Thursday, October 27, 2016

Chuyện Bốn Đứa Trẻ Thất Học- Võ Tịnh Trí


Chuyện Bốn Đứa Trẻ Thất Học

 


Cách đây hơn 50 năm trước ở bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội …

 Một buổi sáng 4 bà mẹ đem 4 đứa con đi khám bệnh vì bệnh nhác học. Lũ trẻ này khoảng 10-16 tuổi. Bệnh nhân và thân nhân đứng sắp hàng chờ đợi ngoài hành lang. Phòng khám đơn sơ và không được cách âm nên người ngoài hành lang nghe rỏ đối thoại giữa bác sĩ và bệnh nhân.

Bà thứ nhất ăn mặc diêm dúa trông rất giàu có. Đứa con tuy đã 16-17 tuổi rồi mà gương mặt rất lú lẩn. Cặp con mắt thì ti hí trông rất nham hiểm. Bác sĩ hỏi cháu bị bịnh gì thì ngưới mẹ trả lời cháu nó rất nhác học, hay trốn học và thích lêu lổng trong các xóm chợ củ, học đâu quên đó, nhất là lú lẩn, ăn nói lộn xộn chẳng vào đâu cả, nhờ bác sĩ định bệnh cho cháu. Bác sĩ khám đi khám lại, ngoài thể chất bình thường, nhưng vẫn chưa xác định được nguyên nhân nào mà đứa trẻ này lại lú lẩn đến thế. Bóp trán mãi bác sĩ mới chợt nhớ hỏi tên đứa trẻ. Mẹ nó trả lời cháu nó tên Nguyễn Phú Trọng. Bác sĩ mừng rỡ nói ngay: Ồ đúng rồi, bà là người chỉ chú trọng đến giàu có  đặt cho nó cái tên Phú Trọng, không lo dạy dổ con trẻ, thì với cái bản chất ngu dốt di truyền nó trở nên lú lẫn là việc đương nhiên. Thôi bớt quan trọng chuyện làm giàu đi, lo giáo dục thêm cho nó hoạ may nó bớt lú lẫn chăng? Mẹ thằng Phú Trọng buồn thiu đem con đi về.

Bà thứ hai nét mặc nhà quê nhưng đầu, cổ và tay đeo rất nhiều vàng bạc. Bà này đã nghe bác sĩ nói với bà thứ nhất và cảm thấy như bị đụng chạm, khó chịu. Đứa trẻ là một bé gái khoảng 5 tuổi tay chân vung vẫy rất thô kệch. Bà nói với bác sĩ là cháu nó dốt, nhác học, không chịu đi học. Cả ngày chỉ lén ra vườn sau cho lợn và cá tra an, nhờ bác sĩ định bệnh dùm. Bác sĩ cũng có lương tâm, khám rất kỷ nhưng cũng không tìm được tại sao con nhỏ này lại dốt và thô kệch. Bác sĩ hỏi bà làm gì và dạy con như thế nào? Bà trả lời là bà đi buôn vàng bạc cả ngày nhưng rất có hy vọng cho con và vì thế đã đặt tên con là Nguyễn thị Kim Ngân. Bác sĩ chụp ngay cơ hội này và nói: “đúng rồi, chạy theo vàng bạc cả ngày, có biết gì để dạy dổ con đâu thì nó dốt nát, thô kệch là đúng rồi, có gì mà than phiền. Bà này chưng hửng đem con ra về.

Bà thứ ba gương mặt hồng hồng (hồng diện …), cay cú. Thằng con khoảng 7,8 tuổi cũng giống mẹ: lầm lì, không nói và nham hiểm. Bà đã nghe  hai mẩu đối thoại trước và cũng an tâm vì chuyện giáu có, vàng bạc chắc không liên quan đến bệnh của con bà. Bác sĩ hỏi chắc cũng bệnh ngu dốt, nhác học chứ gì? Bà trả lời : thưa bác sĩ , đúng, nhưng nó còn có thêm tánh lầm lì nữa. Có kinh nghiệm từ hai lần trước BS hỏi ngay: Cháu tên gì? Dạ tên là Trần Đại Q. Đại Q? Vâng Đại Q, thưa bác sĩ. BS bực tức nói: Trời, chẳng lẻ cái gì to lớn bà thích cũng đặt tên cho con sao? Tự hào lắm sao? Ô, như vậy là bác sĩ không biết gì cả. Chỉ cần cháu nó sau này đứng thứ hai sau Lao Ái thôi thì không chỉ dòng họ nhà tôi mà toàn đảng cọng sản chúng tôi cũng lấy đó làm niềm tự hào lớn lao nhất. Đến đây thì BS lắc đầu bảo bà đem con về đi, bệnh này tôi chửa không được đâu.

Bà thứ tư, sau khi nghe bà thứ ba nói, có vẽ bị chao động dử dội, nhưng cũng liều đem thằng con vào. Bác sĩ ngạc nhiên nhìn đứa trẻ 6,7 tuổi nhưng đầu đã hói, móp và hơi nghiêng về một bên, cặp mắt lép và chuyên nhìn xiên, liếc xéo. BS hỏi nó có lai tàu không? Bà mẹ nổi đóa nói: sao? Ông bảo tôi lén chồng nằm với tàu khựa chăng? Tôi nói cho ông biết chỉ riêng thằng này là 100% ma dê in ViệtNam đó. Thôi được, vậy cháu tên gi? Cháu nó tên Nguyễn Xuân Phuck, được không? “Ủa 100 % ma dê in ViệtNam mà sao tên phát âm lại giống tiếng Mỹ thế? Cái gì chứ cái thích này thì bà rất là không nên lấy đặt tên cho con … tôi không thể”  … “Thôi, thôi, không cần nữa”, bà giận dử cắt ngang lời ông BS, “Phuck, mình về ngay đi con, bố đang chờ mẹ ở nhà đó” …

Ông bác sĩ bệnh viện Bạch Mai lắc đầu chán nản lẩm bẩm, mấy người mẹ không tư cách này, kiến thức dạy con không có, cọng thêm cái gin (gene) ngu dốt và thâm hiểm này, sau lớn chúng sẽ là những đại họa cho dân tộc Việt Nam

Võ Tịnh Trí

304Đen - Llttm

 

Thư Không Niêm Gởi Bạn Về Vui Chơi - Trần Văn Lương


 Thư Không Niêm Gửi Bạn Quay Về Vui Chơi.


(Thay lời một vị thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đang kẹt ở VN gửi người bạn cũ ngày xưa đã vượt biên nhưng nay lại viện dẫn đủ mọi lý do để về vui chơi)
 




 
 
 
 
 
 
 
 
Gửi nhờ tập vé số trên tay,
Chống nạng đến đây để gặp mày.
Chới với thấy mày ngồi giữa quán,
Đang cùng bầy cán bộ vui say.

Không muốn bị mang tiếng quấy rầy,
Khi lòng đang thất vọng chua cay,
Nên đành mượn tạm vài trang giấy,
Viết bậy đôi câu gửi tới mày.

*

Mày hãy cùng tao nhớ lại ngày,
Cùng mày trong bóng tối chia tay,
Mày thề rằng nếu Trời cho thoát,
Mày ắt không quên mối hận này.

Từ đó, trong đau đớn dập vùi,
Bọn tao mòn mỏi đợi tin vui.
Ngờ đâu hạnh phúc lùi xa mãi,
Nghĩ đến quê hương lại ngậm ngùi.

Mày trở về chơi đã lắm lần,
Lúc thì viện cớ gặp người thân,
Lúc theo "từ thiện" tìm danh vọng,
Hí hửng vô tròng bọn ác nhân.

Hàng vạn hàng trăm các hội đoàn,
Tranh đua làm thiện thật gian nan.
Hân hoan vì chút hào quang giả,
Họ đã an nhiên giúp bạo tàn.

Mày cũng lần theo đóm múa may,
Hết quà lại cáp phát rền tay.
Tiền Tây, tiền Mỹ xài như rác,
Lầu các thi nhau mọc dẫy đầy.

Mày biết dân đây được những gì,
Khi đoàn cứu trợ đã ra đi?
Đất đai ngập lụt, nhà tan nát,
Ngơ ngác trên tay một gói mì!

Biết chăng vì những đứa như mày,
Sự thật quê nhà chẳng chịu hay,
Hãnh diện ta đây về "cứu viện",
Nên bầy quỷ đỏ hiện còn đây.

Mày có biết mày đã tiếp tay,
Nuôi dân cho chúng để rồi nay,
Chúng càng thêm có đầy phương tiện,
Để khiến dân ta mãi đọa đày.

Cả bầy chúng vẫn sống xa hoa,
Xuất ngoại đầu tư, sắm sửa nhà,
Con cái tiêu ra hàng bạc triệu,
Đồng tiền đó liệu lấy đâu ra?

Mày so với chúng được bao lăm,
Tỷ phú tiền Tây chúng cả trăm.
Của cải một thằng trong Bắc phủ,
Thừa nuôi dân sống đủ nhiều năm.

Phải chăng vì cật ấm cơm no,
Mày lại mơ màng chức vị to,
Nên mới trở cờ o bế giặc,
Qua sông ngoảnh mặt với con đò?

Tao xót xa nhìn lũ bạn thân,
Ngày xưa vượt biển lắm gian truân,
Nay khuân tiền bạc về quê cũ,
Góp sức nuôi bè lũ hại dân.

Bạn mình giờ lắm kẻ giàu sang,
Áo gấm xênh xang rộn xóm làng.
Có đứa vênh vang bằng cấp lớn,
Hùa theo lũ ngợm chống Cờ Vàng.

Có thằng may mắn lắm đồng ra,
Thơ thới về đây, bỏ vợ nhà.
Có đứa làm sui gia với giặc,
Ra ngoài trở mặt líu lo ca.

Thấy miệng mày thoa mỡ nói năng,
Lòng tao chua xót chợt hay rằng,
Xuống thuyền mấy đứa đêm hôm đó,
Giờ đã "vinh quy" đủ bấy thằng!

Tao tưởng bao năm ở nước ngoài,
Chúng mày phải biết rõ hơn ai,
Ngày ngày đọc thấy nhiều tin tức,
Sao lại vô tâm được thế này?

Lần cuối cho tao nói một lời:
Nếu còn người trở lại ăn chơi,
Đua đòi danh lợi, buôn "từ thiện",
Thì chớ mơ chi chuyện vá trời.

*

Nắng chiều cuốn xác lá trôi,
Bóng đôi nạng gỗ đơn côi ngược dòng.

Trần Văn Lương
304Đen - Llttm

 

Giặc Mùa - Hoàng Long Hải



Giặc Mùa

 


Năm 1787, Nguyễn Ánh (sử gọi là Nguyễn Vương) từ Xiêm La về chiếm đất Gia Định (tên gọi chung miền Nam hồi bấy giờ), củng cố việc cai trị rồi cho quân đánh phá đất Qui Nhơn là căn cứ địa nhà Tây Sơn. Đích thân Nguyễn Ánh ra đánh Qui Nhơn ba lần, kéo dài khoảng chục năm. Tuy nhiên, cứ mỗi năm, Nguyễn Ánh cho binh tướng giong thuyền ra đánh phá, quấy rối nhà Tây Sơn vài bận.

            Việc quân lính Nguyễn Ánh ra đánh miền Trung là phải dùng thuyền, nên phải chờ tới gió mùa. Về mùa đông, gió mùa đông bắc (gọi là gió Bấc) thổi mạnh, thường có gió lớn, có khi có bão, lại rét buốt thì binh lính được nghỉ ngơi. Chờ khi hè tới, có gió mùa tây nam thổi tới. Gió nầy gọi là gió Nồm, hay còn gọi là gió Nam (“May được nồm nam cơn gió thổi”  – “Con cuốc vào hè” – Nguyễn Khuyến), thuận buồm xuôi gió, quân chúa Nguyễn ra đánh phá vùng Qui Nhơn.

Vì chờ có gió mùa thổi mới đem quân đánh nhau, nên sử gọi là “giặc mùa.”

Người dân thấy cảnh anh em nhà Tây Sơn tranh giành nhau, cũng ngán. Vã lại xứ Đằng Trong là đất đai chúa Nguyễn, do các chúa cho khai phá mà có, nên lòng người còn nhớ ơn chúa Nguyễn lắm. Sau khi bị nhà Tây Sơn đánh đuổi năm 1775, chúa Nguyễn chạy vào Nam, người dân vẫn mong có ngày chúa Nguyễn lại trở về, nên hồi đó có câu ca dao:

Lạy trời cho nổi gió Nồm

Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra.

            Đó là nói chuyện giặc mùa ngày xưa.

            Thời kỳ tôi ở Rạch Giá – Kiên Giang, cũng có giặc: hai bên Quốc Gia – Cộng Sản đánh nhau theo mùa, tôi cũng gọi là “Giặc Mùa”.

            Về Kiên Giang được ít năm, theo dõi tình hình Việt Cộng hoạt động ở đây, tôi nói với nhân viên:

“Mình đi đánh giặc ở đây cũng là giặc mùa. Tới mùa cày, (tiếng địa phương), chúng nó (tức là Việt Cộng) thua thuế máy cày; tới mùa lúa (tức mùa gặt, tiếng địa phương), chúng nó thu thuế nông nghiệp. Cứ mấy chỗ có máy cày đang cày, mấy cái cà-tang (chỗ gom lúa) mà rình tụi kinh tài, thế nào cũng trúng mục tiêu. Chắc ăn.”

            Kiên Giang đất rộng người thưa, tình hình hơi yên ổn một chút, mặc sức làm ruộng, dân chúng tương đối sung túc. Việc làm ruộng ở đây cũng theo mùa, mỗi năm có hai mùa: Mùa cày và mùa gặt, – thường gọi là mùa lúa -. Tụi Việt Cộng cũng theo đó mà thu thuế. Chúng nó thu “ác” lắm, dân tình nhiều khi không khỏi ức lòng, “chảy nước mắt”.

            Ở vùng Cái Sắn, bên phía kinh Thạnh Tây (dinh điền Cái Sắn phần lớn nằm dọc theo kinh Thạnh Đông. Kinh nầy chạy theo trục lộ Rạch Giá – Hà Tiên. Phía Cờ Đỏ, thuộc Long Xuyên, cũng có một con kinh song song với kinh Thạnh Động, tên là kinh Thạnh Tây. Tới mùa lúa, sau khi gặt xong, lúa gom lại thành vòng tròn rồi cho xe máy cày chạy cán lên lúa, hột lúa rời ra. Sau khi xóc rơm quăng đi, lúa gom hàng đống, có đống cao như ngọn đồi, người ta gọi là cà tang lúa. Cà tang, có lẽ là tiếng Miên.

            Đêm khuya, Việt Cọng từ phía Thạnh Tây, Cờ Đỏ tìm ra mấy cà tang lúa bắt chủ ruộng đóng thuế nông nghiệp. Không ai muốn yên thân mà không đóng thuế cho Việt Cộng được. Không đóng thuế thì bị chúng bắt, bị tù, có tiền chuộc mới được tha. Khi tôi về vùng nầy khoảng từ cuối 1972 đến khi “đứt phim”, chưa thấy ai bị giết, có lẽ kinh nghiệm sống cho người dân biết phận mình là phải đóng thuế, chẳng ai tránh được.

            Bên phía tây, là xã Tân Hội, quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang thì dân làm ruộng bên phía đồng Huệ Đức (quận Huệ Đức, tỉnh Long Xuyên). Đồng Huệ Đức sát xã Tân Hội. Tình cảnh dân chúng cũng vậy. Chuyện bên nầy, tôi sẽ kể sau, khi tôi viết về xã Tân Hội. Độc giả muốn đọc xin chờ bài sau.

            Nói chung, toàn bộ tỉnh Kiên Giang – tỉnh lúa gạo và cá, tình cảnh dân chúng giống nhau. Tư Trạng, quê ở Vàm Rầy, xã Đức Phương, quận Kiên Lương, có kể nhiều chuyện cho tôi nghe. Trước hết là chuyện Tư Trạng làm nghề chủ dựa (vựa) tràm.

            Nhà Tư Trạng kế nhà chị Tư Nết. (tên Tây là Annette). Dân chúng không rành tiếng Tây, gọi tắt là chị Tư Nết, vì “chị” ấy thứ Tư, con ông chủ Ri (tên Tây là Henry – dân chúng cũng gọi tắt). Nhà ông chủ Ri ở Vàm Rầy đã bị phá mất, chỉ còn cái nền gạch và mấy ngôi mộ trắng nằm gần đó. Hằng năm có người chăm sóc, sơn quét đàng hoàng.

Hồi nhỏ, Tư Trạng cắp sách đi học với chị Tư Nết trong ấp nên hai người có quen biết nhau. Tò mò về gia đình vợ ông đại tướng thủ tướng, tôi hỏi chuyện Tư Trạng nhiều lần, khi anh ta bị bắt giam vì tội làm giao liên cho Việt Cộng.

            Làm giao liên cho Việt Cộng?!

Nói nghe dữ dằn, to chuyện chớ có gì đâu, chẳng qua là sự việc như vầy:

            Thời Tổng thống Ngô Đình Diệm “lãnh đạo Quốc gia”, Tư Trạng làm lính Bảo An, bị Việt Cộng bắn bị thương, què một tay. Về quê ở Vàm Rầy, Tư Trạng làm nghề chủ dựa (vựa) tràm. Dân vào rừng đốn tràm, về bán lại cho chủ vựa. Chủ vựa gom lại, chờ người đến mua chở lên Saigon để người ta đóng cừ làm nhà. Trong Nam người ta đóng cừ bằng tràm. Ngoài Trung, ngoài Bắc đóng cừ bằng tre. Tre cũng như tràm đóng xuống đất, cả trăm năm không mục, nhà khỏi bị lún.

Công việc đốn tràm, nói nghe thì dễ, nhưng khó khăn lắm.

Mùa đông không ai đi đốn tràm, mưa gió cực khổ. Tới mùa hè mới đi đốn tràm nhiều. Cây tràm ở trong rừng tràm, ai có sức thì cứ vô trỏng mà đốn, chẳng cần phép tắc gì của phía Quốc Gia cả, xã cũng như quận, tỉnh. Chỉ lâu lâu, mấy thầy chú viên chức xã ấp, cảnh sát đi nhậu thì xin ông chủ vựa ít tiền mua mồi hay mua chai rượu trắng hay két bia; có khi họ cùng nhậu chung, vui vẻ cả làng. Chẳng thấy ai thắc mắc. Về phía Việt Cộng mới khổ. Trước hết là không cho đốn tràm. Chúng nó phổ biến câu:

Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ

Đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà

            Chiến sĩ nói ở đây là Việt Cộng, du kích, hạ tầng cơ sở, xã đội, huyện đội, v.v… Bị chụp cho cái mũ “Rước Mỹ về nhà” là tội “phản cách mạng”, “Việt Gian bán nước”, chỉ có nước chết mà thôi!

            Thực ra, Việt Cộng không cho đốn tràm là vì hai lý do:

            Trước hết là chỗ tụi nó ẩn núp, di chuyển. Dân chúng đốn tràm làm nhiều chỗ rừng tràm thưa ra, Việt Cộng khó được chỗ ẩn núp, che dấu tốt. Thứ hai, đốn tràm mà không đóng thuế, thì bọn chúng mất quyền lợi. Khi chúng bắt được dân đốn tràn lậu (lậu là với chúng nó), một là tịch thu dao rựa, có khi bị tịch thu xuồng, bị cưa xuồng ra làm hai. Đây chỉ là thứ xuồng ba lá, chèo tay. Có khi chúng nó bắt dân đem vô rừng giam, vô mật khu, đã có người bị bắt đi, ba bốn năm không nghe tin tức gì. Chắc là “xong đời” rồi.

Nói về quyền lợi, không hẳn là “quyền lợi cách mạng” đâu mà nhiều khi chính là quyền lợi riêng của đám cán bộ, cơ sở hạ tầng. Chỉ có bà con thân nhân của chúng, chúng mới cho đốn tràm. Đốn tràm phải “đóng thuế cho cách mạng”, “góp phần đánh thắng Mỹ, Ngụy” như chúng tuyên truyền, hoặc phải tiếp tế cho chúng. Hàng đem vào cho chúng là thuốc rê (cho du kích), thuốc điếu Ruby (cho cán bộ), bột ngọt, càphê, đường, muối, vải vóc, xà bông, khăn lau mặt, khan tắm … Riêng phần chủ dựa (vựa) lâu lâu nhận được cái tin nhắn, hay cái thư viết tay, nhắc nhở phải “đóng thuế cho cách mạng”.

            Cũng đôi ba lần, Tư Trạng đóng thuế cho chúng mà không báo cáo với phía Quốc Gia. Vậy Tư Trạng có tội, bị Quốc Gia bắt là ở điểm đó.

            Nói chung, ai làm giao liên, đóng thuế, tiếp tế cho Việt Cộng đều bị Quốc Gia bắt cả, nếu họ không khai báo với chính quyền xã, ấp. Dân quê thì đã dốt mà lại nhát gan, nghĩ là mình có đóng thuế, tiếp tế, Quốc Gia không biết thì thôi, ai lại “Lạy ông tui ở bụi nầy” cho thêm phần rắc rối, lôi thôi, nhiều chuyện, có khi ngồi tù lãng xẹt.

            Dân đốn tràm, nhiều khi cũng ức tình vì tụi Việt Cộng bất công, nên lén lút báo tin tức Việt Cộng cho Quốc Gia hay mấy đứa “có thân nhân theo Việt Cộng” đốn tràm thả giàn, muốn bao nhiêu đốn bấy nhiêu, chở khẳm ghe, còn “tụi tui” phải đóng thuế từng cây tràm, sót một cây cũng không được với chúng, lại còn mấy thằng dê…”.

“Dê thì tụi nó làm chi mày?” Nghe hỏi, cô gái mắc cở, ngó đi chỗ khác, cười.

            Thằng Tư Sang mới tệ. Vợ nó ở thị trấn Hà Tiên, nó làm du kích ở đường giây 1-C, trên kinh Kháng Chiến. Con Hoa, con gái mới lớn, con ông Tư ở ấp Lung Lớn, cựu can phạm, đi đốn tràm trong rừng, bị nó đè ra hiếp dâm. Không cho nó hiếp, nó không cho đốn tràm. Vậy mà khi vợ nó vô rừng thăm, nó còn kể cho vợ nghe. Con vợ nổi tam bành, tới nhà con Hoa đánh ghen, chưởi cho con nhỏ một trận, khiến con Hoa mắc cở với hàng xóm, mấy ngày đóng quán càphê, không dám mở cửa bán, sợ chòm xóm người ta cười.

Vợ chồng ông Tư cũng xấu mặt với dân trong ấp. Và lại còn sợ chính quyền quốc gia, sợ xã, ấp nữa. Họ biết có liên hệ với Việt Cộng, sẽ bỏ tù. Đã bị Việt Cộng hiếp dâm, lại còn sợ Quốc Gia bỏ tù! Còn cái khổ nào hơn cái khổ nầy?!

            Biết tụi nó tiếp tế cho Việt Cộng, nghĩa quân, thám báo chi khu, cảnh sát, có khi phối hợp, có khi “làm ăn riêng”, chận  bắt.

            Chuyện bắt giao liên đâu có dễ. Năm, sáu giờ sáng, dân đã chèo xuồng vô đồng. Muốn bắt, lính tráng phải dậy từ hai, ba giờ, lặn lội vô trong kinh, chờ dân đi ngang, xem đúng mục tiêu mới hô dừng lại xét. Chưa kịp xét thì bọn giao liên tiếp tế đã thả hàng xuống nước, trôi mất, lại mất công toi!

Giả như có bắt được thì họ khai là mang theo để dùng. Ra tới Ủy Ban An Ninh cũng tha mà thôi. Mọi việc rồi cũng như cũ, chán vô cùng. Nhưng không lý cứ để cho tiếp tế, dân không thấy kết quả, chẳng thèm báo cáo với xã ấp nữa. Việt Cộng ăn cho no, ngủ cho ngon, đủ thứ càphê, thuốc lá đã đời rồi cầm súng đi phục kích bắn phe ta?

            Tư Trạng bị bắt vì có người khai y ra. Số là vì Việt Cộng “lập chiến công mừng sinh nhật bác Hồ” nên đêm 18 rạng ngày 19 tháng 5 năm 1974, huyện đội Hà Tiên tấn công xã Vàm Rầy, không chiếm xã vì xã nầy không có trụ sở. Không phá trụ sở xã thì chúng bèn phá trường học. Trường sơ cấp xã có ba lớp, bị B-40 bắn sập cả ba. Cuộc Cảnh Sát và Phân Chi Khu đóng chung trụ sở, thiếu úy Trực, phân chi khu trưởng, cùng thiếu úy Phan Trí Huệ, trưởng cuộc Cảnh Sát, hai người lảnh chung một quả bêta, cùng chết với nhau. Đại úy Danh Lol, trưởng ban 2 Chi Khu Kiên Lương, kéo trung đội nghĩa quân về đầu cầu Vàm Rầy cố thủ ba ngày, Việt Cộng không tiêu diệt được, bèn rút chạy khi bị một tiểu đoàn của trung đoàn 16 tới giải tỏa.

            Sau trận đánh, nhiều người bị phe Quốc Gia bắt. Bắt người nầy, người nầy khi người kia, người kia khai người nọ, tùm lum. Tư Trạng cũng “dính chấu”.

            Tư Trạng kể:

            – “Hồi xưa tui làm lính mà khỏe. Bây giờ bị thương về làm dân khổ lắm ông ơi! Một cổ hai tròng. Muốn làm ăn thì phải đóng thuế, tiếp tế cho mấy chả ở trỏng. Đóng thuế, tiếp tế thì bị Quốc Gia bắt bỏ tù. Tiếp tế còn nhẹ tội. Đóng thuế như tui, tiền lớn, đâu dám khai với Quốc Gia, sợ bị tội nặng nên phải dấu. Tụi nó ở trỏng thâu thuế ác lắm, đâu có vừa chi.”

            “Ông nhớ con Sáu Lánh không? Tui làm chưa tới mười công ruộng mà cha con nó bắt đóng thuế nông nghiệp năm chục ngàn. Năm chục ngàn, đâu phải nhỏ, coi như hết ba phần tư huê lợi rồi. Tui không chịu đóng, cha con nó giữ ghe tui lại ba ngày, lúa không phơi được, bị ẩm, hư hết. Khóc chảy nước mắt! Cha con nó cùng xóm với tui, lạ chi nhau. Vậy mà theo mấy chả ở trong rồi làm khó dân, đòi cho được tiền, nói là tiền của “cách mạng.” Cách mạng chi? Biết nhau quá mà. Mặt mũi nào! Cuối cùng, tui phải chạy tiền cho cha con nó để đem ghe đem lúa về. Chuyến đó coi như lổ trắng tay.”

            Sáu Lánh, Phan Thị Lánh là con gái Bảy Lơi, – Phan Văn Lơi -, trước kia nhà cũng ở Vàm Rầy. Khi Sáu Lánh 16 tuổi, mê cải lương, một tối thứ bảy, tới nhà Tư Sậm ở cuối “Xóm Biển” coi cải lương trên TV. Khuya về, bị con trai Tư Sậm đè ra hiếp dâm trong trường học. Cha là Bảy Lơi thưa kiện tới tòa án Kiên Giang nhưng không có kết quả, không được bồi thường gì hết, trong khi con trai Tư Sậm vẫn nhởn nhơ vui chơi. Nhà Tư Sậm, chủ bốn cái ghe đánh cá, có tiền lo lót xong đâu đó cả rồi nên bình chân như vại.

            Tức mình, Sáu Lánh bỏ vô bưng theo Việt Cộng. Được ít lâu, thấy theo Việt Cộng có cơ khấm khá, vừa có tiền, vừa có quyền nên Sáu Lánh rủ cha cùng theo.

            Cuối năm 1974, dân Vàm Rầy báo tin Bảy Lơi bị máy bay trực thăng bắn bị thương, đang điều trị ở bệnh viện tỉnh Châu Đốc.

Uở! tại sao Bảy Lơi không về nằm bệnh viện của Nguyễn Tấn Dũng. Bảy Lơi chê Ba Dũng kém tay nghề giải phẩu hay Bảy Lơi chỉ là du kích, cán bộ kinh tài xã, không đủ “tiêu chuẩn” để điều trị tại bệnh viện huyện đội.

            Phe Quốc Gia biết tin, nhưng đường sá xa xôi, đò giang cách trở, chẳng muốn qua Châu Đốc nắm đầu Bảy Lơi về trị tội. Dù có công khó đi xa bắt về, ra tới Ủy Ban An Ninh tỉnh, biện lý cũng tha nên cho chìm xuồng câu chuyện Bảy Lơi.

            Nghĩ lại phe Quốc Gia cũng buồn cười. Dân của mình, theo Việt Cộng, cũng chẳng có biện pháp chi. Việt Cộng bị thương thì lo chăm sóc, điều trị vết thương cho mau lành. Lành rồi, nó lại vô bưng cầm súng đánh lại mình!

            Cộng Sản thì “cách mạng triệt để”, phe ta thì ba lơi khơi. Nghĩ cho cùng, thua cũng phải!!!

hoànglonghải

(Từ “Hương Tràm Trà Tiên”)

304Đen - Llttm

 

 

Đà Lạt Một Thời Hương Xưa - Người Thổi Hắc Tiêu... - Nguyễn Vĩnh Nguyên


Đà Lạt một thời hương xa: Người thổi hắc tiêu cho hoa lan

 


    Năm 1955, sau những thất bại trên chính trường, nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) suy sụp tinh thần. Ông nghiện rượu, mắc chứng đau bao tử và trầm cảm nặng. Đà Lạt được ông chọn làm chốn nương náu vì khí hậu tự nhiên hứa hẹn tốt cho sức khỏe, phần nào xa lánh thời cuộc đảo điên gây khổ não. Lúc mới đến Đà Lạt (1955), Nhất Linh cùng cậu con trai út - Nguyễn Tường Thiết - và con gái Nguyễn Kim Thoa thuê phòng ở tại số 12 đường Yersin (gần Hotel Du Parc)

Nhà văn Nguyễn Tường Thiết viết trong cuốn hồi ký Nhất Linh cha tôi: “Nhất Linh chơi lan công phu hơn những người khác vì ngoài việc tầm lan ông còn ra thư viện tra cứu hoặc đặt mua từ bên Pháp các sách ngoại quốc viết về hoa phong lan, rồi tỉ mỉ phân loại, so sánh với hoa ở địa phương. Ông lại vẽ từng đóa hoa một, đặt tên và ghi chú từng đặc tính, với dụng ý sau này làm tài liệu viết một cuốn sách. Chiều nào ông cũng thổi hắc tiêu, nói là thổi cho lan nghe. Ông thổi bản J’ai rêvé de vous. Vous đây chính là đám hoa quấn quýt xúm lấy ông, nào là Nhất điểm hồng, Huyết nhung lan, Bạch hạc, Tím đồi mồi, Hoa cô dâu, Bạch ngọc, Thanh ngọc, Văn bao... thứ treo trên vách, thứ cắm trong chậu, thứ bày trên bàn.
 


Mỗi chiều thứ bảy, ông lại tổ chức hòa nhạc tại gia, ngoài tiếng hắc tiêu của ông, lại có sự phụ họa lục huyền cầm của Giáo sư Vĩnh Tường, khiến khách đi đường phải dừng chân trước khách sạn Du Parc, kẻ ngừng xe hơi, người ghếch xe đạp, để lắng nghe tiếng nhạc hòa tấu vẳng ra từ căn lầu nơi góc đường Yersin trong bầu không khí êm ả yên tĩnh của buổi chiều Đà Lạt”.

Chỉ sau một thời gian ngắn, chỗ ở trên đường Yersin đã trở nên quá chật hẹp, không đủ thỏa mãn để mở rộng chỗ trồng lan, nơi phố xá cũng không tiện cho sự phát triển của loài địa lan (còn gọi thổ lan) cần lối chăm chút cầu kỳ, cha con Nhất Linh chuyển sang sống trong căn biệt thự số 19 đường Đặng Thái Thân - căn biệt thự của ông Lê Đình Gioãn - một chủ gara xe ở Sài Gòn và là bạn chơi lan rất thân của Nhất Linh để lại.

Những người bạn tìm thấy sự giao cảm với Nhất Linh qua thú chơi lan hoặc đến giao du chuyện trò với ông thời kỳ này có thể kể: ông Lê Đình Gioãn, bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm từ Sài Gòn lên, bác sĩ Nguyễn Sỹ Dinh và ông Lê Văn Kiểm - người rất mê chụp ảnh (hầu hết những hình ảnh về Nhất Linh trong giai đoạn này đều do ông Kiểm chụp và lưu giữ).

Rất nhiều người trong giới văn bút, trí thức từ Sài Gòn cuối tuần lên Đà Lạt du hí tìm cách lai vãng đến căn biệt thự của Nhất Linh. Có cả những người tìm đến với biệt thự không chỉ vì lan. Nguyễn Tường Thiết kể trong hồi ký rằng, có hôm, tướng Dương Văn Minh đã đến gặp Nguyễn Tường Tam đàm đạo về lan, thực chất là thăm dò ý định chính trị. Bản thân Nguyễn Tường Tam thời kỳ này cũng không phải đã dứt hẳn những khắc khoải của một trí thức từng là chính khách.

Năm 1957 có thể nói là thời điểm Nhất Linh dấn xa nhất vào cuộc sống của một ẩn sĩ. Ông mua một lô đất nằm ở vùng suối Đa Mê (Phi Nôm, nay thuộc H.Đức Trọng), dựng căn nhà gỗ có tên Thanh ngọc đình - tên loài hoa lan mà ông yêu thích, và làm nông, viết trường thiên tiểu thuyết Xóm cầu mới. Hằng tuần, các con Nhất Linh từ Đà Lạt về đây mang theo những tập giấy trắng không kẻ hàng và mỗi lần trở lại, thấy đã phủ kín những dòng chữ nhỏ li ti. Nguyễn Tường Thiết gọi đây là thời kỳ hạnh phúc nhất trong cuộc đời đầy sóng gió của cha mình.

Một cơn bão lớn vào cuối 1958 thổi qua những cánh rừng Đa Mê, biến Thanh ngọc đình của tác giả Đoạn tuyệt sụp đổ hoàn toàn. “Một điềm xấu” - nhà văn đã nghĩ như vậy (hay sự chộn rộn với cuộc thế lúc bấy giờ đã khiến ông tìm cách kiến giải về cơn bão cuộc đời mình theo chiều hướng đó). Ông thẫn thờ nuối tiếc nhìn ngôi nhà chỉ còn trơ nền móng, gỗ đá ngổn ngang.

Nhất Linh đã không còn được tĩnh tại ngồi lại với văn chương lâu hơn. Ông rời Đà Lạt về Sài Gòn và ném mình vào thế cuộc chính trị, trở lại tư cách một trí thức dấn thân để rồi cuối cùng chủ động chọn một kết cục đầy bi thảm.

Nguyễn Vĩnh Nguyên
(Trích từ Đà Lạt, một thời hương xa - Du khảo văn hóa Đà Lạt 1954 – 1975)

304Đen - Llttm

 

Sunday, October 23, 2016

Cũng Còn Đó Nợ Nhau - Thuyên Huy


Cũng Còn Đó Nợ Nhau

Chuyện được viết bằng tưởng tượng, mọi trùng hợp vô tình nếu có là điều ngoài ý muốn của người viết.

 



    Từ Suối Đá, gia đình Thịnh dắt nhau ra Gò Dầu, được một người bà con xa, ba Thịnh kêu bằng chú, chú tư Đặng, cho tạm cất cái nhà tranh nhỏ, trên miếng đất xéo góc sau, sát bên con đường lộ, đất đá lồi lõm, đi về hướng mấy cái ấp trong, không xa ngã ba quốc lộ lên Tây Ninh, ngay cửa chi khu quận bao nhiêu. Ba mẹ Thịnh vốn đã nghèo, giờ lại nghèo hơn, hai vợ chồng từ ngày bỏ nghề phu cạo mủ ở ngoài Xa Cam, bồng Thịnh, chưa đầy một tuổi, trôi giạt về đây, may có người chủ đất tử tế, cho mướn mấy miếng ruộng gò, tới mùa, lúa gặt xong, có nhiều trả nhiều, có ít trả ít, lam lũ năm này qua tháng kia, tạm đủ ăn ngày hai bữa, cũng  được mấy năm, nhưng không may, đám ruộng hai người đang làm, phải trả lại cho bà con của người chủ đất, vì ông bị bệnh nặng qua đời.
 

 


    Chân ướt chân ráo, đi qua đi lại cái bến xe lôi, xe đạp xe máy, ngoài ngã ba mấy ngày đầu,  ba Thịnh lân la làm quen, hỏi han mấy anh chủ xe cười nói, lăng xăng, người đi lên xuống, kêu réo vang rân cả một góc đường, thấy việc làm cũng không khó, ba mẹ Thịnh bàn nhau, với số tiền chắt mót dành dụm có được, sẽ nhờ người bà con cho mượn thêm làm vốn, tìm mua cái xe lôi đạp cũ nào đó để kiếm tiền sinh sống. Định vậy, chưa kịp nhờ, thì ông tư Đặng giới thiệu ba Thịnh mướn lại đám ruộng nước, bên kia cầu lớn, đường đi Bến Cầu, biên giới Miên, dọc theo bờ nhánh sông ngang chợ quận, với giá rẽ, vốn đã bỏ hoang không ai làm, của bác sáu Đậm, hiện đang làm gì đó trong văn phòng quận, cái văn phòng lớn nằm ở đầu dốc, ngã ba chợ, giữa hai dãy phố chính, ba mẹ Thịnh đồng ý ngay, vì dù sao cũng quen với nghề làm ruộng rồi, bên cạnh đó, vừa không phải bỏ ra một số vốn và vừa gần nhà, đi về cũng tiện. Hôm theo ông tư đến nhà bác sáu Đậm, để làm quen và nhận lời, một căn phố gạch hai tầng lầu, cửa sắt, hàng rào gạch cao, có cái sân trước nhiều chậu cây chậu kiểng gì đó, nằm cùng một bên với rạp chiếu bóng, ngó ra đường đi xuống bờ sông cuối chợ, hai bác Đậm còn trẻ, lớn hơn ba mẹ Thịnh chừng vai ba tuổi, niềm nở và vui vẻ tiếp, có đứa con gái duy nhất, chắc cở tuổi Thịnh, đang học lớp tư ở trường tiểu học quận, ra về, bác Đậm còn nhắc một nhắc hai, “nếu cần gì, cứ tới cho ông hay, ông sẽ giúp, đừng ngại gì hết” rồi mời mọc “thỉnh thoảng ghé lại chơi”, ba Thịnh cười gật đầu nhưng không biết nói gì hơn là hai tiếng “cám ơn”.

    Vào học trễ, vì đã học gần xong lớp năm ở Suối Đá trước khi ra Gò Dầu, vã lại Thịnh đọc viết khá rành rẻ nên được trường sắp vào lớp tư, cùng lớp với Diệu, con gái bác sáu Đậm, chủ ruộng của ba mình, hai đứa quen nhau và chơi chung với đám bạn con nhà chợ quận từ đó, nhờ cái xe đạp cũ mua ở chỗ sửa xe của một anh thương phế binh, tại góc cột đèn bến xe Gò Dầu Tây Ninh Sài Gòn, ba Thịnh “đi ruộng về nhà” đở vất vả phải “đi sớm về tối”, bên cạnh đó, nhờ chú tư Đặng cũng như ba má Diệu, giúp chuyện này chuyện kia một thời gian đầu, nên đám ruộng giờ xem ra đâu đó “đê điều” ngay hàng thẳng lối, sáng sáng, sau khi Thịnh đi học, mẹ Thịnh ngồi xe đạp theo ba qua ruộng, ngoài việc đắp bờ, nhổ cỏ bà chịu khó giăng câu, tát đìa chỗ này chỗ kia, có khi ra tới gần tận con rạch rẽ, ngó qua bên chợ, nên ngày nào cũng có cá có tép, bông súng bông sen, ba Thịnh cũng lựa một miếng đất hơi cao, không ngập nước, cày xới đất, bón chút phân làm mấy cái giàn trồng bầu mướp dưa leo và chừng chục luống rau lang rau muống cho nên, không những đủ cho cả nhà ăn mà còn mang bán lòng vòng ngoài chợ, kiếm thêm vài ba chục bạc. Đôi khi, mẹ cũng mang mấy trái bầu to, nửa rổ dưa leo tươi cứng chắc nịch và mấy con cá trê vàng mà bà tĩ mĩ lựa tới lựa lui, khệ nệ mang qua biếu cho hai bác sáu Đậm, gọi là chút quà ăn lấy thảo, những lần đó, cũng có Thịnh đi theo, hai đứa gặp nhau, “tay bắt mặt mừng” ồn ào lăng xăng, vui đùa từ nhà trong ra sân ngoài, tươi cười thỏa thích, mẹ Thịnh ngần ngại, giữ kẻ không dám ngồi lâu nhưng mẹ Diệu thì, một hai ở nán lại cho hai đứa chơi với nhau chút xíu nữa, miệng lúc nào cũng gọi Thịnh tiếng “con” nhẹ nhàng, ra về, không lần nào mà  bà sáu không đưa hai mẹ con ra tới tận cửa.

    Ngây thơ, hồn nhiên, vô tư lự, Thịnh và Diệu lớn dần theo ngày tháng, thành bạn thân hồi nào, không đứa nào nhớ, chỉ biết vắng chút xíu là thấy buồn, thấy nhớ, nhớ bâng quơ, cái sân lót đá đầy chậu hoa chậu kiểng giữa căn nhà kín cổng cao tường của Diệu và khoảng sân đất lấp xấp mưa bụi với cây ổi già, cây mận trỗ muộn, của căn nhà tranh mái lá của Thịnh, đối với hai đứa không có gì khác nhau, chỗ nào cũng vui nhiều buồn ít, sáng sớm mưa nắng gì cũng vậy, đứng chờ nhau ngay ngã ba, chưa thấy tới thì ngóng ngóng trông trông, thấy rồi thì cười toe cười toét, tay nắm tay quàng, tung tăng trên đường đến trường, chiều tan học, trên đường về nhà, cũng tại ngã ba, bước đi bước ở, xí xô xí xào, hẹn hò chuyện gì đó ngày mai, cũng nhặt hoa phượng đỏ ngày hè, bắt chước tiếng ve nhớ lớp học, cũng gom lá thu vàng, nhóm lửa sưỡi ấm góc sân trường, kỷ niệm vụn vặt cứ theo dòng đời nhiều thêm, nhiều đến nổi không làm sao kể cho hết.

 

    Xế chiều trời mưa dầm, giữa tháng mười năm Thịnh học lớp nhất, nước tuôn xối xả, dù vậy, thấy trời còn sớm, nán ở lại  làm cho xong mấy luống cải bẹ xanh sắp lớn, ba Thịnh vì lụp chụp, không để ý, trợt chân ngay bờ đất sét trơn, đạp trúng cái cán của lưỡi cày dựng ngay góc chòi, lưỡi cày sắt bén, đập vào ống chân, máu tuôn ra xối xả, ông ngã xuống dưới mặt đất lấp xấp nước mưa, mẹ Thịnh đang kéo tấm liếp lá dừa che luống cải, sát ngoài bờ đê ruộng, nghe tiếng ông thét lên, bỏ chạy ngược vào, bà ngồi xuống điếng hồn, vịn lấy chân ông khóc òa “trời ơi trời ơi”, ông run lên từng chập nhưng cố cắn răng chịu đau, bà bỏ chạy ra đường lộ, may đón được chiếc xe lôi máy, từ hướng Gò Dầu Thượng về, hai người, người cõng người nâng chân, mang ba Thịnh để lên xe, phủ tấm ni lông che mưa, rãnh nước chảy thành dòng pha màu máu từ trong ruộng ra tới ngoài, mẹ Thịnh theo xe lôi, bỏ cái xe đạp lại đó, họ đưa ông vào bệnh viện quận, trời cũng vừa nhá nhem tối. Một phần vì bị lưỡi cày cắt đứt quá sâu, một phần cũng vì nó đập mạnh quá, cho nên ống chân trái của ba Thịnh bị gãy hơn hai phần ba, sau gần mười ngày nằm băng bột trong bệnh viện, về nhà ông phải dùng nạng chống mới đi tới đi lui được, theo lời bác sĩ, xem như là “chân trái sẽ mang tật luôn, không được làm việc gì nặng, nếu không sẽ gãy lại nữa thì khó trị, có thể phải cưa bỏ đi”, ba mẹ Thịnh buồn rầu suốt mấy ngày, đi học về, không còn đứng lâu ở ngã ba, chào nhau vài tiếng rồi đi nhanh về nhà, nó lẩn quẩn bên ba, sờ qua sờ lại cái ống chân bị tật, nhìn ông lo lắng nhưng không biết là lo cái gì, cả nhà buồn thì Thịnh cũng buồn theo, vào lớp, Diệu cũng biết buồn theo từ đó, cô Huệ, cô giáo của Thịnh, đến nhà thăm hai ba lần, an ủi ông bà, nhất là chuyện học hành của Thịnh. Mẹ Thịnh giờ, một mình, đạp xe ra đồng, lũi thũi hái rau, hái trái, chuyện bán buôn ngoài chợ bữa có bữa không, ba Thịnh, chống nạn ngồi trên cái ghế đẩu trước cửa nhà chờ, nhìn xa xa bên kia sông, thở vắn than dài, buồn thiu buồn thít, ba mẹ Diệu cũng có đến thăm nhiều lần, biếu gia đình Thuận số tiền nho nhỏ nhưng ba mẹ Thịnh cám ơn không dám nhận.

   Mùa gặt xong, trước Tết vài hôm, ông tư Đặng bán căn nhà cho gia đình nào đó từ dưới Trãng Bàng lên mua, để về lại Tân Long, cù lao Rồng, Mỹ Tho, an nghỉ tuổi già, vì dù sao ở đó cũng còn có con cháu, lo mồ lo mả được, ngặt nỗi, người chủ mới muốn ba mẹ Thịnh dời đi chỗ khác vì họ định xây cái nhà rộng hơn, không có cách nào hơn. Ông tư về Tân Long ăn Tết trở lên, ra giêng, trễ lắm là cuối tháng hai phải giao nhà cho người ta, bàn với ba mẹ Thịnh, mua lại cái vườn trồng Mận nho nhỏ, có sẳn cái nhà cây lộp tôn còn tốt, dưới cù lao Rồng, không xa Tân Long bao nhiêu, giá không mắc, có gì thiếu ông phụ thêm cho, do người bạn già cũ bán lại, vì cô con gái lấy chồng về Sa Đéc, không còn ai coi sóc vã lại, cũng có mối lái thu mua khi tới mùa, mang về Trung Lương nên chuyện bán buôn không cần phải lo lắng, công việc vun sới, cắt tỉa dễ làm, không nặng nhọc như làm ruộng. Mẹ Thịnh theo ông tư đi Tân Long, vài ngày sau trở về, bàn với chồng, kiểm lại số tiền có được, ông bà đồng ý, quyết định mua vườn Mận và dọn về ở dưới lập nghiệp lần nữa.

   Thịnh theo ba mẹ bỏ Gò Dầu, chưa học hết lớp nhất, hè cũng ngấp nghé về, hàng phượng trên đường đến trường đã bắt đầu dăm ba chùm nở sớm, đâu đó đơn lẻ vài ba tiếng ve buồn gọi nhau đầu mùa ngang phố chợ, hôm chia tay, buổi sáng đứng cùng mẹ, bác gái Đậm, tiễn gia đình Thịnh, hai đứa mắt đỏ hoe, khóc sướt mướt, Diệu đưa tặng Thịnh, cuốn tập viết bài tập làm văn của mình, trong đó có bài kể tên Thịnh, mà cô Huệ đã cho mười điểm, về đề tài “tả người bạn thân của em”, nhắc “khi nào buồn, nhớ Diệu thì lấy ra đọc nghe”. Chiếc xe cam-nhông chở đồ đạc của nhà Thịnh và của ông tư Đặng nặng nề, chậm chạp, lừ đừ chạy ra đầu ngã ba, ngồi bên mẹ, Thịnh cầm cuốn tập nhìn lại phía sau, bên kia căn phố đầu ngõ rẽ, trong màn sương sớm vừa kịp tan, cũng như những buổi sáng quen, học trò từng đám lăng xăng, tung tăng đón nắng, bóng Diệu khuất dần trên con đường xuống trường, một mình và chỉ một mình, trên xe, Thịnh thúc thít một mình và cũng chỉ một mình, Thịnh xa Gò Dầu và chưa có lần nào về lại từ hôm đó.

*

    Thịnh từ quận Đức Tôn, Sa Đéc về nhận chức phó quận trưởng Hiếu Thiện, thay cho anh Danh, người khóa đàn anh về lại trường học Cao học, hôm bàn giao, tại văn phòng, bác sáu Đậm chưng hửng nhìn Thịnh, ngạc nhiên không nói nên lời, khi được gọi vào văn phòng để anh Danh giới thiệu, các vị trưởng ban, Thịnh cúi người chào cũng ngạc nhiên không ít, trong đầu cứ nghĩ là ông đã hưu trí lâu rồi, “bác sáu còn nhớ con không, thằng Thịnh, bạn của Diệu nè, ba con hồi đó mướn đám ruộng bên sông của bác”, anh Danh cười lớn, “ủa hai người quen nhau hả”, Thịnh ngó qua bác sáu Đậm, gật đầu, anh Danh tỏ vẻ khoái chí. Bác sáu Đậm bước ra, ngài ngại, quay lại nhìn lần nữa, rồi khẻ chào hai tiếng “ông phó”, Thịnh cười nhìn theo, anh Danh cũng cười nói nhỏ “dân gốc Gò Dầu về Gò Dầu là quá đả rồi”.

    Từ văn phòng ra, cuối giờ làm, Thịnh thả bộ thật chậm, đếm từng bước, theo con đường dốc lên ngã ba chi khu, nắng chiều xuống, ngã dài theo chân, bây giờ là mùa thu, mùa của cây cành khẳng khiu của lá vàng lá úa, nhìn đám học trò tan học, túa ra, nhóm năm nhóm ba, cười nói ồn ào, gọi tên nhau ơi ới, cũng con đường này, cũng hàng cây đó, bất giác Thịnh bỗng dưng muốn khóc, đâu đó, hình bóng Diệu thui thủi một mình đến trường, hôm chia tay nhau, như mới hôm nào, tiếng kèn chiếc xe lam chở hàng từ dưới chợ lên, báo hiệu người băng qua đường tránh, làm Thịnh đứng khựng lại, hai ba cô giáo trẻ đi ngang, nhìn tươi cười chào, Thịnh gượng cười đáp lại, xế ngã ba, tới nơi chỗ ở xưa, giờ là căn nhà ngói lớn, có cổng vào và cái vườn đầy cây vú sửa, Thịnh đứng ở đó thật lâu, cũng nơi này, Thịnh và Diệu, đứng chờ nhau tới trường mỗi buổi sáng, mưa nắng mặc trời, rồi nhìn lên hướng nhà bác sáu Đậm, rươm rướm nhớ, nhớ mà ray rứt buồn, buồn vô cớ và buồn vậy thôi.

    Mười mấy năm không về lại, Gò Dầu bây giờ cũng vậy, cũng nửa quê nửa chợ như những ngày Thịnh còn nhỏ, cái tiệm bán xăng ngay ngã ba đường vẫn meo mốc một màu sơn cũ bạc, rạp chiếu bóng lâu lắm rồi, bữa chiếu bữa không, con sông chia đôi bờ Thượng Hạ cứ lầm lũi hai mùa nắng trong mưa đục, mấy chiếc xe lôi, thấy nhiều hơn, đạp hay máy gì cũng bụi bám sơn phai, hàng rào kẽm gai chi khu dựng thêm nhiều lớp trong ngoài, bao cát xanh một màu ô liêu dầy đặc cổng trước cổng sau, dọc theo mấy dãy giao thông hào, cái sâu cái cạn, có thêm mấy khẩu đại bác 105 ly, nhìn trời, nhắm nòng về hướng biên giới Miên bên kia cầu, lạnh lùng nằm yên chờ. Cuộc chiến bây giờ lan rộng và căng thẳng hơn trước, trận đánh ngày càng khốc liệt, Bắc quân cộng sản từ ngoài bắc vào, giờ đóng quân nhiều nơi, bên kia đất Miên, ráo riết tràn qua, hợp lực với đám du kích miền nam, hùng hỗ tấn công đánh chiếm ấp làng hẻo lánh cho bằng được, cũng như các tỉnh nằm dọc theo biên giới, Tây Ninh bị áp lực địch nặng nề, quân VNCH không còn sự lựa chọn nào khác, bảo vệ chống trả, giữ đất giữ nhà, một mất một còn với bọn họ. Gò Dầu không xa đất Miên bao nhiêu, từ Long Thuận, Long Giang, Bến Cầu, cách mật khu Mõ Vẹt, cục R của cộng quân về, chắc không hơn năm ba chục cây số, đèn đường phố quận, vốn vàng vỏ từ những ngày thanh bình giờ cũng một màu vàng vỏ, tiếng súng tiếng bom nghe chừng như đã quen tai, lúc xa lúc gần, chợ búa, người mua kẻ bán, cũng chẳng buồn khi nhóm trễ tan sớm.

    Về chưa hơn một tuần, định sắp xếp mọi chuyện đâu đó xong, sẽ thăm hỏi bác sáu Đậm nhiều hơn, nhất là nôn nóng muốn biết Diệu hiện giờ ra sao, nhưng trúng mùa bầu cử hội đồng xã, cho nên ngày nào cũng như ngày nấy, sáng vào văn phòng, chỉ kịp chào bác một tiếng, ngồi chưa “nóng đít”, kịp liếc sơ qua mấy cái thư từ công văn, cấp trên cấp dưới, ký vội ký vàng vào mớ giấy tờ cần mà bác để sẳn trên bàn, rồi ra xe, với anh Bi, trưởng ban công vụ, có mấy anh lính nghĩa quân, súng ống đi theo, xuống lên hết ấp này qua xã nọ, trở lại quận thì trời đã ngã bóng chiều từ lâu. Hôm từ Phước Trạch về, trời còn sớm, vừa quá giữa trưa, sau khi cho mấy anh lính nghĩa quân đi theo hổm rày về nghỉ xả hơi, Thịnh lái xe “jeep” vào chi khu, người lính gác cổng, nhận ra, vẫy tay chào “ông phó”, bỏ đó như thường ngày, trở ra cùng với anh Bi vào cái quán ăn, ngay góc ngã ba, ngó ra đường vào trường trung học quận uống cà phê, tán dốc, chuyện qua chuyện lại, tiện lúc, Thịnh được anh cho biết, anh cũng thường gặp Diệu, hiện đang dạy tại trường trung học quận, có chồng là một đại úy binh chủng Dù, anh có dự đám cưới, hơn một năm nay, lần gặp mới đây là lúc quân VNCH tấn công qua biên giới Miên, khi anh này ghé qua nhà trên đường theo quân tiến qua ngả Gò Dầu Thượng, Thịnh ngồi lặng thinh, nghe lòng mình chùng xuống, anh Bi vô tình thêm “bác sáu Đậm tốt lắm, ở đây ai cần gì ông bà cũng giúp hết, nhà bác là cái nhà lầu có cổng sắt, kế bên rạp chiếu bóng, sát bên đường đi Tây Ninh, dễ biết lắm, phải ông phó hỏi trước, thì khi mình từ Phước Trạch về ngang, tôi chỉ cho”, anh Bi nói một hơi, nhưng anh đâu biết là Thịnh đã biết căn nhà đó từ lâu lắm rồi, nghe tin Diệu đã lập gia đình, nên chuyện định đến nhà thăm xem ra chắc là không nên trong lúc này nhưng trong thâm tâm, Thịnh vẫn mong có lần nào đó gặp lại, một lần gặp lại vui.

    Mãi nói chuyện với ông sư trụ trì chùa Thạnh Lâm, khi ông tạt qua nhà Thịnh, bàn chuyện kinh kệ gì đó mà anh ta đã hỏi mấy hôm trước, căn nhà anh mướn lại của nhà chùa khi mới về Gò Dầu, chủ căn nhà này là người em bà con sao đó với vị sư, đã dọn xuống Sài Gòn làm ăn, để lại cho ông trông coi, như là một tặng vật tặng lại cho chùa, nằm bên kia đường, ngay cổng chính của chùa ngó qua, Thịnh ra tới văn phòng hơi trễ, không thấy bác sáu Đậm, vào trong, đóng cửa phòng, ngồi xuống ghế, ngó ra cửa sổ nhìn trời, nắng sáng rực trên nóc phố chợ rong rêu, tiếng học trò la hét trong giờ ra chơi nghe rõ mồn một, cô Liên, thư ký gỏ cửa  nói vọng vào “thưa có người muốn gặp ông phó”, Thịnh định đi ra nhưng nghe tiếng cô trả lời với ai đó “dạ em cũng khỏe, bác bữa nay bệnh hả chị”, nên đứng khựng lại một chút xíu, rồi mới  bước tới mở cửa. Diệu ngồi đó, hai người lặng thinh nhìn nhau một lúc, ngạc nhiên không ít, thốt lên cùng một câu “cứ tưởng là không có ngày gặp lại”, kỷ niệm những năm xưa còn bé, bỗng chốc hiện về, lớp học, con đường, tiếng ve, hoa phượng, cái ngã ba, cái tay nắm tay quàng, cây ổi, chậu kiễng, và nhiều nữa tưởng chừng như mới hôm qua, hết người này tới người kia, hết chuyện này tới chuyện nọ, nhất là bài tập làm văn tả tình bạn hồi năm lớp nhất, nhưng chợt biết rằng, chỉ là một chút gì nhớ để mà quên, cái lần mong gặp lại nào đó chợt đến rồi chợt đi, mang vui đi theo bỏ buồn buồn ở lại, bác sáu Đậm, hôm đầu gặp Thịnh ở văn phòng, về nhà nói lại cho bác gái và Diệu biết tin, cả nhà đi ra đi vào, không ai bàn ra bàn vào một tiếng, không có giờ dạy sáng nay, sẳn dịp bác sáu Đậm bị cảm, không đi làm, cô quyết định tạt ngang văn phòng, cũng như Thịnh, Diệu cũng mong có lần nào đó gặp lại, một lần gặp lại vui. Cửa mở, có tiếng người nào đó hỏi xin được gặp ông phó, Thịnh nhìn ra, cũng đã lâu, cả hai cũng không biết nói gì thêm, Diệu đứng lên, tiễn cô ra tận ngoài cửa văn phòng, Thịnh cười chào “chúc Diệu được nhiều hạnh phúc”, bước xuống bậc tam cấp, Diệu quay lại gật đầu mà không nói gì, qua bên kia đường, Diệu đi khá xa, gần cuối con dốc rồi, Thịnh vẫn đứng đó nhìn theo, chợ vắng người, gió giữa trưa từ hướng sông đưa lên, man mác pha chút mùi bùn, mùi bông lục bình, áo Diệu đôi tà đong đưa lất phất bay, một màu vàng của lá thu giữa mùa.

    Qua Tết, về Tân Long thăm nhà, mấy năm rồi, từ lúc ra trường, sau ngày ba Thịnh mất, vì bệnh sơ gan, tội nghiệp còn lại mẹ, một mình một thân, lủi thủi ra vào, cái vườn mận xem ra cũng thương cho người đơn lẻ, mùa nào cũng trái chín đỏ hồng, trĩu nặng chen chúc nhau trên cành to nhánh nhỏ, ít có dịp nên Thịnh ở nán lại thêm đôi ngày với bà, thay vì sớm trở lên Gò Dầu như đã tính, như thói quen của những ngày Thịnh lên trung học, hôm đưa Thịnh đi, bà mằn mò đưa thêm chút tiền gọi là để có mà xài, Thịnh cười, chợt nhớ ra gì đó, bà giữ lại, bà nắm tay anh cười ngặt nghẻo.

    Từ nhà ra, Thịnh đi theo đường dọc bờ sông, ngang qua chợ , trời gió nhẹ, thoang thoảng mùi lúa từ bên kia sang, mặt trời hừng hực một màu đỏ thẳm lên, nắng hâm hấp nóng sớm, thả bộ, thong thả “nhìn dưới nhìn trên”, bạn hàng ồn ào bày binh bố trận, “nhìn qua nhìn lại”, không lạ không quen, thấy đời cũng còn một chút vui, đám học trò nhỏ sợ trễ, réo nhau chạy băng qua đường, hai ba cậu, bốn năm cô trung học, áo dài trắng lùa nắng, người trước người sau, nhủng nha nhủng nhẳn “anh theo Ngọ về” bên kia con dốc, con dốc đi về  trường trung học quận, mà Thịnh vẫn còn có nhiều lần thơ thẩn nhìn xa xăm về hướng đó, chưa kịp bước lên thì anh Bi, chỉ đồng hồ đeo tay, từ trên cửa văn phòng đi xuống, chỉ qua cái quán cà phê hủ tiếu quen bên cạnh tiệm thuốc tây, Thịnh gật đầu rồi quay lại bỏ đi trước, trong quán nhìn ra, người lên kẻ xuống, tay gánh tay mang, xe lam xe kéo từ miệt xã ấp tới càng lúc càng đông, chợ quận lại bắt đầu một buổi sáng, Bi cho Thịnh biết anh vừa nghe một cô giáo bạn thân với Diệu, cùng dạy chung, nói lại với bà xã anh ta, làm y tá ở bệnh viện quận mà Thịnh đã gặp, khi đến nhà ăn chiều sau ngày xong vụ bầu cử hội đồng xã là “Diệu đã ly dị với chồng”. Trở lại văn phòng, cũng vừa lúc bác sáu Đậm đem giấy tờ cho Thịnh ký, hai người vào trong, bác tươi cười đứng chờ, chợt nhớ tới lời dặn tới dặn lui, đừng nói với ai là anh nói chuyện Diệu hồi nãy, Thịnh lén nhìn, xem ra bác có vẻ gì đó vui hơn ngày thường, cầm xấp giấy đi ra, chưa tới cửa, bác quay lại hỏi nhỏ “gia đình ông phó ở quê cũng khỏe mạnh hết hả, lần sau có về, cho vợ chồng tôi gởi lời thăm nghe”, Thịnh bước ra theo “dạ, mẹ con cũng khỏe, cám ơn bác”, ở cái bàn phía trong góc, anh Bi mắt tròn xoe nhìn, Thịnh lắc đầu cười, về nhà, Thịnh bổng dưng trằn trọc suốt đêm, không ngủ được, chuyện ngày xưa còn bé lại hiện về, lẩn quẩn đâu đó trong tiềm thức, nhớ tiếc cái gì đó mà không biết chắc là cái gì, sáng thức dậy theo tiếng gà gáy sớm, qua chùa, ông sư già đưa Thịnh vào chánh điện rồi bỏ đi ra, chưa có hồi chuông lễ sáng, Thịnh chấp tay, đứng trước tượng Phật, lâm râm thì thầm, thì thầm điều gì, chỉ riêng một mình anh biết.

    *

    Thịnh đứng chờ Diệu ngay tại ngã ba đường xuống chợ, rồi hai người thả bộ đến trường, học trò lớn nhỏ vừa vào học lại vài hôm, tốp năm tốp ba, ồn ào, lăng xăng trước cổng, mùa hè tiếc nuối, nấn ná chưa bỏ đi, ở một góc đường, phượng cuối mùa rụng đầy một màu đỏ bầm như xác pháo úa, bóng nắng trãi dài từ dưới phố chợ lên, hai ba cô giáo quen, dạy cùng trường đi ngang, nhìn Diệu đứng lại che miệng cười chờ, rồi quay qua Thịnh gật đầu chào “ông phó”, chẳng màng chi tới đám học trò, tay sách tay cặp bẽn lẽn, thập thò “thưa cô thưa cô”, cũng như những buổi sáng trước, chờ cho Diệu khuất sau cổng trường rồi Thịnh mới bỏ đi trở lại văn phòng quận. Về tới, đã thấy thiếu tá Đức, quận trưởng, ngồi trên xe “jeep” của ông chờ Thịnh cùng đi lên xã Thạnh Đức có chuyện cần, bên cạnh, hai chiếc xe Dodge khác, lính chi khu người đứng người ngồi nghẹt trên bực thềm, Thịnh làm dấu, đi nhanh lên văn phòng, lấy vài ba thứ đem theo,  đám lính đứng dậy, vừa né qua một bên vừa cùng chào lớn “ông phó”, trở xuống, anh Bi cũng như bác sáu Đậm cầm mớ giấy tờ gì đó trên tay, chạy vụt theo, Thịnh thò tay ký vội ký vàng, không cần đọc, vừa lên xe, chừng như nhớ ra điều gì, bác sáu Đậm, hỏi vọng theo “chiều nay ông phó có ghé ăn cơm không?”, Thịnh chưa kịp trả lời thì thiếu tá Đức, ngó lên cười khoái chí “lâu lâu cho ổng ăn cơm tối với tui một bữa đi bác, còn ở nhà thì chừng nào ăn cũng được mà”, Thịnh cũng cười theo “dạ chiều nay con ăn với thiếu tá”, mấy cái xe lôi đạp, chất đầy thúng rổ, nặng chình chịch, ngừng lại chờ, thiếu tá Đức vẫy tay chào, đoàn xe lính bỏ chạy lên dốc, trước cửa văn phòng quận, bác sáu Đậm đứng bên anh Bi, nhìn theo, nói qua nói lại gì đó, gió từ dưới sông thổi lên lùa tiếng chuông reo tan học buổi sáng, bên trường tiểu học đưa ngang qua, nghe rõ từng hồi một.

    Từ những ngày sau đó, người đã quen, người mới quen, và người sắp quen, ở phố chợ quận, gặp nhau trên đường, trên xe chuyến xa chuyến gần, trong quán nước tiệm ăn, dưới bến đò, đò ngang đò dọc, một hai cũng tủm tỉm bảo nhau “mai mốt, không còn gọi cô giáo Diệu nữa rồi mà phải gọi là bà phó Thịnh”.

 
Thuyên Huy
Cuối thu xứ người 2016