Tuesday, December 30, 2025

Chim Khóc Cho Người - Thuyên Huy

 Chim Khóc Cho Người




Mẹ Không ... Ế - Nguyễn Mỹ Nữ

 

Mẹ không…ế




 

Tôi là hàng xóm của chị có gần chục năm trời. Ngày chị dọn đồ đến ở, tôi có qua bên đó giúp. Chị ngồi phịch giữa phòng với bốn đứa con làng nhàng vây quanh. Tóc tai lết bết mồ hôi, đôi mắt vô hồn, khuôn mặt phờ phạc. Hai thằng con trai chí chóe liên hồi và hai đứa con gái phụng phịu hờn lẫy.

Tôi đứng ngoài bậc cửa nửa muốn bước tới hỏi han nửa muốn quay lui, lủi mất. Nhưng chẳng biết phải làm gì? Chân thì chùng chình và lòng rất đắn đo nên chỉ đứng yên. Nhìn. Là những cảm giác như thế đó vào giây phút đầu tiên chị bước chân vào đời tôi. Và tôi: một cách – kiểu, khi đến với cuộc sống chị.
Đồ đạc mẹ con chị chẳng có gì ngoài quá chừng chừng là sách. Những quyển sách xếp đầy cả mấy cái bao cát. Tôi đọc được những cái tên lạ. Chị bảo bằng sách dịch xuất bản trước năm 75. Khi nào rảnh cứ qua lấy đọc. Chị dư sách nhưng lại thiếu xô, chậu, những giây phơi…và vô số thứ. Tôi hì hục thu xếp, dọn dẹp cùng chị. Cả căn phòng nhỏ. Cả ngoài khu vườn. Chị nhìn sự sạch sẽ, thoáng đãng bao quanh mình có vẻ hài lòng:
– Chị mướn cái nhà này cũng vì cái vườn.
– Dạ!
– Con chị đông. Phòng ở chật – tối. Có chút đất cát cho tụi nhỏ chạy nhảy. Mà chị cũng có chỗ cựa quậy.
– Cựa quậy cái gì hả chị?
– Thì nhé! Cựa quậy mắt, khi nhìn. Cựa quậy tai, khi nghe. Cựa quậy chân khi bước và cựa quậy lòng, khi buồn. Chuyện. Đàn bà ấy mà.

Nói đến đó mắt chị tối sầm. Chị có một đôi mắt rất đẹp. Màu xám tro với những tia nhìn rất dữ. Tia nhìn ấy cứ một chốc lại lóe lên, sáng rực. Trưa đó, tôi ngồi bệt trên nền nhà vừa lau, ăn bún chan mắm nêm với mẹ con chị. Chị phân ra hai chén. Một chén không ớt cho tụi nhỏ và một chén ớt hơi bị nhiều nhiều cho hai chị em. Thứ ớt hiểm, xanh bác Sa trồng đầy vườn, ăn có mà quanh năm giáp tháng cũng chẳng hết. Chị nói chị tên Lan. Nguyễn thị Lan. Tôi nói em gọi chị là Dã Lan nghe. Chị nói cũng được. Cho nó bớt trần trụi. Cho nó thơ thơ một chút ấy mà. Bác Sa đứng ngoài cửa sổ la lên: “Khô khốc vậy sao tụi nhỏ nuốt?”. Chị dà dạ và cười cười. Hình như bốn đứa con nhà chị đã quá quen với các kiểu ăn khổ khổ như thế này.Vì thấy tụi nó có vẻ rất ngon miệng. Làm một hơi bay vèo cả rổ bún. Nhìn sức ăn của bốn đứa tôi hiểu được những vất vả của chị. Và thương.

Chị đang đi học. Chị nói cũng phải lấy cho rồi cái ngoại thương để dễ có việc làm ổn định. “Chứ sao bấp bênh quá ông bạn”. Chị gọi tôi như vậy đó: ông bạn. Dù thấy tôi đang còn rất trẻ và đã biết tên. Các con chị gọi tôi theo những người trong xóm, là: “Chú Út”. Tôi thích cả hai cách. Chị học vào khi nào chẳng rõ. Chỉ thấy độ ba giờ đã nghe tiếng Chaly bên đó nổ máy. Thằng Hoàng nói mẹ bán cà phê ở ga xe lửa.

Khoảng trên sáu giờ chị về lo cho các con ăn uống, đến trường và lặn luôn một hơi tới trưa. Đầu giờ chiều cũng vậy. Tôi thường có cảm giác buồn – trống khi bên đó thiếu tiếng người nhất là vắng bóng chị vào – ra. Tối, trước bảy giờ chị lại đi. Cái Hậu bảo mẹ đến quán của bạn. Tôi hỏi một trưa ngồi dưới gốc khế nhìn chị giặt đồ:
– Sao tò mò thế ông bạn?
– Thì vẫn còn trẻ mà.
– Trẻ là phải thế à!
– Cũng thi thoảng…
– Ừ! Thi thoảng. Có gì đâu bạn chị mở quán nhậu. Nó trụ từ bốn giờ, chị đến thay.
– Có đỡ không chị?
– Thu nhập á? Quá đỡ ấy chứ! Thì em thấy đấy. Cả đoàn tàu há mồm nhà chị rồi là bao thứ. Trông tất tần tật vào đấy. Bằng bạn chị giúp ấy mà.
– Còn cái quán cóc ở ga?
– Ối giời! Có đáng gì! Bán cho vui. Là nói thế chứ được đồng nào hay đồng nấy. Hôm nào dậy sớm được, ra ga. Chị pha cho một ly đặc quánh. Có mà xây xẩm suốt ngày.

Trưa đấy, tôi thay thằng Hoàng xách nước cho chị xả đồ. Chị khúc khích: “Ối giời! Đỡ quá. Thế thì chị xả mười lượt nước mới thôi, ông bạn nhé! Mọi lần thấy thằng Hoàng bé quá rất thương nên đâu dám xả nhiều”. Chị cũng cho biết không phải không tự làm được những việc như thế nhưng muốn con phải quen với sự giúp đỡ mẹ, các em và biết quan tâm tới gia đình chứ không phải như bố nó. Giọng chị buồn và buổi trưa cũng bỏ ngang những niềm vui rất bé vừa nhen lên trong lòng tôi. Người đàn ông của đời chị. Bố của các con chị. Là ai? Và ông ấy thế nào? Những câu hỏi làm giấc ngủ tôi chập chờn…

Lẩn quẩn ở ga khá lâu, tôi mới tìm ra chị. Có bao nhiêu là cái quán cóc xíu xiu như chị ở nơi này. Vốn liếng có là bao. Thì một cái tủ nhỏ trong bỏ vài gói thuốc, trên đặt mấy ấm trà, vài cái phin, hai cái bàn xếp, dăm bảy cái ghế đẩu. Khi nhận ra chị, tôi không đến ngay mà cứ đứng ì ra đấy, chôn chân tại chỗ, ngắm nhìn. Chị như rất nhiều người đang bán buôn ở cái nhà ga này mà như không phải. Giữa họ, chị chạnh ra. Và trong họ chị khác biệt. Không cùng chung, không chan hòa, không nhòa lẫn. Bất giác lòng tôi sao nhoi nhói. Đăm đắm nhìn chị. Và thương.

Chị mừng lắm khi thấy tôi lững thững bước lại, vội kéo ghế sát bếp, bắt ngồi và đon đả:
– Trời ơi! Chị không ngờ đâu, ông bạn. Ngồi đây cho ấm, nhé!
– Thật không?
– Thật chứ! Trời đang rét thế này mà dám ra đây phơi sương. Ông bạn hay thật! Uống nhé!
– Vâng ạ! Một ly rất dẻo. Thật quánh. Cho say luôn.
– Ờ! Để chị làm cho hai cốc. Uống với ông bạn luôn thể. Cũng vãn khách rồi.

Chị có cách uống hết sức… nỗi niềm.

Ôm gọn cả cốc cà phê nóng trên tay, nghiêng đầu ngó lửa và tư lự hằng mấy phút liền mới nhấp một ngụm. Từng ngụm, từng ngụm nhỏ cho đến khi bằng hết mới thôi! Chị bảo chị yêu những buổi sớm ở đây. Thích hơn nếu vào mùa đông. Chị ưa nhìn những con tàu đi qua. Ưa hơn những con tàu không dừng lại. Không dừng lại nghĩa là không có sự sum vầy. Không có sum vầy đâu thể có chia ly. Đúng không, ông bạn? Nom chị buồn lạ những lúc như thế này. Chị bảo vừa ly dị chồng. Chị không đem theo một cái gì cả khi rời ngôi nhà ấy ngoài bốn đứa con và rất nhiều sách vở. Chồng chị chê chị vụng – đoảng, không biết kiếm tiền như rất nhiều phụ nữ giỏi giang khác nên bắt các con phải ăn khổ, sống cực. Tòa bảo phải chia tài sản. Chồng chị gân cổ cãi: “Cô ấy nuôi thân còn chưa rồi. Cái nhà là do tôi tạo ra mới có. Cả như cô ấy. Cái lều vịt cho cả gia đình chui rúc cũng còn không có nữa là. Nhà của tôi. Cớ gì tôi lại phải cưa đôi cơ chứ!”. Tòa phản đối: “Nhưng tất cả con anh đều đòi sống với mẹ. Anh phải tạo điều kiện cho cô ấy lo chỗ ở cho tụi nhỏ chứ!”. Chị lên tiếng: “Tôi không thích được chia. Không thích ông ấy phải trợ cấp. Mẹ con tôi sẽ lo cho nhau được”. Đã quyết thế, vậy mà dằng dai mãi mới xong được thủ tục.

Mẹ con chị ra đi vào buổi sớm thì buổi chiều anh ấy đưa người yêu về sống. Họ đã lén lút quan hệ với nhau từ rất lâu nên chị không hề ngạc nhiên, khi biết. Có là gì đâu, ông bạn!!! Tôi gật gù: “Ờ! Có là gì!!!”. Chị bảo ra ga uống ly cà phê với chị thì được nhưng cấm tiệt vào quán nhậu của bạn chị. Tôi sững cồ: “Thì cứ xem em như khách. Vào uống chai bia không được à?”. Chị nghiêm mặt: “Không. Không thật. Ở đấy phức tạp lắm. Nhốn nháo bắt khiếp và chị có hở tay ra được tí nào đâu để ra ngồi với em”. “Thì để em lăn vào giúp”. “Ờ! Không xong đâu. Chị xin, nhé! Ông bạn”.

Buổi tối, tôi hay sang phòng chị để nhắc nhở tụi nhỏ học hành. Các con chị ngoan lạ. Ngoan đến kinh ngạc. Từ thằng Hoàng vừa lên cấp hai con đầu đến bé Tiên, út ít. Kể ra Tiên cũng hay có tật nũng nịu, vòi vĩnh mẹ nhưng vẫn là rất giỏi so với con cái những nhà quanh đây. Khuya nào, Tiên cũng bắt mẹ kể chuyện và luôn đòi chuyện con khỉ. Chị kể hoài khiến tôi thuộc làu. Đó chẳng phải là chuyện cổ tích cũng chẳng phải chuyện đời thường. Chuyện có những chú còng biển. Những cọng cỏ lông chông. Một cái đảo ở rất xa với nước bao quanh xanh ngăn ngắt.Và mẹ con nhà khỉ mới hay làm sao! Khỉ con tính ương chướng như… Tiên và khỉ mẹ lại oái oăm như… mẹ Tiên vậy. Tuy vậy họ lại rất thương nhau. Cứ đến chỗ này là Tiên díp mắt ngủ và câu chuyện của chị dừng lại nên chẳng ai rõ được cái khúc đuôi thế nào. Có lần nghe tôi hỏi, chị tần ngần trả lời: “Biết để làm gì? Ông bạn. Không biết lại hay!!!”…”. Thằng Hoàng luôn nhắc hai đứa kề đánh răng mới được lên giường. Riêng phần nó, xách nước đổ đầy cái lu để trước cửa phòng, bảo: “Có thế sớm ra mẹ mới không phải khua gầu. Sợ ồn bà mắng. Bà lại không cho mẹ con ở. Bà đuổi đi”. Nghe Hoàng nói người tôi nhột nhạt và nghe con nói, mắt chị nhòa buồn.

Hiếm có tối nào, chị trở về từ quán nhậu mà không loáng thoáng ngửi được mùi rượu bia. Chị bảo bằng khách mời. Phải tìm cách từ chối chứ không có mà đêm nào cũng say. Tôi thích cái cách chị dừng xe trước cổng, tắt máy và dắt bộ vào nhà. Cái bóng chị xiêu xiêu chui chúi. Cúi xuống khi đi ngang qua tàng sứ và băng vội khi ngang qua những gốc cà. Nom chị lầm lụi thế nào và gợi lên rất nhiều thương cảm. Đêm nào chị cũng có chuyện quán để kể. Đó là lúc mẹ con chị đã ăn cơm tối xong và chị cũng vừa rửa ráy, tắm táp. Chị hay gội đầu đêm. Tóc chị cắt cụt ngủn. Chị bảo: “Là tóc tém. Hồi trước kiểu này là “hot” đấy. Tóc ngắn thế này chả cần sấy nóng, sấy lạnh chỉ cần ngồi trước gió ngã đầu qua, nghiêng đầu lại một chốc là khô ngay”. Chị hỏi: “Ông bạn! Chuyện quán xá hả? Quán sớm hay quán đêm nào?”. Và nghịch ngợm: cà phê cóc thì chuyện lóc xóc, lọc xọc. Cứ như cái tàu qua. Tiếng bánh trên đường ray. Như tiếng viên đá va vào thành ly. Như tiếng ấm nước sôi trên bếp. Tôi vặc lại: “Còn quán nhậu?”. Ô! Càng nhiều.

Chị tỉnh bơ đáp trả.

Tùy theo giọng kể của chị, tôi biết được quán có khách hay không? Khách uống nhiều bia hay ít? Khách dễ chịu hay khách khó thương? Thường, mùa nắng hàng họ rất đắt. Chị vui nhiều nhưng ốm hẳn. Còn mùa mưa? Tôi thương quá hình ảnh chị trùm kín người trong cái áo cánh dơi, dắt xe qua cổng, bước ngập ngừng. Chị hay đứng trước cửa phòng, rũ áo, rút cái khăn móc gần đó lau khô mặt, chùi chân rất kỹ rồi mới thò đầu vào nhăn nhở: “Bia…ế đây. Mồi…ế! Quán…ế đây. Mẹ…không ế!”. Vừa nghe đến thế là bọn trẻ chạy ùa ra, ôm chầm lấy mẹ. Chị vòng tay ôm hết bốn đứa vào lòng và mẹ con cùng reo lên: “Quán…ế đây. Mẹ không ế! Quán ế đây. Mẹ không ế! Mẹ không ế!…”. Tôi lặng người trước cảnh này và ước sao mưa tuột trôi. Trôi mãi vào đêm cho sớm mai trời hanh khô, tạnh ráo. Nắng, chị khỏi trùm áo cánh dơi lướt thướt ở quán về và cất tiếng gọi con bằng những câu rất cũ. Và buồn…

Có một khuya cũng phải gần mười một giờ, tôi đã định cài cửa ngủ thì thằng Hoàng bước sấp, bước ngửa chạy sang, bảo: “Chú Út ơi! Sao giờ mẹ chưa về? Cái Tiên khóc quá. Cháu phải ở nhà trông em. Chú đi kiếm mẹ hộ, chú nhé!”. Tôi tới quán vừa hay gặp được cô giúp việc. “May quá, có anh. Cô Lan say lắm! Hôm nay sao lạ chứ mọi ngày có thế đâu cơ chứ!”. Tôi vọt xe rất nhanh theo hướng tay chỉ và chẳng mấy chốc đã thấy chị ở ngay trước mặt. Chị chạy xe vẫn rất ổn và nom tỉnh queo ấy mà. Bởi đó tôi bỏ ý định gặp và tìm cách đưa chị về. Đường vắng hoe và lờ mờ ánh sáng khiến màu trắng của chiếc Chaly và màu vàng tươi chiếc áo chị mặc thêm nổi bật. Đêm nhẹ nhàng và thanh khiết quá! Đêm vô vàn dễ chịu, khi chạy xe rề rề theo chị. Giá mà được như thế này mãi. Ước gì đêm dài ra và đường thêm hun hút. Với chị phía trước tà tà một cách chạy. Với tôi, phía sau tà tà một kiểu theo. Không cùng sóng ngang. Không ở cạnh nhau mà vẫn thấy rất hạnh phúc. Một sự tách rời. Một dõi nhìn. Một bám vướng… lại khiến lòng thật vui.

Đến một khúc cua, chiếc Chaly của chị bỗng đứng khựng lại. Tôi thấy chị xuống xe, chống chân và ngồi thụp xuống đất loay hoay. Thôi, chết rồi! Xe chị bị hỏng. Cái Chaly của chị. Biết nói như thế nào nhỉ? Máy móc rệu rạo lắm. Tôi đã nhắc chị bao lần phải thay thứ này, sửa thứ khác mà chị cứ phó mặc. Đang định phóng xe tới giúp, tôi bắt sững người. Kìa chị! Ơ! Không tưởng được! Bằng tất cả sức bình sinh, dường như là thế. Chị rút phăng cái xích xe đã bị đứt ra, đứng bật dậy rồi quay. Chị quay như múa. Một điệu múa thật đẹp và đầy ắp những cảm hứng. Người vũ công chị hiển hiện đấy rồi lại như mất hút đấy. Người vũ công chị nhập vào đêm lồng lộng rồi khe khẽ bước ra. Và lừng lững. Và quay. Những vòng quay dịu dàng và điên đảo, thư thả và tới tấp…  Bóng chị nhóa nhòa, xiêu vẹo, xấp nghiêng đổ tràn lên mặt đường những lát cắt sắc lẻm cùng bao vết nứt, tóe đau.

Trời ơi! Tôi đã sống bao năm trên cõi đời này để đêm nay, được lặng người nơi một góc phố ngắm nhìn, chiêm ngưỡng người đàn bà của tôi hốt hết cả cõi lòng, hồn vía của mình ra để xuất thần trong điệu – múa – xích – xe. Rồi nữa chứ! Vắt hờ hững lên vai và nghênh ngang bước.

Bây giờ thì tôi hết trông đêm dài. Hết trông đường xa ngái. Chỉ thầm mong chị nhớ được lối về. Và thế đó! Chị: tay dắt Chaly chân lầm lụi bước và tôi: ráng cắn chặt răng kềm cảm xúc ứa tràn. Để không thể chạy ùa lại chị ngay tức thì. Để không thể và không thể… Chân run, lòng rối và cái xe sao quá nặng khiến tôi lảo đảo muốn quỵ ngã bao lâu. Lấp vấp vậy rồi tôi cũng theo chị đến tận khu vườn. Phải tận mắt thấy chị lọt thỏm hẳn người vào bên trong căn phòng, tôi mới yên tâm trở về nhà mình. Chưa kịp thay đồ, đã nghe những tiếng cười vui rộn rã từ bên chị. Không dừng được tò mò, tôi lại len lén bước sang. Đứng thập thò ở ngoài, tôi chẳng nghe rõ được tiếng ai ngoài tiếng thằng Hoàng: “Đấy! Mẹ say mẹ mới chịu lộ bí mật nhé! Thế mà mẹ giấu chúng con. Cứ tưởng nhà mình chẳng có tiền nên cái xe rách nát, bệ rạc thế kia mà anh em con cũng phải ráng đi. Đấy! Rõ ràng là mẹ có tiền. Mẹ nhớ mua xe mới cho con. Mẹ hứa nhé!”. Nghe đến đó, tôi chỉ muốn bật cười, vội bụm miệng lủi về nhà mình thật gấp. Mấy hôm sau tôi lại phải thêm một lần nữa bụm miệng khi thấy thằng Hoàng cỡi chiếc xe đạp mới toanh, cái mặt cứ vênh lên, ra chiều đắc thắng. Còn chị. Một khuya nơi góc khế, xoa mãi mái tóc cắt cụn ngủn của mình: “Thằng Hoàng bảo có nhờ chú Út. Cũng may mà ông bạn không đi tìm chị…”.

Tôi sang chị mỗi ngày. Bọn nhóc rất quý. Và chị. Chắc chẳng hơn gì: ông bạn. Thôi thế cũng được. Tôi phát hiện thêm những điều thú vị từ chị, khi sống gần. Giả dụ như sự hài hước hết sức thông minh. Giả dụ như cái sự ghiền xem phim hành động của Mỹ. Hỏi xem lúc nào. Chị bảo lúc rất khuya khi tôi và bọn nhóc đã ngủ khì. Xem không đâu đã đủ. Còn phải chờ tôi sang để kể lại. Tôi mê cái lối kể nhiều hăm hở của chị. Cứ như là trẻ con. Từ đó, tôi chợt nhận ra một Dã Lan thơ dại bên một Dã Lan già nua. Một Dã Lan tự nhiên hồn hậu bên một Dã Lan khinh bạc bất cần.

Hôm đám cưới tôi, chị vui lắm. Qua nhà sửa soạn, chuẩn bị trước cả tuần. Chị khéo tay nên nhận phần cắt dán trang hoàng. Chị cắt chữ theo kiểu thư pháp. Thật lạ và hết sức tài hoa. Minh, vợ tôi có cảm tình với chị ngay từ lần đầu gặp  rồi quý mến thêm. Và thương.

Một lần thấy hai người đứng sát cận, tôi bỗng cắc cớ hỏi: “Ai là hoa hậu đây?”. Chị cười khanh khách chỉ Minh không quên đưa tay chỏ vào mình: “Còn đây mẫu hậu”. Thế là chị có tên gọi mới: Mẫu hậu.

Hôm Minh đi sinh nhà chẳng có ai, tôi hoảng quá vội băng qua hàng rào: “Mẫu hậu ơi! Chị ơi! Làm sao giờ? Vợ em muốn đẻ rồi. Mẫu hậu!”. Minh cũng kêu vậy lúc oằn người trong những cơn đau ở phòng phụ sản: “Mẫu hậu ơi! Em không chịu nổi. Chắc em chết quá. Mẫu hậu ơi!”. Tôi đứng bên ngoài nước mắt chực trào. Thương Minh quá! Và thương cả mẫu hậu.

Hôm sản phụ từ bệnh viện về, chị được mẹ tôi nhờ đưa mẹ con Minh từ tắc xi vào nhà, vì muốn Minh hưởng chút “dớp” của chị trong chuyện nuôi dạy con.

Chị chẳng mấy khi sổ mủi, nhức đầu, viêm họng… Ít ốm nhưng ốm trận nào thì ra trò trận ấy. Chị tính nhẩm bảo cứ khoảng hai năm chị lại ốm như thế một lần. Cũng chẳng rõ bịnh gì nhưng cứ như người kiệt sức, cạn lực và sắp chết đến nơi. Hoàng nhăn mặt: “Bác sĩ bảo mẹ bị chứng suy nhược thần kinh lại làm quá mà chẳng chịu thuốc men bồi bổ”. Hoàng thường lo cho mẹ tất tần tật rồi mới ôm cặp đến trường. Trước khi đi không quên nói với sang bên tôi: “Chú Út trông chừng mẹ hộ nhé!”. Tôi thương quá hình ảnh chị lả người xanh xao, má hóp, mắt sâu… nằm dán mình trên giường chập chờn theo từng cơn nóng, lạnh. Chị hay khóc vào những khi như thế, lúc chỉ có một mình. Tôi sang có lần gặp, trái tim nhũn mềm và vội bỏ ra gốc khế, rưng nhìn hoa tím rơi ngập sân. Sao mà khế ra nhiều hoa đến thế những lần chị đổ bịnh.

Chị ốm thêm ba, bốn lần gì đấy. Và say – say thật – đúng hai lần nữa thì mua được nhà. Vẫn thế một lối ốm. Vẫn thế một kiểu say: đi lang thang, phóng xe tà tà rồi về phòng lục bằng hết tiền, vàng, đô la, sổ tiết kiệm đã cất giữ ra khoe với các con. Chị cũng có ý rèn dũa, tập cho tụi nhỏ tính tự lập nên mới phải giấu giếm, ai dè say lại sinh đổ đốn ra thế.

Chị than thở và kết lại bằng cái chép miệng: “Rõ cơ khổ…” Tôi vừa mừng vừa buồn, khi biết rồi ra sau tất cả, chị vẫn gầy dựng được cho các con mình một mái nhà. Một chỗ trú ngụ riêng tư. Các con chị lớn tướng và vẫn rất ngoan. Hoàng đang học năm cuối. Bé Tiên vừa xong cấp một. Mấy đứa ghiền em nên Minh rất được nhờ. Con bé nhà tôi được các anh chị ẵm bồng, chăm chút suốt ngày. Tiên đã hết mê chuyện con khỉ nhưng con gái tôi lại ưa mẫu hậu kể: “Chú sóc nâu của bà”. Mẫu hậu vừa kể vừa dòm chừng chủ nhà. Giọng kể kéo dài nhiều riễu cợt. Còn đôi mắt lém nghịch quá chừng chừng cộng với mái tóc cụt ngủn. Tếu đến không chịu được.

Chị học ngoại thương mà được giao toàn những công việc sát thương, khi ra trường. Ấy là chị nói vậy chứ làm gì ở cơ quan ai mà biết được. Vợ tôi mừng: “Cái chính là chị Lan đã có công việc ổn định”. Tất nhiên là chị bỏ việc ở quán nhậu và không tất nhiên, chị vẫn lóc xóc cà phê cóc ở sân ga. Chị bảo ghiền lắm rồi. Ghiền được dậy sớm. Ra đường trong cái vắng vẻ, thênh thang. Ghiền nghe mùi tàu xe. Ghiền mùi cà phê, mùi rác, mùi người. Ghiền thấy những nhộn nhạo, phức tạp… bao quanh mình. Đôi hồi có việc đi đâu sớm. Tôi hay ghé lại chỗ chị. Ngồi, chỉ một chút. Không dài. Chẳng lâu. Đủ, để nhâm nhi một ly đen đặc quánh và đủ để dõi theo một đoàn tàu đi qua.

Chỉ không đủ. Luôn luôn là không đủ khi muốn cảm thấu những nghĩ suy trong tâm hồn người phụ nữ đang ngồi kề sát một bên mình.

Bữa tiệc ở nhà chị có rất ít khách mời và tôi là một trong số rất ít ỏi đó. Vợ tôi bận trông con nhỏ. Bác Sa thì do trời trở nên nhức xương cốt quá thể. Có mỗi cái chân mà còn không nhúc nhích được thì hòng gì? Bác bảo thế! Chị vui suốt bữa ăn. Và ăn rất nhiều nữa chứ! Chỉ tịnh không nhấp lấy một giọt. Bưng ly trà đá cụng với mọi người, xoa tóc rồi  cười: “Tôi say rất đáng xấu hổ. Xin thông cảm cho”. Và quay qua tôi nheo mắt: “Đúng chưa? Ông bạn!” Thằng Hoàng thì thào một bên tai: “Giờ mẹ có say cũng mất tiệt cái đoạn cuối vì phải nợ đầm đìa khi mua nhà. Mà chú Út có đồng ý không? Cái đoạn ấy mới là ấn tượng chứ!”.

Tiệc tan, chị đưa tôi ra tận đầu hẻm và chần chừ mãi, không chịu trở vào. Chúng tôi đứng rất lâu trên hè đường và không dưng cùng quay về hướng nhà cũ. Nơi tôi sắp trở về và nơi chị vừa rời xa. Tôi biết chị và các con chưa bao giờ thuộc về căn phòng ấy, khu vườn ấy nhưng cả chị cả bọn nhỏ rất thích được sống tại đó. Như chị chưa bao giờ thuộc về tôi nhưng luôn thích có tôi. Tôi là ông bạn: ông bạn của Dã Lan. Một ông bạn không hơn và chẳng kém.

Vậy thì!

Hãy xem đó. Tất cả. Là những nguyên cớ. Những duyên do run rủi đã đẩy tôi tìm đến và lỡ vướng vào chị. Vướng, chỉ một chặng đời. Hãy biết vậy và hiểu vậy. Rồi qua.

Người đàn bà cắt tóc tém, ưa xem phim hành động của Mỹ và kể lại bằng một chất giọng quá nhiều háo hức và rất đổi trẻ thơ. Người đàn bà có rất nhiều sách dịch với những cái tên thật lạ. Người đàn bà múa xích xe rất thơ và thật đẹp. Cũng xích xe, ơ thờ khoác vai và nghênh ngang bước. Nét mộc mạc lặn sâu và sự dữ dội phơi tràn. Những hung hiểm và sự tinh khôi.

Người đàn bà của tôi: góc khế, ban trưa, những giọt lệ chiều… Cơn mưa dầm và câu “mẹ không…ế”.

Người đàn bà của tôi: khoảnh sân, khu vườn, căn phòng tối, chén mắm nêm, những trái ớt hiểm xanh, cay sè… Dã Lan của tôi.

Mẫu hậu của tôi: tiếng cười giòn, cách xoa tóc ngập ngừng, đôi mắt xám tro sũng nước… Dã Lan.

Vậy nhé! Một chặng đời. Hãy cho tôi được giữ…

Nguyễn Mỹ Nữ

 

 

Lệ Đá Xanh - Thanh Tâm Tuyền

 Lệ Đá Xanh















Tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
Những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
Em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
Đôi khi anh muốn tin
ngoài trời chỉ còn trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối
Đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu
Đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái
Đôi khi anh muốn tin
Ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi.

Thanh Tâm Tuyền

Chuyến Đò Tốc Hành - Nguyễn Lê Hồng Hưng

 

 Chuyến Ðò Tốc Hành

(Chuyện xảy ra trước đây hơn mười năm. Tên những quán rượu và tên nhân vật do hư cấu, nếu trùng hợp, hoàn toàn ngoài dụng ý của tác giả.)




Tôi ngồi bó gối trong khoang đò tốc hành Sông Đốc – Cà Mau, nhìn đám người lố nhố bán buôn trên bến và những hành khách lần lượt xuống đò. Yến với Hằng đứng trước mũi, vai mang túi hành trang, đảo mắt ngó quanh quất tìm chỗ ngồi. Chợt thấy tôi, hai đứa cố chen lấn đám hành khách đi vô khoảng giữa để ngồi kế tôi cho bằng được. Cả ba lần gặp Yến và Hằng hoàn toàn do sự ngẫu nhiên, vậy mà hai đứa xem tôi như người quen thân từ lâu lắm. Đò chật nứt, chen mông ngồi chưa đụng sạp, Hằng mở miệng định hỏi gì đó nhưng Yến đã nhanh miệng hớt lời:

‘Chú đi đâu vậy?’

‘Mỹ Tho.’

‘Chừng nào chú dìa bển?’

‘Tuần tới.’

Bây giờ Hằng mới được chen vào, hỏi:

‘Rồi bao lâu chú mới dìa nữa?’

‘Có lẽ vài ba năm.’

‘Chừng nào dìa chú ghé nhà con chơi.’

Tôi ừ hữ cho qua chuyện, nào ngờ hai đứa cắm cúi ghi địa chỉ đưa cho tôi còn căn đi dặn lại biểu tôi đừng quên. Khi đò tách bến ra giữa dòng, gã thanh niên ngồi bên cạnh day qua, hỏi:

‘Tụi mày chừng nào trở xuống nữa?’

Thấy cả hai đứa không trả lời, gã bèn bồi thêm một câu:

‘Tụi mày mà bỏ đi thì ‘Hoa Biển’ sẽ ế!’

Gã thanh niên bận áo sơ mi trắng, hở cổ khoe sợi dây chuyền vàng mặt mỏ neo, quần màu xám tro, tay ôm cặp táp. Có lẽ anh ta là cán bộ huyện hoặc cán bộ xã gì đây. Thấy tôi nhìn, gã ta nở nụ cười đểu đưa ra ba bốn cái răng vàng như thầm nói với tôi: “Đừng tưởng hai con nhỏ đó hiền mà lầm!”. Yến và Hằng vòng tay bó chưn, càm kê lên đầu gối giống như hai con trút cuốn tròn, mắt long lanh muốn khóc!

Sự yên lặng của hai đứa làm tôi áy ngáy, tôi lơ đãng ngó mặt ra dòng sông. Ðò lướt nước ào ào, qua mặt những chiếc xuồng chèo dọc theo hai bên mé nước. Những thiếu nữ áo bà ba đủ màu sắc, quần đen mượt, đầu đội nón lá, hai tay ghì chặt cán chèo đưa đẩy, xuồng nhẹ lướt nước theo nhịp đẩy của mái chèo. Hình ảnh anh trai làng đứng chèo chở cô thôn nữ trên chiếc xuồng ba lá trông giống như một bức tranh ngày mùa.

À, đây là cảnh quê hương mà tôi đã ước mơ trong những năm dài nơi xứ lạ quê người, tôi ước ao một quê hương yên bình, tôi sẽ trở về sống đời sống bình thường với quê hương và quên đi những ngày lưu lạc. Nhưng khi nhìn qua Yến và Hằng tôi nhớ lại trong những ngày về bên dòng sông cũ. Và một ý nghĩ mới lạ len lỏi vào tâm tư. Phải rồi, cái ý nghĩa của sự thanh bình đâu chỉ đơn giản trên một giòng sông! *

Đúng ra lần nầy tôi trở về Sông Đốc cũng được, hổng về cũng chẳng sao. Vì những việc còn lại sau đám ma của má tôi, anh Bảy và chị Năm tôi ở nhà lo cũng được. Nhưng hôm chị Sáu sửa soạn về Úc, chỉ có dặn tôi:

‘Chị có nhờ anh Hai ở Mỹ Tho đặt trên thành phố làm tấm bia, em chịu khó lên trển lấy, gắn xong cho má rồi hả dìa bển.’

Ngày trước vì hoàn cảnh chiến tranh, ba má tôi phiêu bạt xuống miệt này. Mãi đến ngày ba tôi giải ngũ, ông bà mới dắt nhau về xứ sở. Ông bà nội, ngoại tôi đã qua đời. Mang ân hận ở trong lòng, nên mỗi khi nhớ tới, hai người tủi thân sụt sùi rơi nước mắt, nói: “Giàu đặng trung đặng hiếu, nghèo mất thảo mất ngay”. Và cũng vì nghèo quá ba má tôi phải thêm một lần nữa dắt bầy con tha phương cầu thực.

Còn tôi không phải nghèo mạc rệp đến đỗi không có tiền mua vé xe đò về xứ như ba má tôi. Ai đi xa về thì phải rủng rỉnh tiển túi, nhứt là đi nước ngoài, khi trờ về phải sang thiệt là sang, sang giống như… Việt Kiều mới được. Còn tôi chỉ là một tên giang hồ vặt vảnh, không nhà cửa, không gia đình, tài sản chỉ có vài bộ quần áo lưng lửng trong một chiếc vali. Nếu không hay tin má tôi qua đời thì tôi cũng chẳng về đây để làm gì. Cũng vì lẽ đó mà anh chị em trong gia đình xem tôi như người con bất hiếu. Sợ tôi mang mặc cảm tội lỗi, hễ có dịp tỏ lòng hiếu thảo thì anh chị em ‘nhường’ cho tôi làm. Theo tôi, chuyện hiếu thảo là chuyện của tấm lòng, màu mè bên ngoài chỉ là hình thức không đáng kể. Tuy nhiên tôi đồng ý đi hàng trăm cây số lấy tấm bia, là vì tôi nhận thấy việc làm này có ẩn chứa một ý nghĩa thiêng liêng nào đó.

Cũng như những tấm bia mộ khác, khắc tên họ, ngày tháng năm sanh và ngày tháng năm từ trần. Cuối cùng có hàng chữ ‘các con lập mộ’. Đại khái vậy thôi, nhưng ở suối vàng, má tôi biết được chắc bà sẽ vui lòng vì khi bà mất, các con tản lạc tứ xứ đã tụ hết về đây cùng góp phần xây mộ cho bà. Thấy chân dung cẩn trên tấm bia hơi mờ, tôi thắc mắc hỏi vì sao? Anh Hai, người anh bạn dì của tôi ở Mỹ Tho giải thích: “Tuy hình cẩn vô bia không được rõ ràng, nhưng mưa gió, thời gian sẽ không làm phai nhạt”. Ảnh nói sao tôi nghe vậy, chớ thiệt ra tôi thấy bên Âu Châu những thợ cẩn kiểu nầy đứng ngoài đường phố, chụp ảnh khách hàng rồi cẩn liền tại chỗ vô tách, ly, dĩa… bằng sành, để người ta đem về nhà chưng trong tủ kiếng. Hình ảnh màu sắc rõ ràng, chớ đâu mờ câm như chiếc bóng, mà còn phải đặt tuốt trên Sài Gòn mới làm được.

Tuy vậy tôi cũng cẩn thận gói tấm bia lại bỏ vô bao. Đêm hôm đó tôi ngủ lại nhà anh Hai ở Mỹ Tho, rạng sáng hôm sau tôi ra bến xe liên tỉnh đi thẳng một lèo về bến xe Cà Mau. Sau đó tôi đón xe lôi xuống bến đò.

Không quen cách sinh hoạt nơi đây, khi đổi tiền, tôi nhét đầy túi quần túi áo, cho nên chen chúc giữa đám đông, tôi sanh nghi những người chung quanh ai ai cũng là dân chôm chĩa, cứ chốc lát tôi rờ túi thăm chừng. Thật ra chỉ vì ở Âu Châu không khi nào tôi bỏ tiền nhiều trong túi nên bị ấn tượng đó thôi chớ xứ sở này chắc đâu đến đỗi tệ dữ vậy.

Xe lôi vừa đổ tôi xuống bến đò, tức thì cả đạo quân phu đò vây quanh mời la chói lói. Người này hỏi: “Anh dìa Khánh Hưng, Đá Bạc hả? Xuống đây chạy liền”, kẻ nọ hỏi: “Anh dìa Bà Kẹo, Cái Đôi hả? Xuống đây chạy liền”. Tôi nói: “Tui dìa Sông Đốc vàm”. Tức thì một anh chồm tới hô lớn:

‘Sông Đốc hả? Sông Đốc vàm, xuống đây, xuống đây chạy liền!’

Anh ta vừa nói vừa giơ tay chỉ xuống chiếc vỏ lải đậu dưới bến. Những ngày đầu tôi rất khó chịu khi nhìn cảnh giành giựt khách của mấy anh lơ xe, phu đò và sự bán buôn mời mọc, nhưng dần dà tôi cảm thấy vui vui. Để khỏi lôi thôi mất thời giờ, tôi nói với anh ta:

‘Được rồi, tui sẽ đi đò anh, nhưng tui chưa xuống bây giờ, tui ngồi ở quán cơm bên kia đường, chừng nào đò anh ‘chạy liền’ anh qua đó kêu tui thì tui xuống liền!’

Anh lái đò thấy tôi dí dỏm cũng có duyên, anh ta cười một cái rồi ân cần bước theo tiễn tôi tới cửa quán cơm. Có một chiếc xe lôi mới đổ người xuống, cũng những giọng ban nãy: “Khánh Hưng, Đá Bạc chạy liền”, “Bà Kẹo, Cái Đôi chạy liền” và có cả tiếng anh phu đò của tôi: “Sông Đốc, Sông Đốc vàm chạy liền”…

Hôm mới về tôi thấy một cô gái duyên dáng ngồi bán cơm trong quán, nhưng bây giờ lại là một bà già và một bé gái trạc tuổi mười ba, mười bốn chạy bàn. Thấy tôi bước vô em lăng xăng, miệng tía lia:

‘Chú chú, mời chú vô trong kia ngồi.’

Tôi theo em đi vô trong góc quán ngồi xuống cái ghế nơi có chiếc bàn trống.

‘Chú ăn gì?’

Chưa đợi tôi mở miệng thì cô bé đã kể vanh vách:

‘Ở đây có cơm sườn, thịt nướng và cháo lòng; nước uống có cà phê đá, nước đá me, nước chanh…’

Cô gái còn muốn kể thêm nhưng tôi chận:

‘Ở đây có rượu hông?’

‘Dạ, dạ có, chú uống rượu đế hả chú?’

‘Ừ cho chú một xị và một dĩa sườn nướng.’

‘Dạ, chú ăn cơm hông chú?’

‘Hông cưng.’

Cô bé đi vô trong tự tay gắp thịt bỏ lên lò nướng. Sẵn than đương đỏ, mỡ sườn nhiểu xuống, lửa phựt xèo xèo, mùi gia vị bốc lên thơm lừng.

Tiếng la ó như ong vỡ tổ bên ngoài làm tôi giựt mình ngó ra. Một chiếc tàu đò vừa cặp bến. Người lên kẻ xuống lao xao, mấy anh khuân vác chuyền nhau những bao bố nặng trịch. Tôi đoán chừng, đó là những bao cá khô đồng được chở ra từ miệt U Minh.

Cô bé khệ nệ bưng mâm rượu và thức ăn ra để trên bàn, sắp ngay ngắn, rồi nói:

‘Mời chú.’

Tôi cám ơn rồi rót rượu ra nhâm nhi và nhấm nháp thức ăn. Những người bán buôn theo bến xe, bến đò lúc nào cũng hấp tấp, vội vàng. Những phần ăn dành cho khách đường xa thì thiếu vệ sinh. Rượu pha nước nhiều quá nên lạt nhách lạt nhẽo, sườn nướng bủng xì bủng xịt, nước mắm chế biến làm sao mà hương vị như nước muối pha dấm đường. Vậy mà những người ngồi bên kia bàn hì hục vừa ăn vừa húp trông ngon đáo để. Mấy em nhỏ bận áo quần như tấm lưới rách, đi tới đi lui chờ thực khách ăn xong, chúng bưng thức ăn thừa đổ vô chiếc thau nhôm móp méo, đóng ten, có đứa cúi xuống húp cặn tô nước lèo. Tôi rót rượu uống liền liền, nhưng rượu lạt quá chưa đủ độ ngăn chận nỗi buồn dâng lên cùng khắp.

‘Anh ơi anh! Xuống đò, tới giờ chạy rồi!’

Tôi ngó ra, thấy anh phu đò hồi nãy giơ tay ngoắc ngoắc, miệng hối lia hối lịa. Tôi hớp vội hớp rượu cuối cùng, xếp lại đồ đạc, kêu cô gái tính tiền và thưởng cho cô phần tiền dư. Tôi nhìn xuống đồng hồ tay, hơn ba giờ rưỡi. Tính ra từ lúc anh phu đò mời tôi đến khi đò ‘chạy liền’ mất gần hai tiếng đồng hồ.

Tôi là người xuống cuối cùng, nên khi chen ngồi ngay ngắn xuống khoang, thì đò đã de ra khỏi bến. Máy xe hơi được tân trang gắn đuôi tôm, đặt xuống chiếc vỏ lải chạy xé nước ào ào, đúng là đò tốc hành thứ thiệt. Tôi thích thú ngồi ngó lên dãy nhà hai bên bờ sông giựt lùi. Chẳng bao lâu đò đã ra khỏi ngã ba Tắc Thủ và rẽ ra sông Ông Đốc.

Đây dòng sông rộng, hai bên ruộng lúa, chen lẫn vài tán rừng, xa xa vài vườn dừa cao đọt in dưới nền trời xanh xanh và mây trắng gợn. Sóng chập chờn tạt nước vô khoang. Chủ đò liền buông rèm xuống. Ngắm cảnh không được nữa, tôi mới day người lại dựa vô be đò. Hành khách trong khoang không đông lắm, nên ngồi rất thoải mái. Những người dân quê lên tỉnh trở về trông người nào cũng mệt lả, có vài người lim dim ngủ gà ngủ vịt, một bà mẹ ngồi vạch vú cho con bú rất tự nhiên. Ngồi cạnh bên tôi có hai cô gái trạc mười sáu mười bảy tuổi. Cô bận áo màu xanh lá cây, cổ tròn, quần đen đọc chầm chậm: “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không duyên, đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành…”. Cô bận bộ đồ bông ngồi cắm cúi ghi ghi chép chép bài hát xuống quyển sổ học trò kê trên bắp đùi. Nhìn hai cô gái hồn nhiên với bài hát của tuổi yêu đương, tôi cũng vui lây.

Đợi cô bận áo xanh đọc hết câu, tôi hỏi:

‘Cô tên gì dậy?’

Cô bé lễ phép trả lời:

‘Dạ con tên Yến chú.’

‘Còn cô kia?’

Nghe tôi hỏi cô bận bộ đồ bông đương đọc rà lại bài hát ngưng ngang, ngước lên trả lời:

‘Dạ, con tên Hằng.’

‘Hai cô ở Sông Đốc vàm hả?’

Yến đáp:

‘Dạ hổng phải chú, tụi con quê ở Long An, xuống thăm bà chị ở Sông Đốc.’

Bắt được chuyện tôi bèn hỏi tiếp:

‘Chị cô mần gì ở dưới?’

‘Dạ, bán quán cà phê.’

‘Quán nằm khu nào?’

‘Dạ, tụi con mới xuống đây lần đầu nên cũng hổng biết nữa, nhưng bà chị có dặn khi tới Sông Đốc vàm hỏi quán Hoa Biển thì nhiều người biết.’

‘Hoa Biển… tên nghe hay quá hén.’

Hằng chen vô, hỏi:

‘Mà chú biết hôn chú?’

‘Rất tiếc, chú đi mần ăn xa, lâu lắm rồi chú mới dìa nên chú hổng biết.’

Chuyện vãn trời trăng mây nước một hồi, đò đã tới bến huyện. Chúng tôi mua bánh mì thịt, nước đá chanh chia nhau ăn uống. Nhờ trên đò có bạn đồng hành, tôi cảm thấy đường sông rút ngắn lại. Chẳng bao lâu đò đã đến Sông Đốc vàm, tôi từ giã suông hai đứa, bước lên bến và không nghĩ sẽ gặp lại dầu bất cứ ở nơi nào.

Xong chuyện mồ mả, tính ra tôi còn lưu lại Sông Đốc được hơn hai tuần lễ. Trong thời gian này tôi có thể thăm bạn bè và viếng cảnh quê hương. Nhưng sau những ngày tang chế, đi tới đi lui mệt mỏi, trước tiên tôi cần nghỉ ngơi cho khoẻ cái đã. Chiều hôm đó tắm rửa, cơm nước xong tôi lên giường đánh một giấc thẳng cẳng…

Đương mê man trong giấc ngủ chợt nghe như có tiếng sấm sét nổ vang. Phản ứng tự nhiên, tôi ngồi bật dậy bước nhanh xuống giường. Cùng lúc tôi nhận ra, cái quán cà phê cạnh bên nhà mở máy hát gì mà nghe như tiếng pháo kích. Dòm đồng hồ tay mới có năm giờ sáng, có lẽ người trong nhà đã quen với cảnh nầy nên còn ngon giấc. Tôi nằm xuống định ngủ lại, nhưng máy cứ hát hết liên khúc này tới liên khúc khác, làm tôi không sao chợp mắt.

Trời vừa sáng, thằng Hiếu với thằng Chiến vô nhà rủ tôi ra phố uống cà phê. Uống chưa hết tách cà phê thì thằng Hân tới, như đã hẹn trước, tụi nó đứng dậy trả tiền cà phê, rồi kéo tôi xuống bến sông kêu đò đi qua vàm xẻo Quau.

Tôi thắc mắc, hỏi:

‘Mởi tảng sáng mà tụi mày qua xẻo mần gì? Bộ muốn bắt ba khía hả?’

Thằng Hân giọng có vẻ hãnh diện, nói:

‘Xẻo Quau bây giờ hổng có rừng rú như hồi trước nữa đâu nghe mậy.’

‘Có gì ở bển?’

‘Thì qua bển đi rồi sẽ biết.’

Xẻo Quau ngày trước là một thẻo đất với rừng cây dà, cây dá, cây mắm, cây dẹt, mọc tạp nhạp và có một vườn cò trong khu rừng chà là. Hai bên rạch xẻo ô rô, cóc kèn, dây choại đan chằng chịt với nhau. Nhờ rừng rú âm u rất thuận tiện cho cá tôm sanh sôi nẩy nở, nâng đỡ rất nhiều dân nghèo còn chưn ướt, chưn ráo tới đây lập nghiệp. Gia đình tôi cũng có một thời gian sống nhờ tài nguyên của con xẻo nầy.

Bây giờ thì khác hơn xưa nhiều lắm, nhà cửa mọc lên như nấm. Dọc theo bờ sông nhà sàn dựng lên lổm chổm. Đò cặp vô một căn nhà sàn rộng, lúc chưa bước lên tôi ngỡ đây là một vựa cá tôm khô gì đó. Nhưng sao không nghe mùi khăn khẳn quen thuộc? Sự thắc mắc nầy chưa được hỏi, thì sự ngạc nhiên kia liền tràn tới. Vừa bước lên bến cầu, một chị phấn son lòe loẹt từ trong buồng đi ra vồn vã chào mời:

‘Lâu rồi mới thấy mấy anh qua chơi.’

Đoạn chị ta day qua tôi, nói:

‘Mấy anh nầy thì quen quá rồi, còn anh tui ngờ ngợ đã gặp ở đâu rồi.’

Cái kiểu nói dóc một cách ‘lịch sự’ trơn tru như vầy tôi không mấy gì ngạc nhiên. Tôi gượng cười và nói:

‘Ờ, gặp nhau hồi mười mấy năm trước ở đâu đó.’

Chị ta cười một cái:

‘Mấy anh chờ chút.’

Có lẽ mấy thằng bạn của tôi đã quen sinh hoạt với quán. Tụi nó tự động rinh bàn ghế trong góc nhà sắp ra một khoảng trống. Cạnh bên có một căn buồng che bốn phía bằng những tấm màn bông, tôi đoán chừng có một nhóm người đương ăn nhậu ở trỏng vì có tiếng cười nói lào xào. Như thể xác định sự thắc mắc của tôi, một người đàn ông đứng tuổi, bận quân phục, vai mang quân hàm đỏ tươi, từ trong vẹt màn đi ra. Mặt ông ta đanh cứng, đỏ ngầu, không ngó ai, ông đi thẳng ra sàn cầu, đứng vạch quần đái lỏn tỏn xuống sông.

Sau khi sắp xong bàn ghế, các bạn kêu tôi cùng ngồi. Cái chị hồi nãy, tôi đoán là chủ quán, từ trong đi ra, chị ta kéo rẹt rẹt bốn tấm màn bông treo bốn bên lại. Trong nháy mắt chúng tôi ngồi trọn lỏn trong căn buồng dã chiến. Tôi hơi sửng sốt, không ngờ ở nơi mà lòng tôi luôn nghĩ là khỉ ho cò gáy lại có chuyện lạ như vầy. Liền đó Yến cùng với ba cô gái khác ăn bận hở hang, lòe loẹt, mặt trét phấn, môi thoa son như sắp sửa ra tuồng, mỗi cô cầm một chai bia khui sẵn và một cái ly. Cái chị hồi nãy bưng ra một dĩa đậu phộng để lên bàn, rồi phân chia mỗi cô ngồi cạnh một chàng. Tôi từ xa mới về được các bạn nhường cho cô trẻ nhứt là Yến. Chị chủ coi như xong nhiệm vụ, chị ta lịch sự rút lui ra ngoài, nhưng không quên chúc chúng tôi ăn chơi vui vẻ.

Mọi chuyện diễn biến quá nhanh làm tôi cứng mình không kịp phản ứng gì hết. Bạn bè đặt đâu tôi ngồi đó, rủ uống tôi uống, mời ăn tôi ăn. Thằng Chiến nhướng mắt ra hiệu biểu tôi ‘làm gì’ với Yến đi… Đời tôi phiêu bạt đã nhiều và nhớ quê nhà lung lắm. Nhưng hôm nay tôi trở về đây đâu phải vì nhớ nhung ba cái chuyện tầm bậy tầm bạ nầy. Cho nên tâm trí tôi lúc nào cũng quay về người xưa cảnh cũ. Giả dụ bây giờ là một đêm đầy trăng, dưới dòng sông ngập ánh lung linh, hiện tại đều biến mất, còn lại một chòi lá xác xơ, mơ màng bên khu rừng tạp nhạp. Tôi sẵn sàng đóng vai chú Bảy Chài, bác Tư Cua hay ông Ba Đặt Lợp… rồi tôi sẽ kể cho con Yến nghe những câu chuyện về người dân trước đây với hai bàn tay trắng, nhờ sự tương ái với nhau mỗi khi tắt lửa tối đèn, họ khai hoang rừng rậm lập nên làng xã. Cũng từ đó, mới có tiếng hát hò của gái, trai miền sông nước cất lên giữa đêm khuya thanh vắng…

Có lẽ thấy tôi không bộp chộp nên Yến mới rụt rè, bưng ly lên, nói:

‘Mời chú.’

Bất chợt thằng Chiến nổi quạu móc tiền chìa qua cho Yến rồi quát:

‘Nè, cầm lấy rồi đi ra ngoài!’

Tôi ngạc nhiên day qua hỏi:

‘Cái gì vậy mậy?’

Nó trả lời với vẻ bất bình:

‘Bộ mầy hổng thấy nó kêu mầy bằng chú hả?’

Tôi nói:

‘Tưởng chuyện gì, chớ tao thấy Yến cũng cỡ tuổi cháu tao ở nhà.’

‘Nhưng mà chỗ này thì khác, mày ở ngoải mới dìa hổng biết chớ chơi với mấy đứa này mà thiệt thà quá nó lờn mặt.’

Tôi cười. Bạn bè rủ mình đi chơi vậy mà uống chưa hết ly bia đã muốn gây lộn với người ta rồi. Tôi định nói ý mình cho nó nghe, nhưng thấy không tiện nên mới xoa dịu:

‘Thôi, tao biết rồi cho tao xin, đương vui vẻ mà.’

Đoạn tôi day qua Yến, nói:

‘Cháu cứ tự nhiên, thằng bạn chú nó hơi cà chớn.’

Nói xong tôi mới bưng ly lên mời bà con vô một cái. Có như vậy thằng Chiến mới im cái miệng và nhét tiền vô túi. Thằng Hiếu không biết nghĩ gì cứ nhìn tôi cười cười, lâu lâu hớp một ngụm bia, nuốt ực rồi day qua con nhỏ ngồi bên hun cái chụt. Còn thằng Hân vô mấy chai sần sần, nổi hứng ôm con nhỏ kế bên, vừa hun vừa bóp vú như thể chết thèm đâu từ đời kiếp nào vậy.

Tôi kiếm chuyện dả lả với Yến để cho mấy thằng bạn dân chơi ‘miệt biển’ của tôi khỏi bận tâm rầy rà. Tôi hỏi:

‘Yến bao nhiêu tuổi?’

‘Dạ, mười bảy.’

‘Mười bảy bẻ gãy sừng trâu.’

Yến cười duyên rồi ngả đầu lên vai tôi. Nhìn con nhỏ mà lòng tôi đầy ắp nỗi buồn. Mấy đứa cháu tôi ở nhà cũng cùng trang lứa, tuy không giàu có nhưng chúng nó may mắn đủ cơm ăn áo mặc, có cha mẹ lo lắng đàng hoàng. Còn Yến cha mẹ ra sao mà mới tuổi này đã lao vào cuộc sống trụy lạc như vầy. Tôi muốn hỏi về gia cảnh của Yến nhưng ngại. Bạn bè bày tiệc đãi tôi với mục đích giới thiệu cảnh quê hương đổi mới. Nhưng tôi cứ lo hỏi chuyện đâu đâu, chỉ tổ gây khó chịu bạn bè. Thấy tôi cứ mãi trầm ngâm nên Yến mới gợi chuyện:

‘Bộ chú là Việt kiều hả chú?’

‘Ừa.’

‘Dậy mà hồi gặp chú con hổng biết.’

‘Dậy hả. À, còn cô gì đi chung với Yến đâu rồi?’

‘Con Hằng hả, nó đang ngồi hát bên kia kìa.’

Tôi lắng tai nghe phía buồng bên kia, có tiếng đũa gõ vô chén dĩa lóc cóc leng keng nhịp theo tiếng hát, điệu dân ca: “Trèo lên… lên trèo lên.. lên em cởi cởi nút quần…” Tiếng hát dứt ngang, tiếp theo tiếng ai ái của người con gái và tiếng cười rộ của mấy gã đàn ông…’

Âm thanh bên kia buồng như gợi hứng cho mấy thằng bạn của tôi. Bây giờ tụi nó không còn ra vẻ sành sỏi để lưu ý tôi nữa, mạnh đứa nào đứa nấy vạch vú của mấy con nhỏ vừa bóp vừa hun. Bên trong kia có một cái buồng kín, cứ một lát lại nghe dội nước rào rào. Chưa đầy mười một giờ sáng nắng đã tỏa vàng trên mặt sông và gió chướng hiu hiu thổi, vậy mà không khí trong phòng ngột ngạt làm sao. Tôi đứng dậy, móc túi giơ cho Yến tờ giấy bạc, Yến cầm lấy nói lời cám ơn trong cổ họng. Mấy bạn tôi giựt mình, buông mấy cái ‘vú’ ra và hỏi tôi tại sao chưa ‘chơi’ gì hết mà định bỏ đi đâu. Tôi viện cớ, cần về nhà bàn với anh tôi chút chuyện. Hiếu đề nghị Chiến và Hân ở lại tiếp tục chơi, rồi câu vai tôi ra bến gọi đò.

Khi đò vừa de ra khỏi bến, tôi ngó lên thấy trên vách có tấm bảng nền xanh đề chữ màu đỏ: ‘Cà Phê Hoa Biển’. Tôi đã sống lăn lộn đó đây, dễ dàng thích nghi với hoàn cảnh bất cứ ở nơi nào, vậy mà về lại quê hương tôi phải cố gắng hòa hợp với mọi người như đến một xứ lạ. Tôi bị lạc loài ngay trên chính quê quán ngỡ còn mộc mạc của mình. Đò ra giữa dòng, mà tôi vẫn còn như mộng. Chợt Hiếu hỏi tôi:

‘Mầy còn nhớ Lệ Hương hông?’

‘Nhớ chớ.’

Một kỷ niệm đẹp thoáng hiện về trong trí, tôi liên tưởng ngay đến một cô hàng quán, duyên dáng, khuôn mặt tròn trịa, mắt đen lay láy, chưn mày rậm, môi không thoa son nhưng lúc nào cũng đỏ mọng. Tóc Lệ Hương đen mượt và dài tới mông, nàng thường bận áo cổ rộng, đeo dây chuyền vàng mặt cẩm thạch kiểu trái tim ôm vừa cần cổ trắng nõn trắng nà. Tôi và Hiếu có thể đến nhậu bất cứ lúc nào và ký sổ bao nhiêu cũng được. Hai đứa đều mê Lệ Hương, cuối cùng nàng chọn thằng Hiếu vì nó đẹp trai hơn tôi rất nhiều.

Tôi hỏi:

‘Lệ Hương dạo này ra sao?’

Hiếu trả lời một cách bình thản:

‘Cô ta bây giờ làm ‘chị đĩ’ ở ngoài đê, mầy muốn hông? Tao dẫn mầy đi!’

Như bị tát thêm ly nước lạnh vô mặt, tôi nói một câu không cần phải dè dặt nữa:

‘Đủ rồi, chắc tao hổng còn gì để thăm và cũng chẳng còn gì để lưu luyến…’

‘Mày nói sao?’‘. . . ‘

Những gương mặt hiền lành, những tên gọi chất phác tôi giữ ở trong lòng trong những năm lưu lạc giờ đây đã tan biến. Làm sao những địa danh rạch Ruộng, rạch Bần, xẻo Quau… lại có thể ăn nhập với những từ Hoa Biển, Chiều Tím, quán Trầm, quán Gió, khiêu gợi hơn nữa có quán Sáu Cô? Chợt nhiên tôi thấy lòng mình trống trải, không là nỗi trống trải của dòng sông dài và rộng trước mặt, mà là sự trống vắng của biển đêm đen đặc, mênh mông. *

Chiếc vỏ lải cứ lướt nước ào ào. Sông Đốc vàm từ từ biến khuất vào con doi thứ nhứt. Quê hương tôi chỉ còn lố nhố những ngọn ăng-ten. Tôi day lại, thấy Yến và Hằng vẫn ngồi co ro gục mặt lên đầu gối. Gã thanh niên vẫn tiếp tục chọc ghẹo bằng những lời xàm sỡ… Trong những hành khách ngồi chung quanh, có người thản nhiên, có kẻ khinh khỉnh cười. Tôi muốn nói vài câu chận lời gã để Yến và Hằng còn có thể ngước mặt lên nói chuyện bình thường như mọi người. Nhưng quai hàm tê cứng, tôi ngồi đó ấm ức như một người câm.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

 

 

Thursday, December 25, 2025

Nếu Mai Này Gặp Lại - THuyên Huy

 Nếu Mai Này Gặp Lại




Quê Hương Bỏ Lại - Nguyễn Cang

 QUÊ HƯƠNG BỎ LẠI

 














Hôm nay về Tây Ninh thăm cố hương

Nắng quái Hè _Thu trải lụạ trên đường

Ngập ngừng đứng lại bên cầu Chợ Cũ*

 Ngắm phố  người đi bao nỗi vấn vương

 

Hoa tím lục bình trên sông vẫn nở

Cầu Quan* còn đây nước chảy xuôi dòng

Nối liền Chợ Mới* với Tiểu Khu* đông

Nét xưa cổ tích giờ phai dấu vết

 

Nhà tôi đó sao bây giờ mất hết

Nghe đâu đây mùi hoa bưởi thoảng đưa

Nhớ mẹ cha đàn em nhỏ, gốc dừa

Thời chinh chiến vẫn đong đầy hạnh phúc

 

Ngày ba bữa chị hai lo bếp núc

Mái tranh nghèo buổi cơm tối đợi cha

Đời khó khăn dòng máu thắm chan hòa

Cuộc dâu bể giờ biết tìm đâu thấy

 

Chiều thoi thóp tình quê hương sống dậy

Hồn mẹ cha là cơn gió nhẹ đưa

Một lần đi tưởng vĩnh biệt đường xưa

Nay trở lại thấy lòng đau quặn thắt

 

Về Cẩm Giang* bến đò đưa  biến mất

Vàm Cỏ Đông* thủy triều ngập mênh mông

Bên kia sông mây tím thắt cõi lòng

Và bìm bịp gõ đều con nước lớn

 

Một cánh nhạn lạc đàn bay lởn vởn

Ta một mình tìm quán trọ nơi đâu

Rừng Da* ơi! Xa quá cánh Rừng Dầu*

Nghe mặn  đắng bờ môi khô héo hắt

 

Ta lạc lõng giữa chợ đời vội tắt

Rạch Đường Long* thuở nhỏ lúc mưa tuôn

Rủ  bạn bè bắt cá cắm câu lươn

Rồi bất chợt giặc Miên tràn  biên giới

 

Chúng cướp của cáp duồn dân vô tội

Ta bỏ làng, ruộng cạn, bước chân  đi

Tiếc làm chi của cải chẳng còn gì

Rồi lần nữa ba mươi năm viễn xứ

 

Đời lưu lạc mong tìm  về quá khứ

Nhớ quê xưa nghe thổn thức trong lòng

Giờ  xứ người cuộc sống hết long đong

Vui con cháu ngắm tà dương dần khuất…

 

Nguyễn Cang (Dec. 12, 2025)

Ghi chú: Một số dấu sao ( *) chỉ địa danh ở TN.