Thursday, July 28, 2016

Còn Chi Đâu Nữa Mà Chờ - vkp Phượng tím


CÒN CHI ĐÂU NỮA MÀ CHỜ 

 
 
 
 
 
 
 
           
Cây đa tróc gốc lâu rồi
Người ơi sao nỡ xa rời lầu thơ (1)

 
Cây đa già lá xác xơ
Xứ người mong ngóng đợi chờ hương xưa
Nghe lòng mặn đắng chát chua
Nhớ thương người cũ tình chưa vẹn thề

*
Bến vắng hoa tàn ủ ê
Nhưng luôn vun quén đam mê ảo tình
Cây đâm chồi mọc lá xanh
Lầu thơ đôi bóng... bức tranh tuyệt vời

*
Phượng tím nở rộ đón mời
Thuyền xưa quay lại đậm lời yêu thương
Một lần gặp lại còn vương
Mặn nồng ân ái,,, đoạn trường cách chia

*
Phong ba bão táp ngoài kia
Khiến cây tróc gốc xa lìa lầu thơ
Còn chi đâu nữa mà chờ!!!

Saigon 20/7/2016

Vkp phượng tím
1.Ca dao cải biên

 

Thú Đọc Báo Buổi Chiều Ở Sài Gòn - Lê Văn Nghĩa


Thú đọc báo buổi chiều

 


Trong quá trình tìm hiểu tôi có đọc được đoạn sau đây từ Báo Phổ thông số ra ngày 1.8.1961: “Tối nay cơm xong, thầy nằm ghế xích đu đọc báo...”. Và trong Báo Bách khoa số ra ngày 1.3.1962 trong tác phẩm Thư nhà, nhà văn Võ Phiến viết: “Mới ba bốn giờ chiều đã có tiếng rao báo sớm chạy trên các đại lộ, trung tâm đô thành. Rồi thì tiếng rao ấy lan dần mau chóng ra tới các khu phố. Vậy là cho đến 8, 9 giờ tối người bán báo len lỏi vào các xóm lao động ngoại ô la lớn bất ngờ, tiếng nghe ấy vẫn cứ hấp dẫn cho tới khuya, khi ta đang ngồi trước một tô mì, tô phở trong tiệm, người bán báo loáng thoáng rảo qua một vòng khắp các bàn ăn chìa ra xấp báo, ta vẫn thấy tò mò kích thích, tưởng còn có hy vọng tìm thấy trong ấy một tin tức gì mới khác thêm nữa...”.

Còn nhà thơ Thái Ngọc San đã viết trong Tạp chí Ý thức ra tháng 4.1971:

“Cái khung cảnh gây cho tôi nhiều hứng khởi nhất những ngày ở Sài Gòn, là vào những buổi chiều khi xuống bến xe lam nhằm vào lúc những tờ báo mới ra đời. Đấy là hình ảnh những anh công nhân kê vai vác từng kiện báo lớn, những người đàn bà, những chị thanh nữ thoăn thoắt xếp gấp vội vàng bên vỉa hè, những đứa bé lăng xăng chạy lui chạy tới gọi báo mới, báo mới. Chen lẫn trong rừng ngựa xe người ngợm mắc cửi, nếp sinh hoạt nầy mỗi chiều được nhóm lên một lần, hoạt náo như một khu chợ”.

Một mẩu quảng cáo cho tờ nhật báo sắp ra còn làm rõ hơn: “Bạn đọc chú ý. Muốn biết thời sự nóng hôi hổi hãy mua Báo Sóng Thần. Nhật báo Sóng Thần sẽ có mặt trên các sạp báo lúc 3 giờ chiều ngày...”.

Tôi tự đặt câu hỏi và cũng tự trả lời: trừ các tạp chí và tuần báo, tại sao các nhựt trình, hay nhựt (nhật) báo trước kia lại ra buổi chiều. Đơn giản vì người đọc biết ngay tất cả tin tức, sự kiện nóng xảy ra trong ngày. Thí dụ, sáng ngày 1 có tin giá xăng lên thì người dân đã biết ngay chứ không phải đợi đến sáng ngày 2 mới được biết. (Chỉ trừ những sự kiện như hỏa hoạn, đụng xe xảy ra đột xuất vào buổi chiều thì các báo đều bó tay). Thoạt đầu nhiều báo ra lúc 17 giờ, sau đó vì cạnh tranh có báo ra lúc 16 giờ rồi 15 giờ. Thậm chí có tờ nhựt trình mới ra đời thường cạnh tranh ra sớm hơn nữa, khoảng 12 đến 13 giờ đã có báo để lấy độc giả (vì số lượng in không nhiều).

 Để có tờ báo ra buổi chiều thì giờ lên khuôn của các tờ báo lúc ấy thường vào buổi sáng. Đi ngược dòng thời gian, vào khoảng năm 1934, theo bài viết của Tế Xuyên thì tờ Ngọ Báo lên khuôn vào buổi trưa. “Một hôm vào buổi trưa, Ngọ Báo sắp lên khuôn thì có người cho tin sốt dẻo...”. Ông Châu Lang, chủ bút Báo Sài Gòn Mai trả lời Báo Văn Đàn (Sài Gòn): “Chúng tôi làm việc từ 5 giờ sáng và 9 giờ báo đã lên khuôn chờ cho máy chạy. Công việc tòa soạn xong khoảng 8 giờ, chúng tôi tản mát đi mỗi người một ngả rồi chừng 10 giờ mới trở lại làm việc tiếp, lo bài vở cho số báo sau”.

Để có được tờ báo ra buổi chiều và sau đó cố gắng ra báo trước hoặc sau 12 giờ trưa hằng ngày thì thời đó, các ký giả “chân chạy” (săn tin) và “chân nằm” (các biên tập viên) đều làm việc từ lúc sáng sớm. Các phóng viên chạy tin thì đeo bám tin thời sự ở nghị trường hay các cơ quan, ty cảnh sát rồi về viết bài trong buổi sáng. Còn các biên tập viên thì trong buổi sáng phải “dựng” cho xong các trang nằm như trang tiểu thuyết dài kỳ, kịch trường, điện ảnh… là những trang không đòi hỏi tính thời sự.

Nhà văn Bình Nguyên Lộc cho biết trong một hồi ký rằng mỗi ngày 5 giờ sáng đã đi đến tòa soạn. Bài học vào nghề đầu tiên của ký giả, theo hồi ký của nhà báo Lê Thiệp khi nhận việc tại một tòa soạn: “Chúng tôi làm việc sớm, 5 giờ sáng đã bắt đầu rồi. Vì thế tôi trước hết là phải dậy sớm đến tòa soạn cỡ chưa đến 5 giờ sáng”.

Nhìn lại, bây giờ ta có thói quen đọc báo buổi sáng ngày 2 để biết tin tức ngày 1 chỉ vì một thời gian trước đây chúng ta không có nhật báo mà chỉ có tuần báo. Lúc ấy, chỉ có một số nhật báo nhưng những tờ báo này cũng chẳng cần phải cạnh tranh vì mỗi báo có nhiệm vụ riêng, đối tượng của mình. Dần dần, theo thời gian các tờ tuần báo tiến lên nhật báo và báo phát vào buổi sáng vẫn tiếp tục duy trì và người đọc lại vào nếp quen đọc báo vào buổi sáng.

Bây giờ có thêm báo mạng nên tin tức sốt dẻo đã đáp ứng được nhu cầu đói thông tin của thời đại @.

Nhà văn Lê Văn Nghĩa

(Bài của người trong nước)

304Đen – Llttm

Tuesday, July 26, 2016

Hồn Thư - Thuyên Huy



Hồn Thư

Chuyện để tặng Huỳnh ĐT, Phan Thiết và nhóm bạn cùng học QGSPSG

Bố cục bối cảnh, nhân vật, tình tiết được sắp xếp và viết bằng tưởng tượng, những trùng hợp vô tình, nếu có, là việc ngoài ý muốn của tác giả, xin miễn thứ.

   
 
 


    Buổi sáng, trên đường trở lại nhà, sau khi dắt con Benji đi bộ vòng quanh bờ sông, cuối dốc đồi Edgewater như mọi ngày từ sớm, sương phủ mù mờ dù trời chưa vào thu, vẫn còn chút nóng hạ đâu đó, mưa bất chợt đổ như trút nước, may vừa kịp tới trạm xe buýt về East Keilor, đầu đường Rosemond, Thuận kéo con chó chạy vội vào, bên kia đường Trí vụt băng nhanh qua, không chờ đèn xanh báo hiệu, giờ này phố xá còn vắng người xe, mưa tiếp tục nặng hột, xối xả rớt trên mặt đường, Trí nhận ra, gật đầu “chào chú”, con chó vẫy đuôi vì biết là người quen, Trí kéo cái túi xách vải bố cũ mèm lên vai, cao một chút, ngồi xuống vuốt đầu, con chó mừng quấn quýt, Thuận nhìn Trí cười “bữa nay về trễ hả con”, Trí gật đầu “dạ, con ở lại làm thêm một giờ, chú ơi”, chuyến xe buýt đầu ngày, đưa khách ra trạm xe lửa Tottenham chầm chậm chạy ngang qua, nhạt nhòa trong màn sương, lưa thưa hai ba người khách. Ở cuối đường, chút nắng sáng hé lên phía bờ bên kia sông, mưa bớt dần rồi lất phất nhẹ, trời đứng gió, một lần nữa, cúi xuống xoa đầu con chó, đứng dậy, quàng túi xách lên vai, sửa lại cái áo khoát, Trí chào Thuận “bớt mưa, thôi con về nghe chú” rồi hối hả lầm lũi bỏ đi, Thuận dắt con Benji bước ra khỏi trạm xe, đứng nhìn theo tới cuối đường, nắng rựng trải dài xuống cuối dốc, Trí đi khuất từ lâu.

    Thuận biết Trí từ hơn một năm nay, thằng nhỏ chừng mười sáu mười bảy, nhưng chưa lần nào nói chuyện nhiều, vài câu chào thông thường rồi bỏ đi, sáng sớm, xuân hạ thu đông, mưa mù nắng nhạt, ngày nào cũng vậy trừ Chủ Nhật, dắt con Benji về lại nhà, sau khi đi hết một vòng, tới ngang công viên nhỏ, tắt qua khu phố chính, đến trạm xe buýt, đúng lúc chuyến xe đầu tiên trong ngày ngang qua, giờ đó ít khi  có người chờ, thì cũng là lúc Trí đi bộ, từ hướng trên miệt West Footscray lên, với cái túi xách cũ trên vai, mặt mài trông có phần mệt và bơ phờ đôi chút, nhưng luôn luôn không quên hai tiếng cười “chào chú”, cúi người xoa đầu con chó rồi lẳng lặng đi tiếp, nhiều lần Thuận định muốn hỏi Trí thêm đôi ba câu, nhưng thấy anh ta có vẻ vội vã, nên thôi, cứ như vậy, ngày qua ngày lại, cũng cái vẫy tay, cũng hai tiếng chào và nụ cười mệt mỏi rồi thôi, không có gì khác.

    Cuối thu, trời ngấp nghé chở gió sang mùa, sáng thứ bảy, thường lệ như mọi ngày, cũng với con Benji, đứng lòng vòng tại trạm, chuyến xe buýt đầu từ East Keilor lên, đến rồi bỏ đi, không thấy Trí về ngang như trước, không hiểu sao, tự dưng cảm thấy thiếu thiếu một cái gì đó, Thuận nấn ná nhìn phía trên đầu đường Rosemond chờ thêm, xe và người bắt đầu càng đông hơn, đèn điện quanh rào bải đậu trước cổng chính vào khu thương mại High Point đã tắt từ nãy giờ, trời vẫn còn lạnh nhưng có chút nắng âm ấm, chờ cũng tạm lâu, Thuận sửa lại vòng đeo trên cổ con Benji, vừa định bỏ đi, bên kia đường, có tiếng gọi “chú Thuận” nghe rõ mồn một vọng qua, sau lưng chiếc xe buýt bỏ trạm ngừng, chạy vụt đi, Thuận đứng khựng lại, cũng cái túi xách quen thuộc, Trí đưa tay vẫy,  băng qua, kịp lúc đèn báo hiệu vừa đổi màu đỏ, đứng bên nhau, nói một hơi, Trí cho biết, “phải ở lại chờ người trưởng ca đêm, làm giấy tờ cho con đổi lên ca ngày tuần tới, đở quá chú ơi, làm đêm riết rồi mệt quá nhưng ráng kiếm thêm chút tiền, gởi về cho mẹ con bị bệnh nặng, nên đành chịu cực, không nghĩ là chú còn ở đây, nên khi thấy, xuống xe ngay trạm này liền, thay vì đi thêm lên trạm trên kia”, Thuận nhìn mà vui lây cho thằng nhỏ, chuyện cực khổ, ngủ gà ngủ gật, khi làm ca đêm thì không lạ gì với mình trong suốt ba bốn năm, lúc mới vừa đến xứ người, Trí ngồi bệt xuống đường, ôm con Benji tươi cười nựng nịu, nó vẫy đuôi không ngừng, Trí lập đi lập lại mấy tiếng “khỏe quá chú ơi, ở bên nhà khỏi lo nữa”, rồi bổng dưng, nhìn lên “nhà con ở cũng không xa đây lắm, thôi con mời chú dẫn con Benji theo luôn, tới chơi cho biết, con pha cà phê cho chú uống, con pha ngon lắm đó, hôm nay khỏi cần ngủ bù rồi, chú đi nghe”, có ý muốn biết hoàn cảnh thằng nhỏ từ lâu, một phần cũng hơi tò mò, Thuận đồng ý ngay, Trí hớn hở, mang túi xách lên, giành lấy dây, dắt con Benji đi trước, Thuận chầm chậm phía sau, rẽ ngang con đường Williamson, lá chết úa vàng trải đầy, còn ướt đẩm sương đêm, hàng cây già nua, dọc hai bên khẳng khiu và trơ trụi giữa trời thu tiếc nuối tàn.

    Gian nhà trọ, nằm gọn riêng biệt, ở một góc vườn rậm lá trong cái biệt thự cũ xưa, cuối đường, chênh chếch trên đầu dốc, chủ nhà là một bà cụ người Ý, sống đơn độc, thỉnh thoảng năm khi mười họa, Giáng sinh, Tết mới thấy dăm ba người tới thăm rồi thôi, ít nói hay cười, “tiếng Anh tiếng u” chữ còn chữ mất, ngày nào cũng vậy, sáng sớm đi một vòng quanh chỗ của Trí, xem lại cửa nẻo, rồi đón xe buýt đến nhà thờ St Martin, ở đó bà phụ giúp lau chùi quét dọn cho tới xế chiều, xâu chuổi tràng hạt màu đen bóng luôn luôn cầm trong tay, bà thương Trí lắm, nấu cái gì cũng gọi Trí qua ăn, có khi còn hỏi cần tiền không bà cho, trừ cái sân trước có chút ít cỏ, còn lại thì toàn là lát gạch đen, nên việc cắt cỏ, cắt cành mỗi hai ba tuần, Trí đều lo một cách tươm tất. Từ cánh cửa sổ nhỏ, vừa đủ khoảng cho hai người ngồi nhìn xuống con rạch hẹp, chạy ra khúc sông Maribyrnong, dưới chân cầu đường Raleigh, nắng từng vạt lưa thưa, đong đưa hắt ngang, hâm hấp nóng, mùi cà phê bốc lên thơm cả phòng, Trí có vẻ hài lòng “tiếng một tiếng hai” mời mọc, nhìn thằng nhỏ lăng xăng, cảm thấy vui vui, Thuận bưng ly lên, chậm rãi uống, hỏi và nghe Trí kể chuyện mình, “Cộng sản vô, tài sản bị tịch thu, mẹ mất việc vì là vợ của “sĩ quan Ngụy”, đồ đạc trong nhà đem ra bán dần rồi cũng hết sạch, mẹ một thân, chạy ngược chạy xuôi, bán cá bán tôm, kiếm sống, may mà còn căn nhà, hai ba năm sau, buồn quá, thất chí, ông ngoại qua đời, bà ngoại bị đau khớp xương hai đầu gối, đi đứng khó khăn, có một thiếm cùng bán với mẹ, tốt bụng, quen chủ tàu vượt biên, sắp xếp cho đi không tốn tiền, mà nếu đòi tiền thì cũng không có đâu mà trả, mẹ đẩy Trí xuống tàu giữa khuya theo đám người chừng bảy tám chục, lạ ngắt, nước mắt ràn rụa, khóc ròng, mẹ không thể bỏ ngoại mà đi, may mắn tàu thoát đến Nam Dương, thấy Trí bơ vơ côi cúc, tội nghiệp, một gia đình đi trên tàu, khi lên đến trại tỵ nạn đã khai thêm tên anh ta vào danh sách, ở trại cùng họ, phụ bưng nước bưng cơm rồi theo họ sang đây, ở trung tâm tỵ nạn Midway không bao lâu, Trí được một bà sơ nhà dòng, đem gởi ở với bà cụ già người Ý này”.

    Thấy ở cũng đã lâu, những gì muốn biết cũng tạm biết đủ rồi, Thuận ra về, hẹn gặp lại lần khác “hôm nào tới nhà chú chơi nghe”, Trí theo tới ngoài cổng nhà, con Benji chồm lên, vúi đầu vào tay, rồi lẻo đẻo theo sau, Thuận đi cũng khá xa, quay lại nhìn, Trí vẫn còn đứng đó, trên đường về, bỗng dưng Thuận muốn khóc, những chi tiết của chuyện Trí kể, “nhà ở Phan Thiết, ông bà ngoại có hảng làm nước mắm lớn, mẹ là cô giáo ở trường tiểu học trước năm 1975 ở gần chợ tỉnh, tên Tâm Như, ba chết vì bị phục kích ở Tuy Phong” cứ lẩn quẩn trong đầu, tới trước nhà, đứng chết lặng một hồi lâu, con Benji, mừng rở chạy vào trong sân, sủa vang, chân Thuận nặng nề không màng bước thêm, nhớ tới chuyện, lòng đau nhói.
 
 
 

    Trong đám bạn cùng quê Thủ Dầu Một, Thuận học không khá, đậu được tú tài một là đã mừng hết lớn rồi, nhưng không qua nổi năm sau, rớt tú tài hai, buồn thân nhưng đành chịu, biết tỏ cùng ai, nhà nghèo, mẹ mất sớm, có hai cha con đùm bọc nhau, ba Thuận không tái giá từ ngày đó, lấy phần trước căn phố, hẹp, gạch cũ mốc, của nhà mình, một mình mở tiệm buôn bán trái cây, tại chợ Phú Cường, lấy mối từ người quen dưới Lái Thiêu lên, không khá nhưng cũng tạm đủ sống từ bao nhiêu năm qua, nghe tin thi rớt, ông không buồn không giận, thương con “thôi thì học tài thi mạng con ơi”, ông không buồn nhưng cứ mỗi lần về thăm nhà, nhìn ông vất vả, Thuận chết lặng, tệ tái lòng. Long nhong lên xuống Sài Gòn, chừng đâu vài tháng, nghe lời Trung, thằng bạn cũng học cở mình, biến mất sau mùa thi, đậu rớt không nghe ai nói tới, gặp lại hôm đi lang thang ngoài khu chợ cũ Hàm Nghi, thi vào trường Quốc Gia Sư Phạm, trường mà hắn đặt tên là “trường làng tôi ” nhưng có một chuyện  ít ai để ý tới, là ra trường có thể xin được hoản dịch hay còn gọi là “động viên tại chỗ”, cho nên không phải lo ngại chuyện khoát áo lính, trừ khi tự nguyện, thêm nữa cũng có được cái nghề, may mắn, chứ chắc chẳng hay ho gì so với con số vài trăm người thi, cả hai vào học cùng năm nhưng khác lớp. Thuận quen Tâm Như ngày đầu nhập học, khi nhường nhau lối đi, người trước người sau, ngay cầu thang lên lớp học trên lầu, chọn chỗ ngồi sau lưng, rồi “thương thầm nhớ trộm” những ngày sau đó, đám bạn thường “kết đôi kết ba” với cô nàng, thấy điệu bộ anh chàng đã biết ngay từ đầu nên cố tình “chọc phá” cho thêm phần “mắm muối”, cộng thêm có Thật, học chung lớp, ở cùng quê Phan Thiết với Tâm Như, “rù rì thêm bớt, tiếng này tiếng nọ”, rồi thì cả lớp ai cũng biết hai người “tình trong như đã dẩu ngoài còn e”, đối với bạn bè trong trường, cùng lớp cũng như khác lớp quen nhau, hai người quá “xứng đôi vừa lứa”, cuối năm đầu, cùng với Trung, đi thi lại tú tài hai nhưng vẫn còn bị sao quả tạ chiếu đen quá, cho nên hai chàng đều “trợt vỏ chuối”, gặp nhau, nhìn nhau cười trừ, chẳng màng “trách trời cao đất rộng”.

    Nhà Tâm Như ở bên phố trong, không xa nhà của Thật, ngoài đầu bến xe chợ Phan Thiết bao nhiêu nên cũng dễ đi qua đi lại, gia đình hai bác Tiến, chỉ có một mình Tâm Như, bác trai trước là công chức sở hỏa xa thời Tây, đã hưu trí, sau ngày nghỉ hưu, bác hùn với người em trai, sang lại hảng làm nước mắm nhĩ  hiệu Thành Tựu, ở xóm biển, từ đó đến giờ, công việc làm ăn phát đạt, tạm gọi là người khá giả trong tỉnh, cuối hè, trước khi vào học năm thứ hai lại vài ngày, theo Thật ra Phan Thiết cho biết, và cũng để đi cùng với Tâm Như trở vô Sài gòn, hôm cùng Thật đến nhà, quen quá nên không ngó ngàng gì tới anh ta, gặp Thuận, hai bác niềm nỡ thăm hỏi, chuyện quê nhà, cha mẹ, anh em cũng như chuyện học hành, tương lai ngày mai ngày mốt rồi chúc tốt chúc lành đủ thứ, Thật ngồi kế bên nghe, không tiếng thêm tiếng bớt, gục gặc đầu, mĩm cười theo từng câu hỏi.

    Trước ngày thi tốt nghiệp vài hôm, Sài Gòn bỗng dưng vắng mưa hỗm rày, sáng thứ bảy, Tâm Như đến gặp Thuận một mình, lần này thật sớm, không có mấy cô bạn như thường lệ đi theo “tán hươu tán vượn, kéo lê hè phố”, trời đã có nắng từ lâu, ngoài đường vẫn còn vắng người, bóng nắng hắt xuyên vào khung cửa sổ từng vệt dài, trên gác, qua ngang cái bàn học gỗ cũ, vàng một màu bông vạn thọ, tiếng bác chủ nhà ho khan dưới nhà vẫn vậy mỗi sáng, Thuận loay hoay xếp mền gối ngay ngắn trên giường, Tâm Như ngồi lặng thinh nhìn xa xăm xuống dưới đường thật lâu, cảm thấy hình như có gì đó là lạ, khác với mọi lần, Thuận thắc mắc chờ, thì ra cô nàng đang khóc, Thuận kéo ghế ngồi sát bên, Tâm Như rấm rứt nói chuyện hai bác Tiến cho biết, không hài lòng chuyện của hai người, tuy không nói thẳng ra nhưng hai bác bảo “ba mẹ muốn con nên có một người chồng có địa vị hơn con đôi chút, đằng này Thuận chỉ là một thầy giáo xoàng như con thì, ba mẹ làm sao vui được, con suy nghĩ kỹ đi”, Thuận chợ dưng nhớ lại, câu hỏi của ba Tâm Như “cháu có định thay đổi nghề nghiệp sau này không hay chỉ cứ là một ông giáo làng bình thường thôi”, anh thở dài “à thì ra là vậy”, Tâm Như ngừng khóc, run run nắm chặt tay Thuận, hơi ấm của làn da làm Thuận có thêm một chút bình tỉnh, cô nhìn thẳng vào mắt anh ta, nhoẻn miệng cười, với qua hôn nhẹ lên mặt, khe khẻ nói nhỏ “anh biết em yêu anh nhiều lắm mà nhưng là con một, nên để rồi  thủng thẳng mình tính, không có gì đâu”, Thuận gật đầu, khẻ cười “thôi cứ từ từ ra trường rồi tính”. Thuận đứng dậy thay đồ, sắp vào trưa, nắng hắt hơi nóng vào nửa căn phòng, Tâm Như vừa kéo tấm màn vải xám nhạt che ngang cửa sổ, bên dưới có tiếng gọi của mấy cô trong nhóm, tiếng bà chủ nhà cười giòn, nói gì đó, không lớn lắm nhưng nghe được mấy tiếng “cô Tâm Như”.

    Sau bữa ăn chiều chia tay, tại quán cơm bình dân thường ăn, trên đường Trần Bình Trọng, nơi góc đường gần trường, cả bọn, ai nấy ít cười hơn ngày thường, Thuận theo Trung về trường tiểu học Lái Thiêu, Thật cùng với Tâm Như trở lại Phan Thiết, mấy cô khác, người Long Khánh, người Biên Hòa, Tây Ninh, ai về ngã nấy, buồn buồn kể chuyện cũ, không ai nói chuyện ngày mai, cũng hẹn cũng hò, nhưng biết chừng nào mới có dịp gặp nhau, dù không đến nổi là “chim trời cá nước”, tiễn nhau ở góc đường, mọi người bỏ đi rồi, Tâm Như cùng Thuận trở lại nhà trọ, đèn đường lên, phố xá vẫn chưa tối hẳn, trời bất chợt mưa lâm râm, mùi đất khô mấy ngày qua bốc lên hăng hắc, nóng vẫn nóng, bà chủ ngồi hóng gió trước hiên, con chó nhỏ nhà kế bên, thấy có người sủa vài tiếng làm vui, với nụ cười thường ngày, nhìn hai người buồn buồn “mai là không còn gặp lại hai người rồi, khi nào có về Sài gòn nhớ nghé thăm cô nghe, đi đường cẩn thận, nhớ giữ gìn sức khỏe, khi nào có tin mừng đừng quên cô là được rồi”. Đêm nằm tựa đầu bên nhau, nhắc nhau nghe đủ thứ chuyện, chờ sáng, rồi cũng có những cái hôn, cái mơn trớn, vuốt ve trên người như tạo hóa đã tạo, một vài vệt sáng vàng nhạt từ cột đèn đường bên kia lề, xuyên qua kẻ hở khung cửa sổ, lén hắt ngang qua chút phần da thịt trần truồng, mù mờ trên giường, đâu đó tiếng hơi thở cấu xé nhau, ngụp lặn thì thào, dồn dập, hối hả, không lâu thì im bặt, mọi chuyện ngừng ngang ở đó, một người ngồi dậy, nói tiếng “cám ơn”, người kia chợt biết rằng mình chưa mất đi “đời con gái”, có tiếng chuông nhà thờ thong thả đổ xa xa, trời rựng sáng.

    Thuận về lại Phú Cường, gần nhà, khi hoán chuyển với một cô khóa đàn chị sau ngày về dạy lớp nhì ở trường tiểu học Lái Thiêu, chừng ba bốn tháng, ba anh giờ già yếu, có mình bên cạnh cũng bớt hiu quạnh, chuyện ngày mai với Tâm Như hình như xa vời vợi, chừng nào mới không còn là “thầy giáo làng”, chưa biết, Thuận buồn cho mình, một nổi buồn dằn dặt, làm cách nào để cãi lại định mệnh, trừ khi bỏ nó ra đi, nhưng ít người có can đảm làm, Thuận không báo tin đổi trường cho Tâm Như biết, thôi thì ráng sống ngày qua ngày như “sông cứ trôi đời sông”. Thuận nhận được thư của Tâm Như, gởi về trường dưới Lái Thiêu do Trung trao lại, mừng đó nhưng cũng buồn đó, cô nàng không viết gì nhiều, “phần chính là chưa thuyết phục được hai bác Tiến, dù khóc lóc năn nỉ cũng đã nhiều với bốn tiếng “bên tình bên hiếu” và riêng mình, Tâm Như không có đủ can đảm để bỏ nhà đi được”, Thuận chần chừ chưa trả lời vì không biết phải viết gì, nên quyết định tạm quên đi thì, chưa tới hè, nhận được lá thư ngắn ngủi của Thật, từ Phan Thiết báo tin, nghe theo cha mẹ,  “Tâm Như đã kết hôn với mộtThiếu tá VNCH, là Chi khu phó chi khu Tuy Phong, hình như có tin có thể sẽ là quận trưởng nay mai, có mời đám cưới, cảm thấy không vui, anh ta từ chối khéo, không tới dự”, đọc thư mà chết lặng dật dờ, Thuận chấp nhận phận mình, tuy có nghiệt ngã nhưng cám ơn đất trời đã cho anh lối thoát, một lối thoát bình yên, không có giận hờn trách móc, ngày hai buổi đi về âm thầm với bảng đen phấn trắng, không quên chúc Tâm Như  nơi đó tìm được hạnh phúc thật sự, đừng là “cái hạnh phúc tưởng như là hạnh phúc”.

    Miền Nam mất, được nhà cầm quyền mới cho phép giữ nghề thầy giáo, sau những màn “học tập bồi dưỡng, kiểm điểm tự phê”, gần một năm sau, không gặp lại Thật nhưng Trung có lên Phú Cường, cho biết, hôm ra Phan Thiết tìm đường “vượt biên” với chủ tàu, gặp Thật, rũ đi, anh ta ở lại vì bác gái mắt kém quá, không ai săn sóc, và “mới biết là Tâm Như vừa sinh thằng con trai chừng vài ngày, lúc miền trung di tản, chồng cô bị phục kích chết tại Tuy Phong, khoảng hai ba tuần trước khi miền Nam thua trận”, với sự đồng ý và đốc thúc của ba mình và gia đình bà cô thứ năm, em ruột của ông và mấy người con, từ Pleiku về ở chung trước ngày 30 tháng 4, theo Trung, Thuận xuống tàu rời bỏ Việt Nam từ Phước Tỉnh trong một đêm mưa tầm tã tuôn trên biển, thoát được ra nước ngoài chừng một năm sau, ba Thuận mất, lặng lẽ đến chùa xin lễ phát tang và cầu siêu, viết thư về, nhờ bà dì lo chăm sóc giùm mồ mả, chờ ngày trở lại một mai nào đó.

                                                                       *

    Thuận đứng trước sân cỏ, nhìn trời, chiều nay nắng tốt, cái nhà cây nhỏ, hai phòng ngủ, nằm khiêm nhượng, lọt giữa những căn lầu hai tầng rộng hai bên đường, mà Thuận mua được với giá rẽ, nhờ số tiền dành dụm mấy năm, rồi mướn một người thợ mộc quen Thái Lan, sửa sang, sơn phết lại nên cũng tạm tốt, từ ngày đó đến giờ Thuận vẫn sống một mình, chưa nghĩ tới chuyện vợ con, Trí xách cái túi đi làm về, cũng cái túi vải cũ ngày nào, ghé qua, con Benji, đứng phía sau cánh cửa lưới sắt sủa vang trời, hai người lửng thửng vào nhà, trong thời gian qua, mấy năm rồi, từ ngày định cư ở đây, sau nhiều lần, Thuận liên lạc thư từ được với Thật, cũng còn may, anh ta giờ có cơ sở làm ăn gì đó khấm khá, Thật thuật lại đúng chuyện mà Trung kể lại trước khi rời Việt Nam, và cho biết thêm, Tâm Như hiện bị ung thư phổi, khá nặng, hình như là ở thời kỳ cuối, khó sống lâu, thuốc men giờ có được chỉ để cầm cự mua thời gian thôi, bác gái thì còn sống nhưng yếu lắm rồi, từ khi gặp Trí, Thuận đã gởi nhiều lần, một số tiền kha khá cho Thật, nhờ trao cho Tâm Như, nhưng hứa một lời là đừng nói của ai, nếu rãnh bỏ chút thời giờ thăm viếng, lo liệu thuốc men. Con Benji chạy lăng xăng quanh chân, không như mọi lần, mặc dù cũng nựng nịu con chó nhưng xem ra thằng nhỏ mặt không vui, nhưng hai người cũng hỏi han chuyện này chuyện nọ, trước khi về, Trí cho biết, đã mua vé máy bay về Việt Nam, vì được thư mẹ trở bệnh nặng, hôm nay là thứ năm, sáng thứ bảy đi, gởi lại cái chìa khóa nhà cho Thuận cất giùm, chắc phải ở bên đó hai ba tuần.     

    Thứ sáu, chưa kịp đi ăn trưa, Thuận ngồi thừ người, đau nhói cả lòng, khi cảnh sát cùng người cai thợ tại hảng dây cáp điện Olex, đến văn phòng Thuận làm, tìm báo tin, vì sau khi đổi lên làm ca ngày, Trí điền tên và số điện thoại của Thuận trong phiếu cần liên lạc khi có việc khẩn cấp, Trí chết vì bị cuộn dây đồng dài, lớn hơn vòng tròn bánh xe vận tải, đè lên người, do ở thằng nhỏ không nhấn nút bấm ngừng như thường lệ, khi chạy ra khỏi đầu giàn máy, bác sĩ ở bệnh viện Western General cố cứu nhưng đành chịu, bà cụ già người Ý, chủ nhà khóc sụt sùi khi nghe tin, cầm tay Thuận, nói bù lu bù loa, nửa tiếng Ý, tiếng Anh, tay vỗ lên trán liên hồi “my God, my Jesus”, được sự giúp đở của Cha xứ và mấy người trong họ đạo St Martin, làm lễ tang ở nhà thờ, rồi đưa Trí đi hỏa thiêu ở nghĩa trang Altona Memorial Park. Chôn cất xong, Thuận nhận được điện thoại của Thật, từ Việt Nam qua, cho biết Tâm Như đã mất trên giường trong bệnh viện Phan Thiết hôm chủ nhật, hai ngày sau khi Trí bị tai nạn, hai mẹ con đã không có được ngày thứ bảy, ngày mà theo chuyến bay, Trí về tới Sài Gòn buổi chiều, Thuận cũng báo tin Trí chết rồi, bên đầu dây bên kia, im lặng một hồi lâu mới nghe Thật thở dài hai tiếng “trời ơi”. Như đã dặn, Thuận trở lại nhà bà cụ già người Ý, chiều thứ năm, phụ dọn dẹp lại gian nhà, để bà cho ai đó về ở, gom những đồ dùng, giấy tờ cá nhân, trong đó có cái hộp thiếc đem về nhà mình, cũng hôm đó, Thuận bất ngờ nhận được thư Tâm Như, như vậy là Thật đã nói hết rồi, cầm lá thư vào nhà,  chưa mở ra, nâng niu trên tay, tưởng chừng như cái nâng niu tay nắm tay, trong tiếng mưa lâm râm, tiếng mưa của cái đêm cuối bên nhau trên gác trọ, trước ngày chia tay về nhiệm sở.
 
 
 

    Thuận ngồi bệt xuống trước tấm bia, bằng đá hoa cương màu xanh nhạt, lớn chừng trang giấy học trò, cùng một kích thước chung như các nấm mộ khác của nghĩa trang, trên mặt đất, trong khoảng đất hình vuông, giữa thảm cỏ xanh rì, nằm gần cuối dãy các mộ phần khác, song song bên nhau, hun hút chạy dài từ phía lối vào, cái nào cũng cắm đầy hoa nhưng úa héo nhiều hơn tươi, vì cái nóng của trời tháng giêng mùa hạ gay gắt, ở đây người ta không  xây mộ cao như nhiều nghĩa trang khác, tất cả đều đặt dưới đất, cắm mấy nhánh hoa trắng mới, thay cho mấy cái chiều hôm qua, đưa tay lau nhẹ dăm ba giọt sương đêm còn nấn ná, nửa đi nửa ở, trên tấm bia, khuôn mặt hai mẹ con rõ dần, dưới ánh nắng mặt trời vừa lên, nhất là Tâm Như, cũng đôi mắt dịu dàng và nụ cười nửa miệng có duyên của ngày đầu quen nhau trong sân trường sư phạm, mắt Thuận bỗng dưng cay xé, ba cây nhang thơm lắc lư theo nhịp run rẩy của tay, pha chút nước mắt, nghẹn ngào khóc, Thuận xếp hai lá thư của Tâm Như, một gởi cho Trí, một cho Thuận, đã đọc hết nhiều lần, đặt trong cái hộp thiếc nhỏ Trí dùng cất giữ thư từ, hình ảnh của mẹ gởi qua, mà anh đã đem theo, mỗi khi đến đây, trong mấy tuần qua, để đó, nhìn một hồi lâu, khẻ bật lửa lên từ cái hộp quẹt máy, chầm chậm đốt, miệng thì thầm nghèn nghẹn, cũng những giọt nước mắt hồi nãy nhưng có phần mặn đắng hơn “cuối cùng mình cũng gặp lại nhau, em nằm đó, anh ngồi đây, em đã nói hết những gì muốn nói, định mạng vẫn cứ mãi là định mạng, không có gì để hờn trách chi nhau, anh cũng đã làm xong những gì muốn làm, anh đốt thư em, thả hồn thư bay theo về nơi đó, để em vui, để em yên tâm, biết rằng anh đã đọc, với muôn vàn tha thứ, cho em và cho anh, và cũng để em lúc nào cũng ở bên anh tới một ngày nào đó, mai này mình thật sự có nhau, ở một chốn thiên thu bình yên của trời đất, nơi chỉ có ông giáo và cô giáo làng cùng nắn nót viết, chữ yêu trên tấm bảng đen màu phấn trắng”.

    Thuận ôm cái hộp thiếc, đựng những lớp bụi tro giấy xam xám đứng dậy, nắng rực lên, len qua bóng người vừa đủ sáng trên tấm bia đá, trên tấm hình, hai mẹ con Tâm Như hình như đang cười, một cặp trai gái còn rất trẻ thăm mộ ai đó đi ngang, gật đầu chào, mắt vẫn còn ươn ướt nước mắt, Thuận cười nhẹ đáp lại, nhìn theo, lẻ loi đâu đó, có tiếng chuông từ nhà nguyện phía trong vang lên từng hồi một.

 
Thuyên Huy

Viết sau ngày đội mưa đưa một người bạn thân vừa mất, ra nằm ở nghĩa trang Altona Memorial Park trong cái lạnh rét run một sáng giữa Thu.

 

 

  

   

   

   

   

  

 

   

 

 

 

 

 

Cảm Đề Cây Thông - Hồ Nguyễn & Khôi Nguyên & Danh Hữu


CẢM ĐỀ CÂY THÔNG
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà re

                                  
Nguyễn Công Trứ

 
Chán người! Mơ sống giữa thinh không;
Dù kiếp đời, reo một giọng "thông".
Chịu trận, đưa lưng in dấu búa;
Oằn mình, cụp lá hứng mưa dông.
Ù lì xác xúc, tay thầy kiểm, (1)
Thây kệ trời trăng, chuyện núi sông.
Nếu ước, ta mong ngày tháp cánh!
Mong chi cái thế, đứng chân trồng.

                                
Danh Hữu

 

HỌA: CÂY THÔNG TRỤ VỮNG

 

 Chống chõi can trường giữa cõi không,
Hiên ngang chính trực giống cây thông.
Mưa dầm sét nổ không nao núng,
Búa bổ trời nung chẳng thoát dông.
Lạnh rét chẳng chăn bông gắng chịu,
Trời u sao vắng trọn tình sông.
Can trường một giống cây tròn vẹn,
Chẳng quản công ai khéo léo trồng.

                                                
HỒ NGUYỄN (22-7-16)

HỌA: CÂY THÔNG


Thi hứng nghe reo, cảm thấy không?
Đó là khúc nhạc của đồi thông!
Lá kia tuy nhuyễn, hơn cây cỏ,
Cành nọ không to, thắng bão dông.
Cát vẩn bụi lầm, xa, ở núi,
Phồn hoa đô hội, lánh, rời sông.
Cây thông biểu tượng người Quân Tử,
Muốn tốt đừng quên chọn giống trồng!


Khôi Nguyên

Một Mai Thức Giấc - Trần Huyền Trang


Một mai thức giấc

 


Chị nghiện cà phê, chỉ mới gần đây thôi nhưng đã nặng lắm, chập tối là làm một ly đen đậm không đường. Tôi hỏi, rồi sao chị ngủ? Chị nheo mắt cười, chị có cần ngủ nữa không?

Chắc chắn là có, nhưng không phải lúc này. Sẽ có một lúc nào đó chị có thể ngủ vùi thỏa thích, thậm chí không cần dậy nữa. Những mỏi mệt rụng khỏi người mình, lo âu cũng tan loãng, lúc đó chắc đê mê lắm. Chị nhấn mạnh cái từ “đê mê” làm tôi bật cười.

Chị cứ hay đùa như vậy, trong những lúc khốn cùng nhất vẫn rất biết đùa. Như trong lúc này, chị đang vắt kiệt sức mình cho việc công ty, ban đêm lại bán mình cho những con chữ, những bi kịch luẩn quẩn trong mớ bản thảo phim của chị.

Tôi càm ràm: “Việc gì chị phải ôm đồm như thế. Cái trụ cột nhà chị đâu rồi, hay lại vờn theo con mèo nào ngoài kia mà bắt chị phải nai lưng gánh vác hết thảy?”

Chị ngáp một hơi rõ dài, phản biện yếu ớt: “Tại chị thích làm, kiếm được tiền ai mà không ham. Mình sống bằng tiền của mình, chả phải ngửa tay xin ai thì đỡ nhục. Có tiền, chị tha hồ bày biện lại cuộc đời mình”.

Như một người vô gia cư ao ước một căn nhà, dù chật hẹp nhưng họ vẫn có thể bày biện mọi thứ theo ý mình, vậy là đã thấy nó đẹp, vậy là thấy đời đáng sống. Chị cũng vậy. Chị khát một mái ấm, đúng nghĩa, và luôn luôn nỗ lực bồi đắp từng chút một để có nó. Nhưng có lẽ chị chỉ hoài công. Trong khi chị nhóm lửa sưởi ấm cho ngôi nhà thì người đàn ông chỉ chực chờ đánh cắp lửa ấm mang đi cho kẻ khác.

Nhưng chị vẫn khát một căn nhà.

Hồi mới cưới, nhà chồng chị trống trơn từ trước ra sau, chẳng có thứ gì đáng giá ngoài đàn em háu ăn nheo nhóc. Đám cưới chị cũng không xe cộ rước dâu rình rang như bạn bè. Hai anh chị có bao nhiêu vốn lận lưng góp lại làm đám cưới. Miệng lưỡi thế gian không mọc ra cơm gạo để nuôi ta ngày nào, nhưng có thể phun ra dây thòng lọng và giết ta chết dần chết mòn theo năm tháng. Không chịu nổi tiếng chó chui gầm chạn, anh nằng nặc đòi “ra riêng”.

Hai đứa con lần lượt ra đời, niềm vui và nỗi buồn cùng từ đó theo cấp số nhân. Sau mỗi lần chuyển nhà trọ, giấc mơ về căn nhà nhỏ có giàn hoa ti gôn nhỏ xinh treo mình trên cổng luôn lớn hơn trong chị. Nhưng cũng chính nó lại teo tóp dần trong anh, theo cơm áo gạo tiền và những cám dỗ khác. Anh thường mượn rượu dẫn lối về nhà. Trong cơn say, miệng anh vẫn luôn lảm nhảm: “Nhà này đâu phải của mình, của thiên hạ hết. Nè vợ, anh là thằng đàn ông nghèo hèn. Vậy thì đã sao? Biết vậy, sao em còn theo tui chi rồi than khổ? Khổ quá thì đi hết đi”.

Không biết bao lần chị khóc trên vai tôi, khi tôi chìa cho chị mượn những đồng lương ít ỏi còn sót lại. Chị nói, đi hết quãng đường dài mới biết mình ngu muội, cứ tưởng trước mặt là nơi bình yên chim hót, ai dè lại là sa mạc mênh mông. Sức người có hạn, chị không còn khả năng để cải tạo sa mạc hoang hóa thành nơi có sông suối để tắm, có cây cỏ để ăn. Mười năm qua chị luôn sống trong ảo tưởng, rằng khi khó khăn, gục ngã sẽ có bạn đồng hành chìa bàn tay yêu thương nâng đỡ chị. Nhưng không, bàn tay đó còn bận nắm níu những thứ khác thơm tho hơn ngoài kia, chưa bao giờ chìa về phía chị.

Nhà là nơi để về sau những cơn giông bão hoặc những cơn say nắng ban trưa. Nhà là nơi nâng niu thân xác vốn đã bã bời đâu đó trên những khúc đường mưu sinh chật vật. Nhà là nơi hai ta thuộc về nhau mà không hề toan tính. Nhà là…

Chị vẫn không ngừng mơ.

Nhà cũng là cái máy nghiền, nghiền nát tuổi thanh xuân chị. Để có được căn nhà do chính mình đứng tên sở hữu, chị đổi tất cả những thú vui rất đàn bà của mình: quần áo một năm thay dăm ba bộ, chả cần hợp mùa hợp mốt, cứ vừa người là mua. Gót giày lỡ có sút thì thay đôi gót khác, đỡ phí một khoản tiền mua mới. Cưới hỏi tiệc tùng chị từ chối đi cùng chồng để giảm bớt một khoản tiền mừng. Cây son năm năm chưa đổi, túi xách cũng chung số phận...

Đàn bà bốn mươi đang độ hồi xuân như chị, chắc không ai vùi mình vào đống chữ nghĩa rối nùi ấy, thà họ vùi mình vào người đàn ông của họ, cho đến lúc xác thân rã rời. Đàn bà bé mọn, dù không ngừng than vãn về người chồng tồi tệ, đêm đêm vẫn dày vò thân thể anh ta để trả đũa đó thôi. Nhưng chị không nghiện chồng, dù anh ta vẫn còn đẹp trai ngời ngời, phong độ ngon lành, ra đường khối cô ngắm trộm thân hình vạm vỡ ấy và thầm ghen với chị. Thi thoảng anh cũng tình tứ liếc mắt với mấy cô má đào trong quán, uống cạn những ly bia các cô dâng tận miệng, rồi sau đó các cô dâng đến thứ gì nữa. Chị biết hết, chị thấy hết, nhưng vẫn thản nhiên như không. Chị em bạn bè cảnh báo chị, chị chỉ cười qua quýt: đàn ông mà, mấy người không hám gái... Ai cũng lắc đầu, chắc dây thần kinh ghen của chị bị tê liệt rồi. Hồi con gái có lần chị bị xe đụng, may không chết, nhưng chắc cũng từ đó mà chị chẳng biết ghen biết hờn giận là gì.

Độ này chị lại mắc bệnh nghiện bếp. Ngoài cà phê chắc giờ chị lại nghiện hành tỏi. Tôi vài lần bông đùa khi chị gọi tôi cùng ông xã tương lai sang nhà thử vài món chị mới nấu. Với lý do đơn giản là mừng chị vừa thực hiện được giấc mơ lớn của đời mình. Thú vui gần đây nhất của chị là làm vườn, nấu ăn. Chị thú thật không có thời gian đi học nấu ăn chỉn chu, chỉ là học lóm trên mạng, thấy món nào lạ lạ mà ưng bụng thì chị làm, vậy thôi. Chỉ vậy thôi mà chẳng mấy chốc chị làm tôi và Lâm nhớ da diết món chân gà chua ngọt cay nồng xé môi xé lợi của chị. Chồng tôi bảo: “Bạn em chắc ghen dữ à. Đàn bà mà dầm ớt cay xé như vậy ghen kinh lắm”. Tôi mỉm cười, ý tứ đá chân chồng. Anh còn ghé tai tôi hỏi nhỏ, sao không thấy chồng chị đâu? Chị rót thêm cho chồng tôi đầy ly bia.

- Chú uống đi, khi nào được uống bia cùng vợ thì cứ uống cho bằng cạn. Đàn ông toàn thấy chia sớt mấy thứ này cho bạn nhậu, mấy ai được cụng ly với vợ như chú.

Tôi được chị khơi mào, thêm cái thứ men cay đưa lối, cao giọng tố khổ với chị, chủ yếu để lọt tai chồng tương lai.

- Mấy anh này hả chị, suốt ngày bù khú với bạn bè, vậy mà đến lúc bệnh đi rồi thấy, cũng chỉ làm khổ vợ con, được mấy thằng bạn nào tới thăm nuôi. Chị nói xem, ai phũ hơn ai?

Hôm khác chị ý tứ kéo tôi ra quán, thì thầm:

- Phàm đã là con người, ai cũng có một phần quỷ dữ trong tâm. Chuyện vợ chồng, em đừng so đo ai phũ hơn ai. Ở được với nhau ngày nào, hãy cứ vui vẻ mà tận hưởng đi em.

Chị rủ tôi đi du lịch Sa Pa. Chị chưa bao giờ được đi Sa Pa, thèm lắm Mây ơi! Nhưng mùa này Sa Pa u sầu lắm, như cô gái chán chồng ủ ê, mình đợi tháng mười một hãy đi chị ạ. Chị nhíu mày “Sợ không kịp”.

Tôi vô tâm đến mức không hỏi rõ chị “không kịp” điều gì. Để hôm nay, khi thả lên huyệt mộ cành lan trắng, tôi khóc không thành tiếng.

Trong những tháng ngày cuối cùng chống chọi với căn bệnh ung thư máu, chị như một chiến binh dũng cảm và cô độc đến cùng tận. Khi kịch bản phim cuối cùng hoàn tất, tiền cũng đã được chuyển hết vào sổ tiết kiệm ủy quyền cho hai đứa con, chị rủ tôi đi du lịch. Tôi nào biết lúc đó chị đã ở tận cùng sự cô độc.

Ai cũng có một phần quỷ dữ ở trong tâm... Tôi khóc ròng nhớ chị, đau cho chị.

Chồng chị chít vành khăn trắng, mắt sâu húp cúi đầu bên chị. Đôi tay anh miết lên thành áo quan. Tôi muốn nói với anh rằng, anh ạ, chị ấy đã rất cần đôi bàn tay kia của anh chìa ra khi chị đau nhất. Lúc đó, anh ở đâu?

Rồi một mai thức giấc, chị sẽ tha hồ bày biện lại cuộc đời mình. Chị sẽ diện áo đẹp, tô son hồng, ngồi bên bậu cửa đọc sách. Và ngoài vườn, tiếng chim hót ríu ran, tiếng nước chảy róc rách.

Tôi thấy chị mỉm cười. Nụ cười an yên nhất trong cuộc đời chị.

Bên ngoài, chồng chị vẫn không thôi săm soi giàn hoa tim vỡ rợn ngợp trên vòm cổng. Những trái tim tan tác phất phơ trong gió.

Tim chị đã vỡ lâu lắm rồi. Anh biết không?

Trần Huyền Trang

304Đen - Llttm