ mà thở một chút. Đi đâu tôi cũng đem cái thúng không, có gì lượm bỏ vào mang về như hôm nay được bãi phân bò đem về trồng bầu. Các bà đi đâu cũng có giỏ xách, nhiều lúc không có gì phải bỏ bỏ cục đá chẳng hạn cho nặng. Thời nay thì đem cái thúng có khi dùng, cùng không thì cái tay khỏi trống trải. Tôi ra xã đưa cho nhà tôi gói bầu khô. Tôi có ý xem có anh trong đám công tác hay không, mong nhà tôi có người quen, mà không thấy, rồi gặp anh ở chợ. Họ đi rồi.

Chị Lý ra chiều suy nghĩ, có nét buồn, nói:

- Đáng lẽ tôi không đi. Đã nhờ thằng em đi rồi, tôi chạy theo gọi vào. Không biết có sao không mà tôi lo quá. Hôm qua ngoài xã vào kêu nhà tôi công tác mười ngày nông trường huyện ở Bầu Bàn, ăn uống tự túc ba ngày sau đó họ cung cấp. Tôi lấy gói bầu khô treo trên bếp chia làm hai. Một nửa kho mặn bỏ vào keo nhựa, phần kia gói cho anh mang theo, với bốn lon gạo, chai nước mắm. Gói bầu khô để kho với cá, Bầu Bàn họ nói có nhiều vũng cạn dễ tát bắt cá lòng tong.

Chúng tôi đi tiếp trên con đường nửa khô nửa ướt. Nhà chị Lý cùng một lối với nhà tôi. Câu chuyện tiếp:

- Nhà có ba đồng nên chiều qua tôi qua chùa mượn cô trị sự năm đồng để sáng nay đưa cho nhà tôi bỏ túi. Tôi nói tiền mượn nên Hòa chỉ lấy ba đồng và bảo tôi đi trả ngay để các cô khỏi ghi sổ xuất nhập mất công. Tôi qua chùa. Sau khi trả tiền, tôi ở lại giúp phơi mấy thúng cải để muối dưa. Xong việc tôi vội chạy về nhà lo cho chồng đi công tác. Đến nơi, nhà tôi đã đi rồi.

"Trên bàn có cái gói gì bọc giấy báo. Thấy lạ tôi mở ra xem. Đó là gói bầu khô hôm qua tôi bỏ vào bọc nylon. Giữa hai lớp bao bì ấy là mấy chữ nhà tôi viết sau lá thư tôi gởi, tức là tờ giấy nhà tôi bỏ vào gói măng khô tôi nói với anh hồi nãy. Biết là gói bầu khô tôi gói lại, gọi ngay thằng em đem ra xã, sợ chồng tôi không có gì ăn. Nó đi rồi, tôi thắc mắc tại sao chồng tôi lại bỏ tờ giấy ấy vào. Tại sao gói giấy ấy lại còn đó? Cố ý hay vô tình để quên? Nhà tôi linh cảm điều gì chăng? Tôi chụp cái thúng mà tưởng là cái nón, chạy theo thằng em vừa chạy vừa kêu. Tôi muốn gặp nhà tôi. Đến xã tôi chỉ đưa gói bầu khô, tảng lờ như không biết gì bên trong. Tôi cố tránh bối rối cho cả hai. Ít phút sau họ lên xe."

Tôi xoa dịu chị Lý:

- Nông trường Bấu Bàn rộng lắm. Tôi đi rồi, một tháng trước khi anh chị đến đây. Họ cần nhiều người. Biết đâu mai tôi đi đợt tiếp. Nếu đi tôi sẽ cho chị hay. Không có chuyện gì đâu. Tôi nói nhà tôi qua thăm chị và các cháu.

- Cảm ơn anh chị. Tôi bối rối ghê lắm. Gặp bãi phân bò tôi hốt về trồng bầu phơi khô. Gói bầu khô làm tôi nhớ lại gói măng khô. Đang lúc bối rối tôi gặp anh, tôi nói liên hồi để trấn áp sự sợ hãi. Đáng lý nói phần nầy trước thì anh không bỡ ngỡ.

                                            @

Đến lối rẽ vào nhà, chị Lý để thúng phân bò xuống đất. Tôi cũng nghỉ chân. Chị Lý xoay lưng về phía tôi, tay thò vào bụng xắn cái quần đen lên cao. Tôi nhìn xuống đôi chân. Hai gót đầy đặn nhưng đầy những vết nứt theo chiều đứng, những vết nứt làm chỗ cho bùn đen bám vào nổi bậc trên da hồng trắng. Đôi gót chân như hai miếng gỗ có vân.

Nhà tôi đã đứng sẵn ở cỗng cho biết hôm sau tôi đi công tác mười ngày. Nhà tôi có vẻ lo. Tôi nói:

- Anh cũng đoán thế. Sáng nay anh Hòa đã đi rồi. Anh vừa cùng chị Lý ở ngoài chợ đi về. Em qua nói cho chị biết, có gì gởi cho Hòa thì sáng mai đem qua.

Nhà tôi bước đi; tôi nhìn kỹ hai gót chân. Cũng có những vết nứt vì bùn phèn như hai gót chân của chị Lý.-

 

Tôn Thất Tuệ

Cựu SV ĐS 10 QGHC

 Tôi lấy tên Nguyễn thị Lý đặt cho nhân vật phụ nữ đi đón chồng ra tù; người chồng đã trao gói măng khô. Chị Lý kể chuyện nầy khi với hai gót chân đã nứt vì bùn phèn ra xã đưa cho chồng gói bầu khô đem theo công trường như một lần cưởng bách lao động. Lúc viết tôi nghĩ đến Nguyễn Thị Lý, vợ của Hồ Sĩ Mừng, mà đám cưới tôi phụ rể, nhà tôi phụ dâu ở nhà anh Bé (đại tá Nguyễn Bé, Vũng Tàu; trong Trung Tâm gọi nhau anh em). Là đứa con đi hoang lạc lõng, tôi ít khi liên lạc với đồng môn. Địa chỉ nầy đến với tôi, khi cần một chi tiết nhỏ ghi trong web mauthan68. Tôi mới biết Hồ Sĩ Mừng, khóa đốc sự 15, được sống yên với gia đình ở Houston và ra đi ngày 23.5.2013. Khi ở tù ra tôi được nhà tôi cho biết Lý có đến nhà đối diện là nhà mẹ vợ của thiếu tá Cẩm, em ruột của đại tá Bé, xin địa chỉ của chú để thư từ thăm nuôi. Hai người vợ lính nầy gặp nhau hồi đám cưới 1973 mãi cho đến lần nầy rồi lưu linh lưu địa, trầm luân. Căn nhà Lý ghé lại đã biếu cho chính quyền để cho tôi được về, nên mất đi cơ hội nhỏ nhoi để biết tin về Lý. E chừng hai mợ ni trong tiền kiếp đã là hai chị em.

Tôi chỉ biết anh Bé chết khá sớm sau 1975. 1984, tôi đến Mỹ thì nghe anh đã chết và người phó trước kia trung tá Thiệu cũng đã lìa đời. Nhưng "đời" (trong ngoặc kép) đã phê phán khá nặng là làm nhụt chí trở lại cố quốc vì anh đã có lần khuyên bà con tạo dựng cuộc sống mới, tạm nhận nơi đây thay chốn quê nhà. Lúc ấy phe mình rất lý tưởng, lớp người qua trước đã đủ năm năm lưu trú mà xin nhập tịch, nhưng dấu nhẹm như mèo dấu. Bây giờ thì "đời" đã khác, tiếp tay phá nát ngôi nhà xưa. Nhà tôi cũng tuổi Mậu Tý như Mừng. Vợ chồng tôi vô cùng thương mến Lý. Truyện ngắn Gói Măng Khô  mang rất nhiều suy tư và tâm thức của tôi; nhân vật chính kể cho vợ nghe giữa thời tao loạn. Tôi sẽ gởi bài nầy nhờ các anh đăng để người thật và người trong truyện đối chứng những đau thương đời người.

Viết từ vùng núi Georgia USA, 30.07.2017

TTT
304Đen - Llttm

 

Bóng Người Trên Sân Ga - Nguyễn Bính


Bóng người trên sân ga
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Những cuộc chia lìa khởi từ đây
Cây đàn sum họp đứt tuôn dây
Những lời bèo bọt, thân đơn chiếc
Lần lượt theo nhau suốt tháng ngày

 
Có lần tôi thấy hai cô bé
Sát má vào nhau khóc sụt sùi
Hai bóng chung lưng thành một bóng
- Đường về nhà chị chắc xa xôi

 
Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu

 
Hai chàng tôi thấy tiễn đưa nhau
Kẻ ở sân ga kẻ cuối tàu
Họ giục nhau về ba bốn bận
Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu

 
Có lần tôi thấy vợ chồng ai
Thèn thẹn chia tay bóng chạy dài
Chị mở khăn trầu anh thắt lại
- Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!

 
Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi một chốn xa
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân ga

 
Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly

 
Những chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này

 
Tôi đã từng chờ những chuyến xe
Đã từng đưa đón kẻ đi về
Sao nhà ga ấy sân ga ấy
Chỉ để cho lòng dấu biệt ly

Nguyễn Bính

Thursday, August 3, 2017

Nguyễn Mạnh Côn Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử - Nguyễn Mạnh Trinh


Nguyễn Mạnh Côn, đem tâm tình viết lịch sử

 


Ngày 1 tháng 6 năm 1979, ngày nhà văn Nguyễn Mạnh Côn tử tiết tại trại tù khổ sai Xuyên Mộc.Ông tuyệt thực phản đối việc ông bị cầm tù quá lâu. Cai tù trại Xuyên Mộc không cho ông uống nước và ông chết trong trại tù.

Nói đến nhà văn Nguyễn Mạnh Côn phải kể đến những tác phẩm như Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử, Lạc Đường Vào Lịch Sử, Mối Tình Mầu Hoa Đào,… biểu lộ tâm cảm băn khoăn của một lớp tuổi trẻ thanh niên của những thập niên 1940, 1950 trong ý hướng muốn đi tìm một con đường chỉ đạo cho công cuộc giải phóng quê hương tìm độc lập tự do cho dân tộc và đất nước. Có những lựa chọn ý thức hệ của những trí thức tiểu tư sản, từ Võ Nguyên Giáp đến Hồ Hữu Tường, từ Vũ Khắc Khoan đến Lê Quang Luật, từ Nghiêm Xuân Hồng đến Nguyễn Mạnh Côn…

Nhà văn Tuấn Huy đã viết về một người cầm bút đàn anh của mình: “Khách quan mà nhìn nhận có một luồng gió mới thổi vào văn học của chúng ta những năm giữa thập niên 1950 trở về sau. Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, theo tôi, luôn luôn tên tuổi ông đi sát với tên tuổi nhà văn Doãn Quốc Sỹ bởi những tác phẩm của hai nhà văn này gần như trọn vẹn đều có những nhân vật đầy ưu tư trước những thăng trầm đổi thay của đất nước. Họ là những người luôn luôn quằn quại thao thức vì bị lịch sử dày vò.

Riêng Nguyễn Mạnh Côn, qua bút hiệu Nguyễn Kiên Trung đã phơi bày một cách thật ẩn dụ tình cảm và tâm trạng của cả một thế hệ thanh niên đã bị thất vọng sau cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ những nao nức hăng say khi cuộc “cách mạng mùa thu” tràn đến rồi sự vỡ mộng ê chề khi thấy rõ tuổi xuân và xương máu của mình đã bị một nhóm người lừa gạt. Từ “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” đến “Lạc Đường Vào Lịch Sử” đến “Hòa Bình…Nghĩ Gì… Làm Gì” nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đã mang hết cả những tâm cảm của ông để kể lể chuyện trò với chúng ta về những suy tư về những khao khát của một con người. Một con người có những dằn vặt có những vò xé có những đớn đau có những ước mong có những hy vọng. Một con người đôi khi tưởng như lạc lõng tưởng như cô đơn tưởng như nghịch lối tưởng như nghịch dòng. Nhưng là một con người thủy chung đi tới tận cùng cuộc hành trình về tư tưởng mà chính mình phác họa.

Kể cả những thời điểm mà Sài Gòn đã có nhiều cán bộ văn hóa Cộng sản xâm nhập, nằm vùng hay ngang nhiên thao túng; kể cả những thời điểm mà cuộc chiến dằng dai đã khiến mọi người hầu như rã rời thấm mệt thì Nguyễn Mạnh Côn vẫn hiên ngang đứng ở một chỗ cao, của một vị thế riêng, chống lại Cộng sản. Và một điều đáng nói khác với những cây bút “chống cộng ồn ào” khác, Nguyễn Mạnh Côn đã chống Cộng bằng tư tưởng và lý luận, bằng sự trầm tĩnh và nghiêm trang, bằng sự hòa nhã và đứng đắn, bằng những gì phát xuất ở con tim và bằng những gì phát khởi từ tấm lòng. Ông là nhà văn mà Cộng Sản coi là thù nghịch nhưng vẫn phải nể trọng…”

Nguyễn Mạnh Côn đã mang vào văn chương những ý thức chính trị. Những kinh nghiệm thực của cuộc đời ông được mang ra viết để thành những cống hiến cho thế hệ đi sau. Ông sinh năm 1920, là thế hệ lớn lên và trưởng thành trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước. Năm 1930, cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng đã bắt đầu cho một thời kỳ khủng bố trắng của Thực dân Pháp. Lúc đó, cao trào tranh đấu đòi độc lập tự do đang ở tột đỉnh. Sau đó là thời kỳ suy vi của Đế quốc Pháp. Đức Quốc Xã chiếm chính quốc Pháp và dựng lên chính phủ bù nhìn thỏa hiệp của thống chế Petain. Ở Đông dương chính quyền thuộc địa đu dây giữa hai chính phủ một lưu vong và một ở chính quốc và sau đó bị quân Nhật đảo chánh. Thế giới chiến tranh lần thứ hai vừa chấm dứt và manh nha trên thế giới một cuộc chiến tranh lạnh tiếp theo. Việt Nam, khi trước là thuộc địa Pháp sau bị Nhật đảo chính rồi bị chia làm hai vùng chiếm đóng của quân Anh ở miền Nam và quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa ở miền Bắc vào tước vũ khí của quân đội Nhật. Quân Anh vào miền Nam mang theo quân Pháp chiếm giữ các thành phố lớn rồi như vết dầu loang bành trướng các vùng chiếm đóng. Ở miền Bắc, quân Tàu vào và với nhiều đổi chác rút ra để quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng vào Hà Nội.

Chính phủ liên hiệp gồm Việt Cộng sản và các đảng phái quốc gia tuy kết hợp với nhau trong mục tiêu chống Pháp nhưng ở bên trong là những cuộc đảng tranh đẫm máu và khốc liệt. Nguyễn Mạnh Côn là một nhân chứng, là một đại diện của Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội trong quốc hội liên hiệp đầu tiên. Ông đã có nhiều kinh nghiệm chua chát. Và tạo thành chất liệu thực tế cho sáng tác.

Viết tác phẩm “1945. Lạc Đường Vào Lịch Sử” ông giãi bày: “tuổi trẻ nào cũng có nhiều phen sai lầm, tội lỗi và hoài nghi hối hận. Từ năm 1958 bắt đầu viết truyện này cho đến năm nay tôi vẫn theo đuổi một ước vọng là làm thế nào cho các bạn thanh niên hiện đại tin chắc rằng tuổi trẻ của chúng tôi không có gì hơn tuổi trẻ của các bạn. Chúng tôi có thể là những anh hùng: anh hùng lạc đường một cách bất đắc dĩ.

Và chúng tôi chỉ có nhiều đau khổ. Nhưng đau khổ, sẽ đến như đã đến, với tất cả, Cuốn truyện này là bằng chứng, sự chịu đựng của chúng tôi. Bây giờ đến lượt các bạn…”

Viết một tác phẩm khác: “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử”, với những hồi ức đã có, đã sống, ông nhìn lại đoạn đường đã qua với nỗi ngậm ngùi nhưng vẫn có nhiều hy vọng:

“Lòng hỏi lòng, tôi thấy mình như con ngựa mệt mỏi dọc theo lối mòn kháng chiến quanh co, nay ra đến con đường mới vừa thẳng vừa rộng, thốt nhiên đâm sợ. Sợ, nhưng cũng có mừng; đàn ngựa trẻ đương phóng lên nước kiệu…Tôi linh cảm Việt Cộng lại đương nhầm, nhầm ở chỗ đánh giá anh em ta quá thấp…”

Lúc đó, trong hoàn cảnh đặc biệt của đất nước, cũng có nhiều cố gắng để tìm một con đường thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước đúng đắn nhất. Một thế hệ muốn tìm những kim chỉ nam hành động. Có người chọn chủ nghỉa Mác, dùng đấu tranh giai cấp theo sự hướng dẫn của Cộng Đảng Đệ Tam Quốc Tế Nga Xô Viết. Nhưng với Nguyễn Mạnh Côn ông đã chọn con đường khác, tạo một ý thức hệ đối đầu với tư tưởng của Karl Marx. Và có lẽ trong suốt cả cuộc đời ông, ông vẫn thao thức trong ý định đi tìm một con đường tốt đẹp nhất cho dân tộc. Sự xa lánh ý thức hệ Mác –Lênin có lẽ từ suy nghĩ tinh tế để có một nhận thức chính xác. Chống Marx và vượt Marx…

Với bút hiệu Nguyễn Kiên Trung ông đã viết, suy nghĩ và tâm sự của mình, dưới hình thức những lá thư gửi cho bạn đang sống ở Pháp. Tác giả thú thực đã hoàn tất xong tác phẩm khá lâu nhưng thật khó khăn khi viết bài tựa để mang toàn bộ tác phẩm đi in. Ông muốn bài tựa ấy phải là một bài tựa đầy tình cảm nhưng khi viết xong thì tình cảm đã lắng xuống đến nỗi không có đến một rung động nhỏ. Và ông đã khám phá rằng vấn đề không thu hẹp trong vấn đề văn nghệ hay kỹ thuật, vấn đề bao quát cả một niềm hy vọng tha thiết của quốc dân năm 1945, cả một cuộc phản bội của Mặt Trận Việt Minh, với không biết bao nhiêu người sống quằn quại, không biết bao nhiêu người chết thảm thê vì sự phản bội ấy. Và ông không viết được bài tựa ấy cũng là hợp lý, bởi lẽ nào mang chút tình cảm vụn vặt của mình làm mào đầu để khởi đi một giai đoạn lịch sử cao quý, hùng vĩ của cả dân tộc…

Nội dung của “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” là những tâm sự của một chiến sĩ đang tranh đấu trực diện trong công cuộc giải phóng đòi tự do độc lập cho đất nước trong những bức thư viết ở những thời điểm quan trọng của lịch sử Việt Nam. Những không gian và thời gian như Hà Nội ngày 3 tháng 9 năm 1945, như Hà Nội, nội thành, Liên khu 1, ngày 26 tháng 12 năm 1946, như Hà Đông ngày 3 tháng 2 năm 1947, như Phú Thọ ngày 29 tháng 11 năm 1952, như Hải phòng ngày 19 tháng 7 năm 1954, là những cột mốc đáng nhớ của một thời đại đầy biến động Việt Nam.

Ngày 3 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội, Việt minh cướp chính quyền hớt tay trên các đảng phái quốc gia. Ngày 26 tháng 12 năm 1946 ở Hà Nội, trong nội ô thành phố, Tự Vệ Thành đã nổ súng đánh Pháp bắt đầu cho cuộc kháng chiến giành độc lập. Ngày 3 tháng 2 năm 1947 ở Hà Đông, Đảng Cộng Sản Việt Nam chính thức thành lập và cuộc đảng tranh đẫm máu và gay gắt nhất đã tạo những vết thương đau đớn cho dân tộc. Ngày 29 tháng 11 năm 1952 tại Phú Thọ là ngày bắt đầu cuộc cải cách ruộng đất và đấu tố để thực hiện đấu tranh giai cấp. Ngày 19 tháng 7 năm 1954 tại Hải Phòng là ngày bắt đầu chia đôi đết nước ở vĩ tuyến 17 theo hiệp ước Genève.

Từ thời điểm ấy, Nguyễn Kiên Trung kể cho bạn đọc nghe về cuộc đời của mình và thế hệ mình theo ngõ đẩy đưa của thời cuộc. Và từ đó như tấm gương phản chiếu thấy được sự bội phản lường lọc của những người Cộng sản Việt Nam. Với kỹ thuật tranh đấu được huấn luyện từ hệ thống Cộng Sản thế giới, họ áp dụng vào thực tế và đã thành công trong việc nắm giữ chính quyền và thực hiện chính sách vô sản chuyên chính.

Tác giả “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” đã “trút ngay lên mặt giấy một sự cần thiết phải gào thét, phải nức nở cho số phận những người bạn tôi sắp phải chết, ngoài kia, bên trên vĩ tuyến Bắc 17 độ. Nói là bạn, nhưng chỉ có một số nhỏ là bạn của tôi thật, còn nhiều người mới quen biết sơ qua trên con đường kháng chiến, nhiều người chưa hề được gặp mặt, nhiều người tôi đáng tôn lên là bậc thầy, Phan Khôi, Đào Duy Anh, Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, những người ấy sắp bị Việt Cộng mang ra xử án…

Họ, như Phan Khôi, Đào Duy Anh, Hoàng Cầm chưa hề bao giờ là những người Cộng sản. Nhưng cùng nhau, họ đã chống lại Việt Cộng. Điều cần biết, đối với tôi, là trong hàng ngũ duy vật, một sự nứt nẻ trầm trọng đã được xác nhận. Một điều cần biết nữa, là thực tế đang chứng minh rằng những con người ấy, vốn dĩ Cộng Sản hay chỉ đầu hàng hoặc thỏa hiệp với Việt Cộng, cuộc tranh đấu của họ gần đây là cuộc tranh đấu tiểu tư sản. Dưới bất kỳ một nhãn hiệu chính trị nào do họ tự nhận lấy hoặc bị kẻ khác gắn cho họ, họ quả thật là những người tiểu tư sản, trí thức tiểu tư sản. Những người trí thức tiểu tư sản trong hòa bình và vì lý tưởng dám liều mình chống lại cường quyền và bạo lực, đó là câu kết cho cuốn “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử”, câu kết tôi muốn viết mà trước kia không dám viết, e ngại rằng chưa đủ bằng chứng cho chúng ta tin cậy, thì bây giờ, những nhà trí thức của Hà Nội, của Hồ Gươm, và của Hồ Tây không bao giờ phai nhòa trong tâm tưởng kẻ lưu vong, những nhà trí thức anh dũng ấy, bằng tai nạn của họ đã cho phép chúng ta nói một lời quyết định…”

“Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” được viết cách nay nửa thế kỷ và xem ra tới bây giờ, vẫn còn nhiều suy nghĩ đáng chú ý. Lịch sử, đã bị chế độ hiện hữu bôi xóa và những bài học để thế hệ sau hiểu biết chứa đầy những giả trá. Từ năm 1945, tới nay không xa, khoảng cách lịch sử vẫn còn gần để nhận thức, thế mà đã có nhiều sai lạc. Thậm chí, có những người được gọi là trí thức như Đặng Tiến, cũng viết phê bình văn học, cũng là người tự cho mình là người thông hiểu văn chương lịch sử, mà trong một buổi phỏng vấn của Đài BBC gần đây đã bóp méo lịch sử, ca tụng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, với việc giết hại những chiến sĩ thuộc các đảng phái quốc gia. Thậm chí, ông ta còn cho rằng Đảng Cộng Sản đã phải chiến đấu với thực dân Pháp, quân phiệt Nhật, Quốc dân Đảng Tàu và các đảng phái quốc gia theo chân quân Tàu Tưởng. Ông ta gom gọn làm một các lực lượng quốc gia với cái nhãn hiệu là theo chân quân Tàu. Nếu Đặng Tiến đã đọc sách và viết phê bình về hai mươi năm văn học miền Nam thì chắc phải đọc “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” Không hiểu ông ta có gặt hái được suy nghĩ nào chính xác hơn không sau khi đọc tác phẩm này?

Một tác phẩm khác “1945, Lạc Đường Vào Lịch Sử” cũng lấy thời gian và không gian của những năm bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với các nhân vật bị đẩy vào cuộc một cách bất đắc dĩ. Họ hoạt động trong những sự sắp xếp của các thế lực quốc tế thông qua các đơn vị tình báo của các cường quốc liên hệ đến tình hình htời sự Việt Nam. Có nhiều nguyên ủy để họ tham gia chính trị. Có thể vì bị lôi kéo vì tình cảm như Tuyết Lan, như Quang, như Trọng. Có thể vì thi hành những công tác tình báo như Tôn Xương Linh nhân viên OSS của Mỹ mang bí số SA 141 hay ông Tiến, một lãnh tụ quốc gia, cha của Tuyết Lan mang bí số SA 72. những nhân vật ấy có đặc tính cá tính riêng, như Trọng là một người con trong gia đình quan lại với suy nghĩ và hành động đặc sệt tiểu tư sản, như Tôn Xương Linh, người Tàu nhưng mang dòng máu của một qaun đại thần triều Nguyễn lưu vong Việt và có suy tư của người Việt Nam bị đẩy vào trong một vai trò tình báo quốc tế thành viên của phái đoàn OSS của đại tá Patti. Từ hoàn cảnh cá nhân riêng đến cảnh ngộ chung của dân tộc, mọi nhân vật đã đi vào trong những con đường bị làm tay sai cho các thế lực ẩn mặt của các siêu cường. Có thể họ có tâm tính của cách mạng lãng mạn như Trọng nhưng họ cũng có thể có cái máu lạnh lùng vô hồn vô cảm của Lâm Trọng Ngà, một chỉ huy công an Cộng sản. Những nhân vật ấy, trong những khúc quanh khốc liệt của lịch sử đã được mô tả với tư cách chứng nhân cho một thời kỳ mang nhiều bí ẩn và những hiện tượng khó có thể giải thích nhưng đã xảy ra.

Viết về những chặng đường mà tác giả đã sống, Nguyễn Mạnh Côn mang những kinh nghiệm của chính bản thân để gửi một thông điệp cho các thế hệ sau về những lỗi lầm của những người đi trước đã tạo ra những hậu quả về sau nghiêm trọng. Cái lạnh lùng vô cảm của những người theo chủ nghĩa Cộng sản duy vật có thể giúp họ chiến thắng trong đoản kỳ nhưng sẽ là cội nguồn thất bại về sau trong trường kỳ.

Khi miền Nam Việt Nam bị sụp đổ vào năm 1975, Nguyễn Mạnh Côn bị chế độ hiện hữu trả thù, bắt giam và ông chết trong tù sau khi bị hành hạ vô cùng dã man về cả tinh thần lẫn vật chất. Khi chống lại chế độ Cộng sản, ông là một người tiên đoán khá chính xác sự sụp đổ của chế độ ấy nhưng đáng tiếc là ông không còn sống để chứng kiến sự sụp đổ ấy trên toàn thế giới. Suốt cuộc đời ông, mải miết đi tìm con đường lý thuyết làm chủ đạo cho công cuộc tranh đấu từ những kinh nghiệm của mình. Chủ nghĩa Cộng sản không thể chấp nhận được vì với biện chứng pháp con người không còn là một con người nhân bản nữa mà chỉ là một phương tiện để vận động cho một mục đích không tưởng.

Một tác phẩm khác của Nguyễn Mạnh Côn cũng gây được sự chú ý của văn giới. Đó là “Kỳ Hoa Tử”, câu chuyện tình của một cô gái người Nhật Bản yêu một chàng trai Việt Nam đang lưu lạc ở Trung Hoa. Kỳ Hoa Tử theo người yêu về Việt Nam trong lúc đang có cuộc kháng chiến chống Pháp. Bề ngoài thì tất cả lực lượng quốc dân đều tham gia vào cuộc chiến giành độc lập tự do cho đất nước nhưng thật sự bên trong thì những người đi theo chủ nghĩa của những người quốc tế vô sản đang nắm quyền lực và dùng đủ mọi phương cách để thực hiện cuộc cách mạng đấu tranh giai cấp. Trong âm mưu ấy, họ phải quét sạch những người mà họ cho rằng sẽ làm trở ngại cho công việc mà họ đang thực hiện. Một chướng ngại cản đường ấy là Hồ Tùng Mậu và quyết định phải giải quyết bằng mọi giá. Họ kết tội phản động và tạo dựng những chứng cớ buộc tội. Một nhân chứng dùng để vu khống và kết tội là chàng trai yêu nước đó. Là một đảng viên trung kiên, chàng không thể nào trái lệnh dù biết rằng công việc ấy không hớp lý và vô đạo đức. Kỳ Hoa Tử thấy những hành vi như vậy và tình cảm thay đổi theo. Thế là cuộc tình bị tan vỡ. hai người xa nhau với tất cả nỗi đớn đau. Những tâm tình lãng mạn thơ mộng đã được thay thế bằng những tình cảm hận thù. Và, kết cuộc là tang tóc, đổ vỡ, chia ly…

Viết Kỳ Hoa Tử, ông cũng dùng những sự thực trải qua trong đời để tạo cho câu chuyện kể có sự sinh động và hợp lý. Tuy có lúc mang suy nghĩ chủ quan của mình vào trong sự kiện làm cho truyện chậm lại nhưng lại chuyên chở được những trao gửi kèm theo. Kỳ Hoa Tử là một cô gái Nhật và yêu một chàng trai người Việt trên đất Trung Hoa. Cô theo người yêu về nước và tham gia kháng chiến chống Pháp. Nhưng, định mệnh xui khiến, lúc đó Cộng Sản đang xúc tiến kế hoạch cách mạng vô sản bằng đấu tranh giai cấp và bằng mọi giá phải dẹp tan tất cả những người có thể là chướng ngại vật cho kế hoạch ấy. Một người cần phải dẹp bỏ là Hồ Tùng Mậu mà đảng coi là chướng ngại nguy hiểm nhất. Cộng đảng bèn ngụy tạo ra tội phản động và gán cho Hồ Tùng Mậu. Chàng trai Việt bị bắt buộc đứng ra tố cáo trước tòa án. Vì là một đảng viên trung tín nên phải tuân lệnh. Vì thế, cuộc tình trai Việt gái Nhật tan vỡ với bao nhiêu tang tóc thảm kịch.

Nguyễn Mạnh Côn là người có sở học rộng nên ông hay tìm kiếm những đề tài gây bất ngờ cho độc giả. Ông viết huyền truyện phối hợp vời truyện giả tưởng để đào sâu vào cõi tâm linh con người.

“Truyện Ba Người Lính Nhảy Dù Lâm Nạn” là một truyện khoa học giả tưởng mà tác giả đặt trên căn bản của thuyết tương đối của Einstein về kích thước thứ tư của không gian. Ông giải thích theo lập luận của ông: “cái nhầm của cổ nhân coi vạn vật chỉ có bề dài, bề rộng, bề sâu, tức là chỉ có ba kích thước mà không biết rằng sở dĩ người ta chỉ trông thấy ba kích thước ấy là nhờ có ánh sáng. Tùy sức ánh sáng đi nhanh hay chậm, tùy con đường từ ta đến cảnh vật xa hay gần mà ta tức khắc trông thấy vạn vật hay chỉ trông thấy dần dần… Cảnh vật chung quanh ta tưởng rằng nhất định như thế mà thật ra có thể đổi khác (thấy không khác vì vận tốc ánh sáng ở cõi ta là một hằng số không đổi). Einstein đã biết rằng khi một vật di động càng nhanh càng tới gần tốc độ của ánh sáng thì thời gian và không gian hỗ tương ảnh hưởng vào nhau sẽ uốn cong lại chung quanh cái vật di động kia. Sự uốn cong này chính là cái kích thước thứ tư…”

Nhân vật trong truyện là bác sĩ Mai, nữ trợ tá Kiên Trinh và hạ sĩ Khang thuộc binh chủng nhảy dù trong một phi vụ ở gần biên giới Trung Hoa thì máy bay bị bắn hạ và đâm nhào xuống đất. Trong giây phút ấy họ bị bất tỉnh và tình cờ lọt vào một vùng không gian năng lực phi thường với vận tốc cao gần với tốc độ của ánh sáng. Và như vậy họ lọt vào vũ trụ có kích thước thứ tư. Ở nơi chốn này họ gặp Lưu Thần và Nguyễn Triệu của truyện tích từ ngàn năm xưa cũng vì một cơn bão có tốc độ khủng khiếp thổi tới và cùng lạc vào vũ trụ có không gian bốn chiều như ba người lính nhảy dù này. Và chốn này có thể gọi là Thiên Thai, với thời gian đứng im bất động và cảnh sắc thì có nét của miên viễn nên rất tuyệt vời. Ở đây có những bộ máy kỳ diệu có thể điều chỉnh tốc độ ánh sáng để đưa con người vào quá khứ hay tương lai.

Bác sĩ Mai và nữ trợ tá Kiên Trinh muốn ở lại Thiên Thai trong khi hạ sĩ Khang thì muốn trở về qúa khứ. Anh trở lại thế kỷ thứ 18 ở thành Thăng Long và tình cờ cứu sống Vua Quang Trung. Sau Khang giúp Vua Quang Trung đánh quân Tàu đòi lại Lưỡng Quảng hai tỉnh. Với kiến thức của thế kỷ 20 đối đầu với quân tàu ở thế kỷ 18 nên Khang đã giúp vua Quang Trung chiến thắng. Nhưng quân dân Tàu áp dụng tiêu thổ kháng chiến cũng như du kích chiến nên chiến thắng không toàn vẹn và Khang thấy rằng tham vọng đất đai là mù quáng.

Khi tỉnh dậy, thì Khang mới biết rằng chỉ trong giây phút ở vũ trụ của không gian bốn chiều nhưng là mấy đời sống ở trần thế… Kiên Trinh cũng có lúc tìm về dương trần nhưng vô cùng đau khổ khi biết người chồng là hạ sĩ Khang đã lấy công chúa Ngọc Chân em công chúa Ngọc Hân. Bác sĩ Mai thì nhớ quê hương, tưởng vọng về những nơi chốn của Hà Nội đất Bắc xưa. Cả ba người lính nhảy dù này sống lạc lõng bên lề cuộc sống.

Trong truyện, Nguyễn Mạnh Côn đã dùng rất nhiều kiến thức về khoa học, về toán học, về lịch sử, về triết lý. Chính vì vậy, thành ra tác phẩm đâm ra nặng nề, nửa biên khảo nửa tiểu thuyết. Vì chứa đựng qúa nhiều chi tiết, dù rằng đã cố gắng dung hòa giữa khoa học và văn chương, nhưng bố cục truyện hơi nặng nề và diễn biến câu chuyện cũng ít có chất tự nhiên.

Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn còn có tham vọng lập thuyết, dùng văn chương để chuyên chở ý tưởng. Ông nghĩ về thuyết Tân Trung dung, viết “Mối Tình Mầu Hoa Đào” và “Hòa Bình… Nghĩ gì? Làm gì?”

“Mối Tình Mầu Hoa Đào” là truyện chàng thanh niên đi tìm lý tưởng say mê như tìm một người yêu quàng khăn mầu hoa đào. Chàng đi tìm mầu hoa đào trong mọi người và mọi cảnh. Thất vọng ngoài kháng chiến chàng về vùng quốc gia, để rời khỏi đơn vị của người Pháp. Công việc tìm kiếm vẫn tiếp tục. Chàng vào Nam, gặp người bạn trẻ, bàn luận chuyện lên đường. Những câu đối thoại, như một chia sẻ giữa hai thế hệ để gợi ý về những hành trang mang theo khi khởi sự đi vào con đường suy tưởng.

Mối tình mầu hoa đào tưởng chỉ giản đơn trong biên giới của địa lý hay những phạm vi thực tế gợi ra từ đời thường. Nhưng Chàng muốn đi xa ra khỏi những khuôn khổ chưa bao la ấy thành ra thất vọng và cô đơn đã dần dần chiếm lĩnh tâm hồn. Ngôn ngữ, có khi để biểu tỏ ý tưởng nhưng sự diễn dịch sai nên lời nói nhiều khi bị hiểu chệch hướng và không giúp gì cho cuộc đối thoại để tìm chân lý. Có lúc Chàng nói chuyện với tiếng vọng, không biết xuất xứ từ đâu để quên đi những rối loạn và cô đơn khi đối thoại với con người. Nguyễn Mạnh Côn lập thuyết như Hồ Hữu Tường lập thuyết, có phải tận dụng những kiến thức khoa học và toán học để mong lý giải một cách có hệ thống những quy luật của cuộc sống hầu có thể áp dụng để tạo một đường hướng chủ đạo cho cuộc sống. Xem ra, cũng chỉ là một cố công…

Viết “Hòa Bình… Nghĩ Gì? Làm gì?” để phổ biến lý thuyết Tân Trung Dung cũng là một cố công khác với những tượng hình lý thuyết có vẻ nhiều chất lãng mạn mà ít chất thực tế. Đem một lý thuyết để áp dụng vào thực tế Việt Nam khi chiến tranh vẫn còn ác liệt và hòa bình chỉ là những hình tượng giả tạo, là một sửa soạn cho một cuộc chiến cuối cùng khốc liệt. Và ông cũng chưa làm cho độc giả hiểu rõ rệt và mạch lạc lý thuyết Tân Trung Dung như thế nào dù ông đã viết trong đoạn cuối của “Hòa Bình… Nghĩ gì? Làm gì?”: “Như vậy, bạn đọc dù không đọc được cả phần lý thuyết thì ít ra cũng kiểm chứng được qua những căn bản về Trời, Đất, về Cha, Mẹ, về đào tạo lương thực, về cách kết hợp lứa đôi và nuôi dạy con cái, về sự xây dựng sự nghiệp bằng cách trau dồi kiến thức không ngưng nghỉ về nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật, về suy tư triết học và xây dựng tương lai…”

Nguyễn Mạnh Côn (1920-1979) mất ngày 1 tháng 6 năm 1979. Cộng sản đã hạ đòn thù và hành hạ ông cho tới lúc chết. Nhà văn Nguyễn Triệu Nam đã kể lại về cái chết của ông:

“Trước hết nhà văn của chúng ta đã không đáp ứng đúng yêu cầu của Cách mạng(?) Anh chỉ ôn lược những việc đã làm. Kể lại nội dung từng sáng tác. Chớ không tự lên án mọi hoạt động nói chung của mình. Có nghĩa là anh không nhận tội. Một tên quản giáo nó hỏi anh: “Mày viết phản động đến như vậy mà còn cho là không có tội ư? Vậy mày có biết rằng Cách Mạng chỉ giam giữ mày một thời gian nào đó thôi rồi tha cho mày về hay không? Chứ giữ mày ở lại làm cái gì cho tốn cơm tốn gạo “Vậy các ông muốn tôi phải làm cái gì đây?”- Sẽ có người hướng dẫn cho mày. Y nói xong là bỏ đi. Hôm sau có một tên làm dịch vụ đả thông. Nom lạ hoắc. Không biết gã ta làm nghề ngỗng gì ở ngoài đời. Gã cầm trên tay một bịch ni lông trong suốt. Cố ý giơ lên cho đối tượng nhìn thấy bên trong có những gói mỏng nhỏ. Thì ra là thuốc phiện quết, cô lại như thế thuốc cao. Chỉ nuốt chửng, xài đỡ khi thiếu bàn đèn. Gã lải nhải bên tai nhà văn một chập lâu. Đại ý thuyết phục như vầy: “Anh nên thành khẩn viết một bài kiểm điểm nhận mình có tội. Giờ ăn năn hối hận, hứa với Đảng sẽ đổi mới tư tưởng, sẽ chuyển hướng sáng tác. Nếu anh chịu tuân hành nghiêm chỉnh pháp lệnh của nhà nước thì chác chắn anh được trả tự do đúng thời hạn. Thuốc đây hãy xài tạm hầu phục hồi sự minh mẫn cho trí óc. Đừng khí khái hão mà chuốc họa vào thân làm khổ cho vợ con. Ngộ biến tòng quyền là cách xử lý khôn ngoan của người biết tùy thời lựa thế mà sống, anh ơi! Gầy còm tong teo như anh chịu đòn sao thấu… Nguyễn Mạnh Côn đã thẳng thắn trả lời: “Ông cứ việc báo cáo lại với chúng nó về tất cả những gì tôi nói. Tôi không tôn thờ cái chủ nghĩa Cộng sản mà tôi đã dí xuống chân ấy được. Tôi không bẻ cong ngòi bút, tôi không làm văn nô được. Đừng hòng dùng á phiện mà lung lạc tôi.” Việc gì phải đến đã đến. Nhà văn của chúng ta đã tự sát.

Bằng cách nào, không nghe rõ chi tiết. Chỉ biết, trước ngày anh quyên sinh, anh gặp Trưởng Trại mà hỏi y: “Cách Mạng công bố là chỉ giam tôi có thời hạn. Sao đã qúa hạn mà không thả?” tên cai ngục cười gằn và bảo: “Nói dễ nghe nhỉ? Mày ngoan cố quá, cứng đầu quá mà. Mày đã nhận tội đâu mà đòi nhà nước tha cho mày”.

Kẻ thù chưa kịp hạ thủ thì anh đã chết rồi. Anh đã chết vinh và bảo toàn được tiết tháo và danh dự của kẻ sĩ. Là một kẻ sĩ uy vũ bất năng khuất anh đã không “lạc đường vào lịch sử” như một nhân vật của một truyện anh viết. Trái lại anh đã đi thẳng vào lịch sử với tư cách của một chiến sĩ tiền phong chống Cộng trên mặt trận văn hóa.”


Nguyễn Mạnh Trinh.

 

 

Tố Hữu Dưới Mắt Hoàng Cầm - Thụy Khuê


Tố Hữu dưới mắt Hoàng Cầm


 

Hoàng Cầm kể trong băng ghi âm

Trong hai năm 1962 và 1963 tôi làm việc tại nhà máy gỗ, hướng dẫn công nhân về văn nghệ, tức là làm phim đèn chiếu: chiếu phim rồi đọc thuyết minh, mỗi tháng lĩnh thêm độ 25 đồng, bằng 2/3 lương công nhân bình thường, gia đình đỡ khổ hơn.

Đến năm 1965, khi Mỹ ném bom Vịnh Hạ Long, chúng tôi nhận được thư của Đảng Đoàn Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật mời lên để chuẩn bị công tác mới, có: Trần Dần, Lê Đạt, Thanh Châu, Trần Duy, Tử Phác, Phùng Quán ... Hai người tiếp chúng tôi là Phùng Thị và Bảo Định Giang, ủy viên Đảng Đoàn. Anh Phùng Thị là nhân vật chính, nói:

"Vì Mỹ đổ bộ miền Nam và ném bom miền Bắc, chúng ta sẽ có một cuộc kháng chiến gian khổ và quyết liệt kéo dài không biết đến bao giờ, cho nên phải huy động lực lượng toàn quốc để chiến đấu. Chúng tôi theo chỉ thị của Bộ Chính Trị, cụ thể là ông Lê Đức Thọ và thủ tướng Phạm Văn Đồng, anh Lê Đức Thọ nói thế này: "Bây giờ Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật phải chú ý đến anh em NVGP, trước đã bị kỷ luật, bây giờ phải đưa họ trở lại để phục vụ Đảng và nhân dân, vì trong cuộc chiến chống Mỹ chúng ta cần lực lượng toàn dân thì mới có thể thắng và thống nhất đất nước được".

Sau 7 năm kỷ luật, chúng tôi rất mừng. Năm ấy, tôi mới 43, Trần Dần 39, Lê Đạt 36, còn nhiều tiềm năng lắm. Anh Phùng Thị cho biết anh Tố Hữu hiện nay đang đi chữa bệnh ở Đức, chưa biết bao giờ về. Như thế là chúng tôi biết: Vắng ông Tố Hữu; ông Lê Đức Thọ, trưởng ban Tổ Chức Trung Ương và cả thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đồng ý ra chỉ thị phục hồi, đưa chúng tôi trở lại làm việc.

Trong 3, 4 ngày, anh Phùng Thị nói về tình hình đất nước, về chủ trương chống Mỹ và nhiệm vụ của người công dân, văn nghệ sĩ. Sau đó, anh mới nói đến việc phân công:

Anh Phùng Quán không còn ở trong biên chế, vì đã ra khỏi quân đội, chúng tôi đưa trở lại biên chế, sang làm việc ở Sở Văn Hoá trong cụm Văn Hoá Quần Chúng, đi sưu tập văn hoá dân gian; anh Hoàng Cầm về Sở Văn Hoá Hà Nội làm việc với anh Nguyễn Bắc.
Anh Trần Dần xuống vùng mỏ 6 tháng, nhưng không phải đi lao động, xuống để nghiên cứu đời sống công nhân và sáng tác, thời gian này anh có viết được một truyện rất hay.
Anh Lê Đạt lên Phú Thọ để làm công tác kinh tế miền núi. Còn hai anh Tử Phác và Đặng Đình Hưng thì để bên hội âm nhạc sắp xếp, anh Trần Duy do Hội Mỹ thuật lo ... Cuối tháng 8/1965 tôi đến Phòng Sáng Tác Sở Văn Hoá, lúc ấy gọi là Nhà Sáng Tác, có khá đông anh em quen biết, anh Nguyễn Bắc giao cho tôi diễn ca các nghị quyết, chính sách, của thành phố, thành văn vần cho nhân dân dễ đọc, dễ nhớ. Họ có in ra thành tập sách mỏng.

Tháng 11/1965 xẩy ra việc Nguyễn Văn Trỗi bị xử tử. Tôi được gợi ý viết bài trường ca hoặc kịch ngắn để ca ngợi. Lúc bấy giờ tin tức ở từ Nam ra Bắc rất lủng củng, lúc đầu người ta bảo là Nguyễn Văn Trôi, sau chữa thành Trỗi. Một cái tên còn sai như thế, thì các sự việc còn sai lạc đến thế nào, nhưng tôi chỉ biết là người ấy có hành động can trường, làm tôi xúc động.
Đầu năm 1966, tôi làm bài thơ dài "Tiếng gọi của người anh hùng", trong đó không nói đến tên Nguyễn Văn Trỗi và thành tích gì cả. Lúc ấy có một anh tên là Đức, cục phó Cục Văn Hoá Quần Chúng đến yêu đến cầu tôi đọc thơ, mỗi lần anh ấy nói chuyện ở các hội nghị, các đại học, về đề tài Nguyễn Văn Trỗi, để làm gương cho thanh niên.

Anh Đức đề nghị mỗi khi anh diễn thuyết, sẽ nghỉ hai lần, và mỗi lần tôi ngâm thơ, lần đầu tôi ngâm bài thơ của ông Tố Hữu, lần sau ngâm bài thơ nào, tùy ý tôi chọn. Dĩ nhiên là họ không giới thiệu tên tôi, mà chỉ coi như một cán bộ Sở Văn Hoá. Tôi đồng ý. Lúc đó, chúng tôi vẫn chưa được lộ tên thật, anh Phùng Thị bảo phải dần dần độ một năm rồi mới tính.
Tôi ngâm bài thơ Tố Hữu với tất cả tinh thần thì được vỗ tay rất ghê. Đến lần thứ nhì tôi đọc bài thơ của tôi, đọc chứ không ngâm trong 10 phút, tôi thấy cử tọa khoảng 300 người toàn trí thức, kỹ sư, đều im phăng phắc nghe đến hết, không vỗ tay. Lúc sau mới có một phụ nữ lên tiếng: Tại sao một bài thơ như thế này mà không thấy đăng đâu cả.

Tôi phải giải thích vì Sở Văn Hoá chúng tôi sưu tầm trong quần chúng thôi, nên chỉ giữ làm tài liệu chứ không đăng ở đâu. Sau đó hai ba người yêu cầu tôi đọc lại cho họ chép. Đấy là buổi đầu tiên. Anh Đức dự tính sẽ có khoảng 20, 25 buổi khác ở các đại học và nhiều cơ sở khác nhau. Anh hẹn tối hôm sau sẽ đến đón tôi khoảng 7g30. Nhưng anh mất hút luôn. Cuối cùng, không bao giờ gặp lại anh nữa.

Sau này, tôi có trao đổi với Trần Dần, Lê Đạt; thì Trần Dần nói ngay: "Cái bài thơ của mày thì đâu có gì, nhưng tất nhiên là phải báo đến tai Tố Hữu. Nếu mày chỉ ngâm thơ Tố Hữu không thôi thì mày còn đi kiếm ăn được[56]. Mày đưa cái bài thơ của mày ra là mày chết. Không đời nào Tố Hữu dung túng bài thơ của mày bên cạnh bài của nó".

Trở lại việc Phùng Thị, sau khi ông đã xếp đặt công việc cho mọi người được hơn một tháng, tôi lên gặp ông ở 21 Trần Hưng Đạo để khiếu nại về chuyện lương bổng; bởi vì tôi đã đi làm rồi mà hiện vẫn chỉ được lĩnh lương tối thiểu. Ông trả lời: "Việc chúng tôi định phục hồi cho các anh là do ý của anh Lê Đức Thọ, được anh Phạm Văn Đồng đồng ý, lúc ấy anh Tố Hữu đi dưỡng bệnh ở Đức.
Tôi trực tiếp làm việc với anh Thọ, anh Đồng. Tôi bố trí cho các anh làm việc ở đâu thì cứ ở đó. Nhưng bây giờ sự việc khác đi rồi, những điều tôi hứa với các anh: nếu in ấn gì trong vòng 6 tháng, thì chưa được để tên mình, nhưng dần dần rồi sẽ được ký tên thật, sẽ được phục hồi toàn vẹn, không làm được nữa, vì anh Tố Hữu mới về.

Cách đây mấy hôm anh ấy có gọi tôi lên, cũng không gắt gỏng gì cả, chỉ hỏi: "Cái chủ trương phục hồi cho NVGP là chỉ thị của ai? Tôi nói: "Báo cáo với anh là tôi làm theo chỉ thị của anh Lê Đức Thọ và thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đồng ý, vì đất nước bước vào giai đoạn chống Mỹ cứu nước nên cần đến tất cả mọi người. Anh ấy bảo: "Anh làm thế cũng tốt thôi, nhưng anh là người phụ trách trực tiếp thì phải bảo đảm được là các anh NVGP đã có tiến bộ về tư tưởng. Anh lấy cái chi để bảo đảm điều đó?"
Tôi nói: "Thưa anh, tôi chỉ biết là từ 6, 7 năm nay họ đã đi học tập, ở các nơi đều nói họ lao động tốt, không chống đối gì nữa, tôi cho là họ có tiến bộ". Anh Tố Hữu nói: "Cái đó cũng được thôi. Nhưng mà có thể bề ngoài họ làm ra vẻ ngoan ngoãn phục tòng, mà bên trong họ vẫn âm mưu chống lại mình. Nếu họ giả dối, đợi được phục hồi, được giao cho chức vụ này, chức vụ kia, mới quay lại chống phá cách mạng thì anh lấy chi bảo đảm tư tưởng của họ?" Nghe anh Tố Hữu nói thế thì tôi chịu, làm sao tôi dám bảo đảm tư tưởng các anh được? Kể ra thì anh ấy nói cũng có phần đúng, có thể người ta ngoan ngoãn phục tòng mấy chục năm trời để sau này họ phản lại, thì tôi cũng chịu. Tôi bất lực rồi, tôi không làm gì được nữa".

Một tuần sau, tôi xuống 51 Trần Hưng Đạo, chả thấy Phùng Thị đâu. Từ đấy mất hẳn ông Phùng Thị. Có người phao tin: Phùng Thị sở dĩ muốn phục hồi cho Nhân Văn vì ông là chú Phùng Quán. Chỉ biết Phùng Thị mất tăm sau khi ông Tố Hữu ở Đức về. Bị ông căn vặn như vậy thì coi như mất tích, ông tống đi đâu chả biết, cho về hưu hoặc đổi đi xa, sống chết thế nào không biết. Khi Phùng Quán mất, cũng không thấy Phùng Thị đi đưa đám. Ông là chú ruột Phùng Quán.

Ông Nguyễn Đình Thi cho lệnh cắt lương tôi lần thứ nhì. Lần thứ nhất, sau vụ Thái Hà, năm 1958, lương tôi đang 146 ngàn, lúc đó chưa đổi, còn tiền cụ Hồ, ông ký giấy hạ xuống 92 ngàn, mình cũng hiểu. Lần này, 1965, Phùng Thị chuẩn bị cho chúng tôi phục hồi nhưng thất bại, ông Thi lại ký giấy giảm lương tôi từ 92 đồng xuống 60 đồng. Lê Đạt và Trần Dần bị ông cắt hết, không có lương, mỗi người chỉ được trợ cấp mỗi tháng 50 đồng.

Ngay sau 1975, Lê Đạt bàn với tôi: "Tao và thằng Trần Dần mà xin thì khó, nhưng mày có tiếng, lãnh đạo nể, nhân dịp này, mày viết thư cho Trần Độ -lúc bấy giờ là Bí Thư Đảng Đoàn Bộ Văn Hoá, ngang chức thứ trưởng- nhân dịp thắng trận, xin nhà nước phục hồi để xây dựng đất nước." Nghe lời Lê Đạt, tôi viết thư cho Trần Độ nói đại ý như thế.

Anh Trần Độ cử ngay hai người thư ký riêng là anh Huỳnh Ngọc Lý và anh Thanh đến thăm gia đình tôi và cho biết là anh Trần Độ đã nhận được thư của tôi, nhưng hiện giờ anh ấy bận quá vì mới giải phóng, nhưng anh cứ yên tâm, anh Trần Độ rất chú ý đến chuyện này và khi nào phục hồi được cho các anh thì anh ấy sẽ làm ngay.

Thế là chúng tôi chờ, chờ từ 75 đến 82, tôi bị bắt. Trần Độ ân cần như thế mà sao không làm được, thì phải có cái gì nó ngăn trở. Tôi mới nghĩ ra là ông Trần Độ tuy chức cao về văn hoá, nhưng người lãnh đạo tối cao về văn hoá vẫn là Tố Hữu. Ông Tố Hữu lúc bấy giờ là người có vị trí gần như cao nhất trong Đảng, là uỷ viên Bộ Chính Trị, rồi Phó Thủ Tướng. Nhiều nguồn dư luận khác nhau ở trong và ngoài Đảng đều cho rằng ông Tố Hữu sẽ lên làm Tổng Bí Thư thay ông Lê Duẩn nếu ông Lê Duẩn qua đời.

Nhưng ông Tố Hữu không muốn bọn NVGP mọc mũi xủi tăm lên được, ông chỉ muốn tiêu diệt địa vị xã hội của anh và tác phẩm của anh sẽ bị chôn vào quên lãng. Thậm chí chúng tôi nghĩ, những bài thơ hay những gì của NVGP đã bị tịch thu, họ đốt hết đi rồi. Đốt hết để không còn dấu vết gì.

Thụy Khuê

304Đen - Llttm

Thị Trấn X - Nguyễn Đạt


THỊ TRẤN X
 
 

Một thuở, anh nhớ lại, như danh nhân nọ, anh đi dong dạo đơn độc. Danh nhân nọ đi dong dạo đơn độc tám năm trong điền trang một vùng quê, thấp thoáng bóng dáng một mệnh phụ. Anh bây giờ vẫn đi dong dạo đơn độc, liệu anh có chờ đợi một bóng dáng nữ nhân được hứa hẹn?
Cô gái chỉ là một tên gọi, Liên, chủ nhân đích thực của ngôi nhà, ông H. bảo vậy, anh đang ở trọ nhưng không phải trả tiền.
Anh đã viết trong thư gửi ông H., người bảo trợ anh, ở thành phố:
“…Có lẽ tôi thất bại rồi, ở đây tôi đói lả tiếng động. Tại sao lại vắng lặng đến như vậy? Bằn bặt. Thảng hoặc tiếng chim đơn lẻ trong vườn có cất lên cũng lập tức lọt thỏm vào trống không. Vậy mà ông bảo tôi cứ thanh thản ở đây. Ông bảo tôi sẽ gặp cô em họ của ông, Liên, mà ông luôn gọi là người phụ nữ định mệnh. Tôi đã chờ đợi. Tới bây giờ, lúc tôi đang viết những dòng gửi ông đây, tôi chỉ chờ đợi một điều duy nhất, tiếng động. Tôi chỉ cần thiết nghe tiếng động, như cây cỏ cần thiết những giọt sương. Tôi chỉ cần thiết có vậy để sống.”
*
Anh ngụ trong một căn phòng của ngôi nhà có ba căn phòng. Ngôi nhà mái ngói âm dương thấp xoải, cũ kỹ, hiu quạnh như nơi chốn của nó, một thị trấn của một huyện lỵ heo hút mù bụi, một thị trấn hình như không có tên. Anh chợt nhớ tới một nơi chốn, thị trấn miền đông của nhà văn nọ. Anh ngụ tại đây, ông H. bảo, để thay mặt ông gần gũi bà cụ, mẹ ông. Bà cụ sống trong ngôi nhà cách xa ngôi nhà này chừng nửa cây số, có gia nhân chăm sóc.
Tất nhiên ông H. có thư phúc đáp:
“…Chú không ở đây thì cũng chẳng có nơi nào khác thích hợp hơn với chú nữa…”
Anh thầm hỏi, tại sao ông H. không nói thẳng ra rằng, anh đã cùng đường, chẳng còn chỗ dung thân? Ông H. lại trưng ra sự tệ hại của tiếng động, tiếng ồn ở thành phố là hoàn toàn xấu đối với sức khỏe:
“…Còn như chú phải canh giữ vườn trái ruộng nương sợ chim choc phá hoại, tôi sẵn sàng mua về máy phát tiếng thu thanh heo bò rống ở lò sát sinh, để xua đuổi chúng. Hay tôi biểu ở dưới ấy dẫn điện vô nhà, mua máy cát-xết để chú nghe nhạc…”
Anh nghĩ ông H. có thể tiếp tục: nếu không có hoa để ngắm, ông sẽ gửi về đây đủ loại hoa giấy, hoa vải, hoa ni-lông…
Anh được sắp xếp chỗ ở trong căn phòng chính giữa của ngôi nhà. Căn phòng phía trái là nơi ở của Liên. Cô gái không thể xa rời thêm một gang tấc nào, ngôi mộ người cha ở phía trái đó. Phía bên phải, người em họ khác, vai em của Liên, ông H. bảo, cũng bất chợt về trú ngụ như Liên. Anh ta chỉ ở căn phòng phía bên phải ấy, không thể xa rời một phân ly nào cây đại hồ cầm của người quá cố thân yêu nhứt với anh ta, để lại ở chỗ này.
Anh chưa hề thấy ngôi nhà tương tự nào bố trí ngăn chia đều đặn, riêng biệt rạch ròi như ngôi nhà này. Những vách ngăn bằng gỗ xưa cũ đã bóng ngời, hẳn được thiết lập như vậy từ bấy lâu rồi. Giống phòng trọ trong nhà nghỉ sang trọng, anh có thể gọi ngôi nhà này là khách sạn của một vùng quê vắng lặng, bặt thinh.
Anh ngồi trong căn phòng được sắp xếp dành cho mình, hồi nhớ người thầy dạy tiếng Pháp, ông T., hơn anh vài tuổi. Khách sạn X ở thành phố, ông cư ngụ sau khi rời trường đại học nổi tiếng của Pháp quốc, trở về quê hương. Ông dạy môn tiếng Pháp tại một trường trung học nổi tiếng bậc nhất của thành phố, chỉ chọn một người học trò, và một tác phẩm của một tác giả ngoài chương trình. Anh biết ông T. là kẻ bị ám. Nhân vật của tác phẩm ấy, Roquentin, người học trò ấy, có ý nghĩa đối với ông.
– Hình như cậu có làm thơ?
Ông nhìn và biết anh có làm thơ. Theo đề nghị của ông, anh viết hai dòng thơ trong bài thơ đầu đời của anh, trên trang giấy để trống của tác phẩm ấy, quyển sách không rời ông:
Hai bàn tay mười ngón hao gầy
Nghe nỗi đau rừng ứa nhựa cây

Ông nói, rất nhiều đêm, ông nằm ngó mãi mảng trần hoen ố, căn phòng câm nín, cũng may còn nghe tiếng kêu vo ve của mấy con muỗi bay loanh quanh bốn bề vách ngăn.
Anh nhớ lại hành lang tối bẩn chật hẹp trước cửa căn phòng khách sạn, bốc lên mùi tanh nồng, mùi ẩm mốc. Ông nằm cứng đờ, xám ngoét bên lọ thuốc còn sót vài viên, ngay dưới chân giường.
Con chó anh dẫn theo, cùng về đây với anh được mấy ngày, tự dưng bỏ đi đâu mất biệt.
Anh không ngủ được, nhìn lên, nhìn lên mãi, mái ngói âm dương, những vì kèo cũ đen, anh biết chúng vẫn dàn trước mắt, trong bóng tối ngôi nhà.
*
Anh chợt nghe tiếng động, tiếng rên nhỏ như sợi dây kim loại đang rung. Anh vùng trở dậy, ngó quanh khắp căn phòng. Không, không phải con chó trở về, rên nhỏ bên giường như đêm kia.
Anh nhớ lại, thư ông H. vẫn nhắn nhủ, Liên, Liên, người phụ nữ định mệnh ấy… Số phận sẽ dành ân sủng cho cô gái… Liên, cuối cùng sẽ gặp chú, dưới đáy vực cô đơn, chú đã từng thấy vậy, cũng như Liên…
Tiếng phừng phựt đột ngột. Ai đấy vừa kéo mạnh phím đại hồ cầm, ngay trong căn phòng phía bên phải của ngôi nhà. Tiếng rên bất chợt, ngắn ngủi, lụi tắt, lại nổi lên từng hồi, như từ một âm vực sâu kín nổi lên từng hồi, rung trong không gian trống vắng.
Bỗng chốc tiếng thở hổn hển, tiếng thở muốn bứt hơi, của kẻ bị rượt đuổi. Tiếng phừng phựt liên tiếp, tiếng nói:
“Thôi Tân… Thôi… Đừng… Đừng mà Tân…”
Tiếng nói khác:
“Ôi Liên. Liên. Tân yêu Liên chết được…”
Lúc ấy mười một giờ rưỡi khuya. Anh rời ngôi nhà, đi trên con lộ. Một chiếc xe tải lao nhanh, phút chốc mất dạng sau đám bụi đỏ bốc lên, thấy rõ dưới ánh sáng ngọn đèn gắn trên cây cột bê-tông thẳng đứng, chơ vơ bên con lộ.
Không, không, anh tự nhủ, nơi chốn này không có thật, thị trấn này không có thật, như nó chưa từng có tên. Hay đây chính là thị trấn miền đông của nhà văn nọ, một nơi chốn anh chưa bao giờ tới?

 
Nguyễn Đạt
304Đen – Llttm