Thursday, November 27, 2014

Mơ Có Một Ngày Trường Sơn - Thuyên Huy


Mơ Có Một Ngày Trường Sơn

 



(Viết để nhớ giấc mơ không thành của Nguyễn Nguyên Hoàng , Trung học Công lập Tây Ninh, niên khóa 62-69, người đã bị giặc Cộng bắn chết trên hàng rào kẻm gai vì dám trốn khỏi trại tù tập trung 

 


Mưa có lạnh Trường Sơn không anh
Súng giương cao nhịp bước quân hành

Núi rừng vang dậy hồi kèn thúc
Những trái tim hồng mang sử xanh

 

Anh đứng dưới cờ tôi vẫy tay
Có đêm nào như đêm hôm nay

Trường Sơn sao lạnh cho bằng được
Hàng triệu  người dân kiếp đọa đày

 

Mẹ nắm tay anh mẹ khóc mừng
Chị ôm anh nhẹ mắt rưng rưng

Em thơ hôn trán ngây thơ bảo
Đợi người về theo gió đầu Xuân

 

Đường ra chiến trận đường xa xa
Trăng khuya đã khuất ngọn thông già

Anh đi mang mối hờn non nước
Ngày về hát khúc khải hoàn ca

 

Sương trắng chập chùng muôn bóng quân
Hiên ngang trong nhịp bước oai hùng

Ngày về rừng lá phơi xác Cộng
Chúc các anh đi vạn chiến công

 

Anh quyết bền lòng tin sắt son
Mai đây ta về lại Sài Gòn

Cờ vàng lộng gió thành đô cũ
Cùng nhau mình dựng chuyện nước non.

 


Thuyên Huy

Thư Người Cha Già - Nguyễn Phiên


Thư Người Cha Già  

 

Các con yêu quý,

Thấm thoát trời đã vào Đông.

Những ngày cuối năm thời tiết bắt đầu trở lạnh, năm nay chậm hơn mọi năm vì gần hết tháng 11 rồi còn gì! Nghe tin tức từ miền Đông, tuyết rơi liên tục chôn cả nhà cửa và đường xá vậy mà ở Nam Cali, nhiệt độ ban đêm xuống thấp lại chóng tan vào lúc bình minh dưới nắng ấm ban mai... Ấy là một đặc ân trời ban cho miền Tây này phải thế không con? Tuy nhiên sáng nay, hơi lạnh đầu mùa cũng đủ làm Bố co ro trên giường không muốn dậy. Người già chịu đựng cái cảnh cô đơn và lạnh lẽo rất kém cỏi... Con vẫn biết?

À... Bố vừa nhắc hai chữ “đặc ân” tất sẽ phải nhớ nói câu cảm ơn. Ân với nghĩa như âm dương luôn tương tác sánh đôi không thể có ân mà thiếu nghĩa hơn nữa chúng ta đang bước vào mùa Thanksgiving, lễ Tạ Ơn cổ truyền hàng năm trên đất Mỹ. Nhập gia tùy tục, sống theo phép ơn đền nghĩa trả nhưng khả năng ngồi viết gẫy gọn một lá thư hầu như đã mất nên Bố đành nắn nót tâm tư... qua hơi thở đứt đoạn và nhịp tim già nua chậm chạp! Sức khỏe người già vào mùa lạnh mong manh lắm, nghĩ đến đâu tâm sự đến đó vậy... Con cảm phiền đọc lên bằng trực giác thì may ra mới hiểu cái đầu suy nhược này còn nghĩ vơ vẩn những gì? Hai bàn tay của Bố hiện nay sáng thì run rẩy, chiều lại đau nhức chẳng qua vì đang lận đận với cái tuổi thọ lọt ra ngoài giới hạn trăm năm đời ngườ
Tạ ơn... Bâng quơ nhoẻn miệng cười mà nói đôi lời cảm tạ thì có gì khó đâu nhưng thổ lộ một lời tạ ơn bằng chánh niệm mới là điều đáng lưu ý để tâm! Tạ ơn Trời đã cho Bố tuổi đời trăm năm này ư? Bao đêm trằn trọc không ngủ vì tâm thân đau đớn hoảng loạn đến khi tỉnh táo là lúc lại đối diện với bối rối chẳng biết mình có phúc hay có tội mà phải sống tuổi già điêu đứng từng ngày? Tạ ơn các con đã thương xót thân già này ư? Trải qua bao lần nhắn nhủ, dù biết rằng mỗi đứa một tính nhưng thực tế vẫn dạ xót lòng đau bởi đa số các con thương để bụng rồi phát chướng! Xót như sát muối vào lòng cũng khó tiêu hóa để chuyển tình thương ấy ra hành động. Thân già cô độc vẫn hoàn cô đơn với nỗi buồn từng phút, từng giờ, từng ngày, từng đêm tháng này qua năm nọ... Thương mà vắng mặt, ở xa đã đành nhưng ở gần cũng thế, tìm cơ hội xa lánh người mình thương thì thương làm gì cho khổ tâm thân? Chẳng ích gì cho nhau cả! Quả thực, nghịch cảnh vô minh ấy đã vô hiệu hóa tình thương nên có đau có xót cũng chỉ pha thêm phần bạc bẽo... Nhiều lần trước mặt các con, Bố đã tỏ ý vui mừng nếu kết liễu được kiếp đời lê thê nặng nợ, xem như ấy là thượng sách chấm dứt tuổi già vô dụng với nỗi buồn lây lan làm ray rứt lòng thương nhưng sáng dậy vẫn thấy mình còn sống ngoài ý muốn.

     Quay lại câu chuyện Tạ ơn nhân ngày Thanksgiving 2014, dù hoàn cảnh nào thì gia đình mình cũng chân thành biết ơn nước Mỹ đã cưu mang chúng ta trong những năm đầu lưu lạc xa quê rồi bây giờ các con thành công ngay trên miền đất hứa. Lẽ thường ở đời, con người và sự việc đều bị giới hạn bởi không gian và thời gian, may hay rủi sống ngoài đường biên đã vạch sẵn thì phải tâm niệm sẽ khoác vào thân những ưu phiền. Ấy chính là phận già đau khổ này... Thỉnh thoảng có kẻ hồ đồ bảo rằng: “Cụ ơi sướng mà chẳng biết! Tuổi già như Cụ lẽ ra vào “tu” ở viện dưỡng lão lâu rồi... Còn được ở nhà như vầy là phúc bẩy mươi đời, than vắn thở dài làm chi cho tổn thọ”.

     Thôi thì mỗi người một ý... Tuổi già sống thọ mà đầu óc lú lẫn, ngồi cả ngày ngủ gà ngủ gật với
tã ướt thì có khác gì phận tù chung thân? Ai đã từng qua cầu, mới mong hiểu nổi dòng sông nước chảy nông sâu khúc nào! “Trẻ cậy cha, già cậy con
” là câu ơn nghĩa để đời nhưng phải chăng cái vế thứ hai vì sống vội mà con người văn minh ngày nay ít còn cơ hội khả thi? Tuổi già sáng dậy nhìn Trời cậy Phật chờ con nhưng họa hoằn mới có đứa một công đôi ba việc hững hờ đến thăm... Mỗi đêm nhắm mắt trên giường ngủ tưởng như đã nằm yên trong lòng đất nhưng may mà phiêu diêu được thì tối lửa tắt đèn cũng chẳng có đứa con nào hay biết!

     Tâm lý người già sợ nhất cảnh cô đơn nên nếu các con đã hiểu thì hãy thương cho tròn. Tình thương ấy không đánh đổi bằng tấm ngân phiếu kếch xù hay quà bánh đắt tiền mà chính là... thời gian. Một lúc nào đó trong ngày mà các con thấy trống vắng thừa thãi thì hãy mang đến tặng Bố giờ phút vô nghĩa ấy! Bản chất nó vô giá nhưng lại vô cùng quý báu nếu chia sẻ đúng đối tượng... Con dư biết, sáng chiều Bố lủi thủi hết ngồi lại nằm, cô đơn bên cạnh một người trả công chỉ biết im lặng canh chừng. Nếu con đến thăm, nhớ bỏ hết công việc và lo toan ở ngoài xe trước khi vào nhà, tránh cảnh thân tâm mỗi chỗ mỗi nơi để cha con sống thật những kỷ niệm cuối đời bên nhau. Người già như Bố đương nhiên ăn nói sẽ không còn mạch lạc hấp dẫn, xin con đừng nhăn nhó... Hãy nhẫn nại ngồi nghe như thuở nuôi con còn bé, Bố đã từng chăm chú theo dõi tiếng con bi bô học nói... lập đi lập lại nhiều lần một chữ từ ngày này qua ngày nọ liên hồi.

    Xin lỗi... Con nhận đi để Bố khỏi bị mặc cảm sống già là có tội, mỗi ngày mỗi tồi tệ và tương lai đang lùi dần về quá khứ bởi thân tâm này mang toàn cảnh vụng dại của một đứa trẻ tiềm ẩn vào thân xác một cụ già. Ấy chỉ là chuyện bình sinh chuyển hóa người già trở về con trẻ trước thời kỳ phải hóa thân đấy thôi... Nếu nghe Bố nói lăng nhăng đầu đuôi lẫn lộn thì hãy tha thứ vì đó là trạng thái bất ổn dẫn Bố từng bước tiến dần đến hồi chung cuộc và rồi chẳng bao lâu nữa, cha con mình sẽ phải vĩnh viễn xa nhau.

    Hãy kiên nhẫn với người già để mọi sân hận dễ từ bi buông xả tỷ dụ hôm nọ Bố lỡ tay đổ ly cà phê, bắt con phải chùi rửa cực khổ thì cũng đừng nặng lời như con đã làm bởi vì người già nhiều tự ái nên hay tủi thân. Con còn nhớ hay quên? Buổi trưa hôm ấy, nhìn con giận mà Bố thấy sợ hãi... như một đứa trẻ có phản xạ tự nhiên, Bố chỉ còn biết chắp tay niệm Phật cầu xin. Hối tiếc! Cha con mình cùng hối tiếc thì đã muộn.

     Mặc dù Bố luôn tha thiết cần sự hiện diện của các con như người bạn đồng hành trong khoảnh khắc nhưng đôi khi mơ màng ngồi gần nhau cả giờ im lặng... cũng đừng ngạc nhiên bởi khả năng tai với mắt của Bố đã suy yếu gần như mờ và điếc từ nhiều năm nay. Nếu Bố có lập đi lập lại câu hỏi không nghe rõ, dù khó chịu mong con vẫn nhẫn nại trả lời hay thảo xuống tờ giấy cho Bố đọc chứ lẳng lặng cắt đứt câu chuyện là điều khổ tâm vì nó khơi dậy cái tò mò bế tắc và tự ái bị khi dễ trong đầu kẻ đã đầy mặc cảm sa sút.

    Những lúc hiếm hoi ngồi gần nhau, con tránh bịt mũi rồi buông lời chê trách vì cái mùi dị biệt từ thân thể Bố toát ra. Người già có mùi của người già như trái chín trên cây thối ủng sắp rụng cành... Lẽ thường, đó là mùi tử biệt chẳng thể nào mãi mãi thơm tho như trái xanh trên cành. Cũng đừng lôi kéo bắt các Cụ phải tắm rửa thường xuyên vì tuổi già sợ lạnh và sợ nước. Thân thể họ gầy còm, yếu ớt, nhu nhược nên dễ bị đau ốm cảm lạnh, họ giống nhau ở điểm này nên con cần ghi nhớ mà thông cảm. Tuổi già sống nhiều với quá khứ vì thế Bố nhớ thuở còn bé, con chạy quanh nhà mỗi khi Mẹ bắt tắm và Bố phải đuổi theo, đến khi tóm được thì con vùng vẫy than khóc thật lâu mới ngừng. Kỷ niệm ấy con còn nhớ... hay đã quên?

    Nhẫn nại... Có lẽ chỉ cần thế thôi đối với người già! Các con phải hiểu thì mới thương rồi ân tình giúp đỡ. Nhẫn nại thăm nom chia sẻ, nhẫn nại ngồi nghe tào lao, nhẫn nại dọn dẹp vung vãi, nhẫn nại dắt đi quanh phố, nhẫn nại ngửi mùi khai thối, nhẫn nại chùi rửa vệ sinh và nhất là nhẫn nại giúp họ nhắm mắt thanh thản mỗi đêm... cùng với nụ cười. Từng ấy nhẫn nại, các con có thương thì mỗi người chỉ cần làm một chuyện. Thân già sống lâu mỗi ngày mỗi tệ hại rồi sẽ đến lúc không thể ngồi dậy, nằm trên giường thở, ăn và tiêu hóa. Đáng thương hay đáng tội còn tùy vào sự nhẫn nại hiểu biết của mỗi người.

Được như thế thì giây phút chia ly cuối cùng, Bố sẽ mãn nguyện ra đi và các con cũng khỏi phải nhỏ một giọt lệ than khóc vì chúng ta chẳng còn gì hối tiếc. Tất cả đã đầy đủ bổn phận, tình thương và hiểu biết khi nghĩ rằng mười giọt nước mắt ân tình rơi giữa đám tang thì bẩy giọt đã phát xuất từ sự ân hận, xin lỗi... muộn màng!

    Ai cũng biết “cha mẹ có trong con” nên ghét con là ghét chính mình vì thế bức thư này chỉ là một thông điệp nhắc nhở thương yêu. Điều chắc chắn một mai khi Bố ra đi gặp Mẹ, ở thế giới bên kia sẵn phép nhiệm màu, Bố sẽ phù hộ cho cuộc sống các con nhiều may mắn nhưng sẽ từ chối chúc các con phải sống đời trăm tuổi vất vả như Bố hiện nay... không những thế lại còn lây lan bao lo âu khó nhọc sang cả gia đình.

    Cuối thư, Bố xin tạ ơn đời, tạ ơn người...
Trong cái may có cái rủi và ở cái rủi đã có sẵn cái may, chuyện đời vô thường là thế
! Cầu mong quê hương nước Việt thật sự độc lập, dân chủ, hạnh phúc và đất nước hùng cường này mãi mãi no ấm thịnh vượng như mùa gặt cuối thu 1621 của người Pilgrim khởi đầu truyền thống Thanksgiving: Gia đình quây quần bên bếp lửa có gà Tây, ngô khoai, bí đỏ... với hương vị ân tình.

Hôn các con thật nhiều,

2014/11/23


 
(Nguyễn Phiên chuyễn bài)

 

Khách Sạn 22 - Khôi An


KHÁCH SẠN 22
 

 
Khôi An, giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2013, từng là một thuyền nhân. Từ tuổi học trò, cô cùng người em gái phải rời bố mẹ, vượt biển năm 1983. Mười năm sau, 1993, cô đã là một kỹ sư đại diện Intel đi “bàn giao kỹ thuật” cho các kỹ sư bản xứ tại phân xưởng Intel ở Penang, Mã Lai.



 

 

 

 

    Lisa choàng dậy, ngóc đầu nhìn. Xe bus vừa đi qua Palo Alto Highschool, nghĩa là chỉ còn vài phút nữa thì tới trạm. Nó gạt cái chăn mỏng sang một bên, chống tay ngồi dậy. Bên cạnh, Ba vẫn đang ngủ, đầu dựa vào cửa kính, miệng hơi há ra. Trong giấc ngủ mà trông ổng cũng như đang lo lắng chuyện gì, đôi lông mày nhíu lại. Lisa lặng lẽ xếp cái chăn rồi nhét vào túi xách dưới chân.

Đèn trong xe bật sáng, tiếng nói quen thuộc từ chiếc loa tự động phát lên “Xe bus đang vào trạm Palo Alto Transit Center, trạm cuối của tuyến đường 22. Xin mọi người chuẩn bị xuống xe.” Trong khoảnh khắc, trong xe ồn ào hẳn lên với tiếng ngáp, tiếng ho, tiếng lôi kéo hành lý, tiếng càu nhàu. Ba nó dụi mắt lia lịa, gài lại áo ấm rồi khoác mấy túi đồ đạc lên vai. Xe ghé trạm rồi từ từ ngừng lại. Người ta đổ xô ra cửa, Lisa và Ba cũng hòa vào dòng người, xuống xe.

Lisa đút hai tay vào túi áo. Tháng Mười rồi, đứng ngoài trời đêm mà không dấu kỹ thì chỉ một lát là hai bàn tay nó lạnh như nước đá. Từ xa, hai con mắt khổng lồ, vàng rực của chuyến xe đi hướng Đông đã hiện ra sau lớp sương mỏng. Lisa thở phào, nó sắp được chui vào trong xe ấm áp…

Chuyến xe về Eastridge Mall cũng gần đầy người. Như thường lệ, hai ba con Lisa nhanh chân giành được băng ghế cuối. Nó ngồi sát cửa sổ, nhìn ra ngoài. Con đường El Camino Real ở khúc này là đẹp nhất vì đi ngang qua thành phố Palo Alto, nơi nó nghe nói rằng chỉ có những người giàu kinh khủng mới có nhà ở đó. Xe đang đi dọc theo khoảng đất rộng hút mắt với những cây thông thật cao, dọc hàng rào có treo những tấm hình rực rỡ về trường đại học Stanford. Cái trường này nó biết vì mùa hè rồi trong những ngày trời nắng ấm hai ba con nó có lang thang đi bộ từ bến xe bus vô đó. Nó mê cái bãi cỏ mênh mông, xanh rờn ở phía trước tòa nhà mái đỏ ngay giữa trường, nhìn xéo qua ngọn tháp cao có cái nóc tròn trông giống như cây viết khổng lồ. Nằm ở đó nhìn lên thì trời xanh biếc, cây xanh nõn nà, nhìn chung quanh thì ai cũng tươi tốt, mạnh khỏe, tự tin. Nó nghĩ cảnh đó chắc giống như ở thiên đàng. Nó mê bãi cỏ đó đến nỗi có lần buột miệng hỏi “Ba ơi, nữa lớn con xin vô học trường này, được không Ba?” Ba nhìn nó, miệng há ra mà không nói được tiếng nào, một lát sau ổng mới thốt nên lời “Ờ…ờ…được chứ con… Con ráng hết sức thì… chắc được…” Nghe nói vậy nhưng nó không tin tưởng lắm vì điệu bộ của Ba nó giống y hệt như lần nó hỏi “Ba ơi chừng nào Mẹ về? “. Chỉ khác là hồi đó nó mới sáu tuổi và chưa hiểu “chết” nghĩa là không bao giờ về nữa.

Áp trán vào khung kính lạnh buốt và nhớ lại, nó nghĩ là muốn vô trường Stanford thì nó phải có cây đũa thần. Mà cũng chưa chắc, vì nếu cây đũa chỉ cho một điều ước thì nó sẽ ước cha con nó có một nơi để ở. Nó rất sợ thời gian ngủ lang thang trên mấy băng ghế lạnh ngắt trong những công viên tối thui. Có những đêm trời mưa lâm râm, hai ba con nó nằm ngược đầu đuôi trên băng ghế, đắp chung tấm nylon. Tiếng mưa lơi lộp độp trên nylon làm nó không ngủ được, thêm nữa nó cứ sợ ngủ quên mà trời mưa lớn thì ướt hết sách vở ở trong cái backpack gối dưới đầu. Sau mấy đêm như vậy, giờ hễ thấy trời âm u chuyển mưa là hai lòng bàn chân nó tự nhiên lạnh ngắt.

Cũng may mà hai cha con nó khám phá ra Khách Sạn 22.

Đó là cái tên mà những người không nhà đặt cho tuyến xe bus số 22.

Buổi chiều hôm đó, Lisa cứ nấn ná trên bãi cỏ xanh của trường Stanford nên tới hơn 8 giờ tối mới lên xe bus 22. Hai cha con định đi về khu phía Đông San Jose kiếm chỗ ngủ để ngày mai Ba còn đi xin việc làm ở mấy cái chợ Á châu gần đó. Lên xe, nó ngờ ngợ vì thấy xe đông hơn hẳn những chuyến bình thường, và ai cũng mang nhiều đồ đạc. Một bà ngồi ở băng ghế trước còn có cả một cái xe đẩy chất túi xách, chăn mền. Hơn hai tiếng sau, xe ghé trạm cuối ở Eastridge Mall, nó thấy phần đông khách trên xe lại xếp hàng chờ chuyến xe đi ngược lại. Lúc đó, hai ba con nó mới hỏi thăm và biết là có ba chiếc xe bus chạy vòng vòng trên tuyến đường này cho tới sáng. Từ ngày đó, hai cha con nó gia nhập Khách Sạn 22.

Đây là tuyến xe duy nhất chạy suốt ngày đêm của quận hạt Santa Clara, cũng là tuyến đông khách nhất và chạy con đường dài nhất. Bắt đầu từ Eastridge Mall ở phía Đông thành phố San Jose xe chạy qua đường Tully, quẹo trái đường King, dọc theo đường Santa Clara qua downtown San Jose, nối qua đường Alameda, lên El Camino Real, chạy qua ba thành phố Santa Clara, Sunnyvale, Mountain View trước khi vào thành phố Palo Alto rồi ghé vô trạm chót.

Bây giờ thì Lisa rành lắm rồi. Nó biết rõ đi một chuyến xe thì phải trả hai đô la. Nhưng hầu hết những người trên Khách Sạn 22 đều dùng vé tháng, mỗi tháng bảy chục đô la. Valley Transportation Authority của quận hạt Santa Clara, mà mọi người gọi là VTA, thỉnh thoảng còn cho những người không nhà hoặc những người sắp mất chỗ ở một tấm vé dùng được trong ba tháng. Mấy tấm vé miễn phí đó cũng hiếm hoi như một chỗ ngủ trong những nhà tạm trú (homeless shelter). Dù sao, chỉ tốn bảy mươi đô la mà có phương tiện đi lại và chỗ ngủ trong cả một tháng dài, đối với cha con nó lúc này, là một sự may mắn và vô cùng quan trọng.

 
*

Dù đã lang thang không nhà gần năm tháng, Lisa vẫn không nghĩ hai cha con nó là người homeless. Nó thấy chữ “homeless” nghe buồn bã quá, và chỉ hợp với những người chấp nhận là từ nay về sau họ sẽ không có nhà ở nữa. Ba con nó là những người “between homes”, nghĩa là đang kiếm chỗ ở.

Hồi xưa, lúc còn Mẹ, gia đình nó cũng có “home” trong một khu chung cư rất dễ thương, ở gần cái công viên thật rộng. Cuối tuần Ba tập cho nó chạy xe đạp còn Mẹ thì trải khăn trên thảm cỏ xanh rờn và nướng thịt bay mùi thơm phức. Tới giờ thỉnh thoảng nó vẫn còn nằm mơ thấy Mẹ cười thật tươi dưới tàn lá xanh lấp loáng ánh nắng công viên, và khi tỉnh dậy nó gần như chắc chắn là trong mơ nó đã ngửi thấy mùi thịt nướng.

Ngày đầu tiên nó vô lớp Một, Mẹ nó còn dắt nó đi học, còn đứng lấp ló ngó chừng, khi thấy nó không khóc Mẹ mới đi làm. Ngày Giáng Sinh năm đó nó còn vẽ tấm hình có nó, Ba, và Mẹ đánh son đỏ chót thiệt là đẹp. Vậy mà chỉ vài tháng sau Mẹ vô nhà thương. Bữa cô Cindy, em của Ba, hớt hải chạy vô xin cho nó về thăm Mẹ, cô giáo nắm tay nó và nói “Poor baby” (tội nghiệp cưng). Đó là lần đầu tiên nó thấy Ba khóc, nước mắt chảy ròng ròng. Và đó cũng là lần chót Mẹ mở mắt ra nhìn nó.

Sau đó Ba con nó dọn về ở chung với cô Cindy và chú Ben. Những chuyện xảy ra trong vài năm sau khi Mẹ mất, Lisa chỉ nhớ lác đác, tựa như đầu óc nó lạc trong một giấc ngủ dài sau khi Mẹ ra đi. Nhưng những chuyện gì đã nhớ thì nó nhớ rõ, thí dụ như là nó mới vô lớp Bốn thì Ba bị đau lưng. Chú Ben nói tại Ba làm cực, khiêng nặng mà không đeo thắt lưng bảo vệ. Ba bịnh chưa hết thì chú Ben mất việc làm. Ngày chú tìm được việc làm ở xa, hai cô chú và mấy đứa con phải dọn đi. Cô Cindy ôm hôn nó và nói “Con ráng ngoan nha”. Giọng cổ nghẹn ở mũi, nó nghĩ cổ nói vậy để khỏi khóc chứ ở chung mấy năm trời, cổ biết lúc nào nó chẳng ngoan.

Từ đó, hai cha con dọn một qua căn phòng nhỏ xíu. Ba vẫn đau lưng rề rề. Ba thuờng phải nghỉ làm, nằm một mình trong căn phòng đóng cửa tối mờ. Một ngày kia đi học về nó thấy trước nhà dán một phong thư. Đem vô đưa Ba coi, Ba không nói tiếng nào. Mãi đến khi ăn xong bữa tối Ba mới lấy thùng dọn đồ đạc vô và nói mình không có trả tiền nhà tháng rồi, chủ nhà gởi thư bắt dọn đi.

Bữa đầu hai cha con tới Commercial Street Inn ở San Jose. Sau khi đứng chờ ở một hàng dài, tới phiên hai cha con nó, cô thư ký lắc đầu:

- Ở đây là nơi tạm trú của các bà mẹ có con nhỏ.

Ba nó nài nỉ:

- Con tôi cũng nhỏ nhưng mẹ nó chết rồi. Cô làm ơn!

Cô ta vẫn lắc đầu:

- Mỗi phòng có bốn, năm đàn bà, con nít ở chung, làm sao tôi cho ông vô? Mà không có ông, ai chịu trách nhiệm cho con bé?

Thấy cha con nó ngần ngừ, ngơ ngác, không biết đi đâu, cô thư ký thương tình cho nằm đỡ dưới đất ngay trong phòng chờ đêm hôm đó. Hôm sau hai cha con lại dắt nhau đi.

Ba dắt nó vô thư viện coi nhờ Internet và xin tài liệu để đi tìm những shelter (nhà tạm trú) khác. Được bà coi thư viện tốt bụng in ra cho một danh sách các shelter trong quận Santa Clara con Lisa mừng quá. Nhìn thấy tới mười chỗ trong danh sách, nó chắc là cha con nó sẽ tìm được một nơi ở tạm vài tuần. Nhưng coi vậy mà không phải vậy…

Tuần lễ đó, hai cha con nó chỉ được ngủ trong shelter có hai ngày vì ở đâu cũng đầy người, nếu tới sau sáu giờ thì chắc chắn không còn giường trống. Có những shelter chỉ dành riêng cho những người bị bệnh tâm thần, và chỉ có một shelter dành cho gia đình chịu cấp phòng cho cha độc thân và con nhỏ. Có lần nó hỏi tại sao quận Santa Clara có tới hai chỗ cho những người mẹ có con nhỏ mà không có chỗ nào dành cho cha với con nhỏ, cô thư ký suy nghĩ một chút rồi nói:

- Bởi vì hầu hết những người có con nhỏ đến nhờ giúp đỡ đều là đàn bà. Em thông minh lắm, nhưng rất tiếc tôi không giúp được em. Người ta đặt ra những chương trình để phục vụ số đông. Cha con em là trường hợp đặc biệt.

Nó thấy buồn nhưng chỉ nắm tay Ba và trả lời: Vâng, cha của con là người rất đặc biệt.

Chỉ có một câu vậy thôi mà cả hai người lớn, cha nó và cô thư ký, đều chớp mắt như muốn khóc.

Trong mấy tháng cha con nó ngày nào cũng vô thư viện tìm thêm tài liệu về những shelter rồi đi xin khắp nơi. Nhờ đọc nhiều nên nó biết được là cứ mỗi đêm ở trong quận Santa Clara có tới hơn năm ngàn người không nhà cần chỗ ngủ. Mỗi shelter thường chỉ có mấy chục phòng, và có những nơi chỉ mở cửa vào mùa Đông. Hèn gì mà cha con nó thường phải ghi tên chờ tới phiên, có khi cả mấy tuần mới được.

Thời đó, cứ sau bữa ăn trưa là hai cha con lo tìm chỗ ngủ. Đi mấy chuyến xe bus mới tới nơi, người ta hết chỗ, đứng ngẩn ngơ vài phút rồi lại ráng đoán xem chỗ nào còn chỗ, leo lên xe đi tiếp. Rồi đêm xuống, vẫn còn ngoài đường, hai cha con thất thểu dắt nhau kiếm tòa nhà nào có chút mái che và sáng sủa cho đỡ nguy hiểm, rồi ráng quấn chăn cho ấm và ráng ngủ. Có nhiều đêm nó biết Ba sợ cho nó, bắt nó nằm vô sát vách rồi lấy chăn trùm kín mít. Vậy mà khi nó giật mình thức giấc vẫn thấy Ba mở mắt nằm thao thức.
 
*

Từ khi có Khách Sạn 22 làm nơi trú mỗi đêm, Lisa thấy đời sống của nó khá hơn nhiều.

Lúc đầu nó hơi khó ngủ vì xe cứ chạy rung rung rồi lại thắng ken két. Mỗi lần tới trạm loa phóng thanh còn phát tiếng nhắc nhở làm nó giật mình hoài. Những khi không ngủ được nó ngồi ngắm các hành khách. Lúc đầu khuya còn có những người đi làm ca đêm hoặc đi chơi về trễ. Những người này có vẻ vội vã, họ thường chăm chú bấm lia lịa trên điện thoại di động trong suốt chuyến xe. Qua hai giờ đêm, xe chỉ còn toàn là những người đi xe mà không có chỗ đến như cha con nó. Họ ngồi gật gù trong giấc ngủ chập chờn hoặc nằm co ro trên các băng ghế. Rồi nó cũng từ từ nằm xuống, gối đầu lên chiếc backpack, và thiếp đi.

Sau vài tuần nó đã quen. Nó có thể ngủ say nhưng luôn thức dậy khi xe tới bến chót, rồi lại ngủ tiếp trên chuyến xe ngược lại.

Điều làm Ba nó mừng nhất là trên xe bus an toàn. Về phần nó, nó thích nhất vì Khách Sạn 22 giúp mọi chuyện trở nên đều đặn. Mỗi sáng nó đi xe tới trường học, chiều về đón xe bus tới thư viện ở đường Alum Rock học bài. Tới giờ thư viện đóng cửa thì nó đi bộ qua tiệm Goodwill ngay gần đó. Tiệm này là nơi bán đồ cho người nghèo, những ngày Ba không đi xin việc thì ổng làm không có lương ở đây.

Những người lái xe chuyến 22 đều biết rõ là nhiều người không nhà dùng chiếc xe làm nơi ngủ nhưng họ không làm khó dễ. Chỉ cần những “hành khách đi không bao giờ tới” này tuân theo luật lệ, không ăn uống, hút thuốc, xả rác, hay làm ồn ào trên xe. Ông Tom, một trong những người lái xe, có lần nói:

- Đối với tôi, những người không nhà cũng như mọi hành khách khác. Nếu họ có vé thì họ được đi xe. Thường thường họ đều là người tốt, chỉ đang gặp khó khăn.

Thoát khỏi nổi lo lắng về chỗ ngủ đeo đuổi suốt ngày, Lisa học giỏi hơn trước. Có lẽ nhờ ngày nào cũng học trong thư viện nên năm nay nó đạt nhiều điểm cao nhất. Từ khi khai trường vô lớp Năm, nó thường xuyên được điểm A. Lần đi họp phụ huynh về, Ba nó ôm nó thật chặt rồi nói “Ba thiệt không dám tưởng tượng là con giỏi vậy!”

Bạn bè nó không ai biết là nó không có nhà, có lẽ vì hai cha con nó luôn giữ sạch sẽ, gọn gàng. Ngày nào sau giờ học nó cũng tới một trung tâm sinh hoạt cộng đồng có hồ bơi và phòng tắm cho người đi bơi. Nó hòa vô đám người đó tắm rửa rồi giặt quần áo, vắt khô bỏ vô bịch, sau đó trải một tấm nylon phơi lén ở cái bãi đậu xe đằng sau Goodwill.

Từ hồi tháng Chín, mỗi sáng khi xuống xe ở trạm gần trường, nó đều gặp một cặp vợ chồng với một đứa con trai nhỏ đón xe ở đó. Đứa bé chắc đang học lớp Một, giống như nó thời còn Mẹ. Lần đầu tiên nó nhìn họ từ trên xe bus, bà mẹ đang cúi xuống gài lại áo lạnh cho thằng bé. Không hiểu sao nó thấy cái cử chỉ đó, cái dáng điệu đó, giống in như mẹ nó ngày xưa. Lần đó, sau khi xuống xe, nó chậm bước nhìn họ cho rõ. Từ đó, lần nào gặp họ nó cũng phải nhìn, vừa nhìn vừa thầm mong cái buồn buồn xốn xang trong bụng đừng hiện ra trong con mắt. Có lẽ vì nó nhìn họ hoài, họ cũng nhớ mặt nó. Gần đây, ngày nào hai bên cũng nói Hello chào nhau. Thỉnh thoảng có ngày không gặp họ, nó cảm thấy chút gì như là mong nhớ…

Một đêm cuối tháng Mười, trên Khách Sạn 22 xuất hiện vài khuôn mặt lạ. Họ tự giới thiệu là phóng viên của báo San Jose Mercury News, nghe nói về nơi này và muốn tìm hiểu thêm. Lisa không muốn nhắc đến chuyện không có nhà nên kéo chăn che mặt, làm bộ ngủ. Ba chỉ miễn cưỡng trả lời vài câu hỏi và không đưa tên tuổi gì hết.
 
*

Lá phong trên hàng cây dọc con đường Alameda đã đổi màu, cửa kính của các nhà hàng đã xuất hiện hình vẽ gà tây bên cạnh những trái bí rợ. Màu cam, màu đỏ của mùa lễ làm Lisa thấy buồn buồn. Cái vui vẻ, ấm áp của người ta làm nó chợt nhớ rằng lâu lắm rồi nó không được nhìn thấy một nồi súp đang bốc khói, trên cái lò cháy đỏ, trong một căn bếp. Nơi mà các gia đình quây quần ăn bữa tối…

…Thứ Bảy, buổi sáng trời nắng ấm. Hai cha con nó xuống xe ở đường Santa Clara rồi đi bộ tới công viên Cesar Chavez. Có một nhóm người đang phát những thức ăn nóng tại đó. Nghe nói có súp đậu, gà nướng, khoai tán, và cả bánh nhân bí đỏ nữa. Những món ăn tuyệt vời, chỉ nghĩ thôi mà đã phát thèm! Nó nắm tay Ba nối đuôi xếp hàng, và háo hức chờ đợi. Chỉ còn năm, bẩy người nữa là tới phiên nó.

Bỗng tim nó thót lại!

Nó vừa nhìn thấy bà-mẹ-của-thằng-bé mà nó gặp hàng ngày đang tươi cười đứng trong đám múc đồ ăn cho đoàn người không nhà. Nó lôi Ba tách khỏi hàng, quay ngoắt đi, vội vàng như chạy trốn. Ba nó vừa rảo bước theo vừa hỏi “Sao vậy? Cái gì vậy? Lisa?” Nó không nói gì, chỉ cắm đầu đi. Qua một khúc quẹo, khi biết chắc là bà ta không thể thấy hai cha con nó, Lisa mới đứng lại. Rồi tự nhiên nó thấy giận. Giận vì mình không có nhà, giận vì mình sợ người ta biết, giận vì mình đã làm Ba mất một bữa ăn ngon. Nó bật khóc nức nở…

- Lisa, con ăn đi!

Tiếng Ba nó nhắc nhở làm nó trở về hiện tại. Nó đang ngồi trong một nhà hàng sang trọng ngay trung tâm thành phố San Jose, đối diện với ông Sam, bà Nancy, và thằng bé Danny (bây giờ nó đã biết tên của họ.) Ánh mắt của bà Nancy thật là vui và ấm áp. Nhưng nó vẫn thấy ngại ngùng, thắc mắc không hiểu tại sao họ cất công mời Ba và nó đi ăn. Không lẽ bà Nancy đã thấy nó bỏ chạy từ đoàn người xếp hàng xin thức ăn hôm nọ, và muốn đền bù cho hai cha con một bữa?

Sáng hôm qua, thứ Sáu, Ba và nó cũng mỉm cười chào gia đình thằng bé như mọi ngày. Bỗng ông Sam tiến tới bắt tay Ba rồi nói:

- Chào ông. Tôi là Sam, đây là vợ tôi, Nancy, và cháu trai Daniel. Chúng ta biết nhau khá lâu rồi, hôm nay tôi muốn được hỏi tên ông và cháu gái.

- Chào ông bà. Tôi là John, con gái tôi là Lisa.

Sau vài câu trao đổi, họ mời cha con nó đi ăn vào ngày mai. Ba nó cũng rất ngạc nhiên, ấp úng từ chối. Nhưng họ thuyết phục mãi, và bây giờ cha con nó đang ngồi đây.

Dù sao những món ăn trên bàn cũng quá hấp dẫn, và vẻ cởi mở, ân cần của hai ông bà cũng không có dấu hiệu gì đáng lo. Lisa bắt đầu cắn vào miếng thịt gà vàng rộm và mỉm cười với thằng bé Danny.

Khi Lisa vét xong muỗng kem tráng miệng cuối cùng, bà Nancy ngồi thẳng lên. Bà nhìn Lisa, rồi nhìn Ba, rồi nói:

- Cách đây hai tuần tôi thấy hình ông và cháu Lisa trên báo San Jose Mercury News.

Lisa nghe máu chạy một cái rần lên mặt. Nó không biết mặt nó đang đỏ bừng hay tái mét. Bên cạnh nó, Ba cũng có vẻ sững sờ. Hai cha con mở to mắt nhìn những người phía bên kia bàn.

Bà Nancy phác một cử chỉ như muốn nắm lấy tay nó. Bà tiếp tục nói, thật dịu dàng:

- Tôi có đưa bài báo đó cho nhà tôi coi. Ổng là giám đốc chương trình của một cơ quan thiện nguyện tên là Dịch Vụ Về Chỗ Ở Vùng Vịnh, và tôi là giáo sư ở trường Đại Học San Jose. Chúng tôi muốn giúp ông và cháu rời khỏi chiếc xe bus 22. Từ đó tới nay, chúng tôi đã gọi cho những người quen biết và tìm được một nơi có thể giúp ông và cháu. Thứ Hai, mời ông tới văn phòng….
 
*

Bây giờ hai cha con Lisa đã được cấp một căn phòng tại một nơi tạm trú cho các gia đình đang gặp khó khăn. Trong thời gian ở đây, Ba nó được đi học những lớp dạy nghề, và người ta hứa sẽ giúp Ba đi kiếm việc.

Mỗi khi nghĩ lại, Lisa thấy có nhiều việc liên hệ với nhau một cách diệu kỳ. Không biết có phải Mẹ đã đưa đẩy cho nó quen được những người tốt bụng để họ giúp đỡ cha con nó hay không.

Bây giờ ước mơ của nó là khi lớn lên sẽ làm giám đốc chương trình giúp đỡ nhà cửa cho người nghèo, giống như người ân nhân của nó. Khi đó, nó cũng có thể làm điều kỳ diệu cho những đứa bé không nhà khác, những đứa bé mà nó biết là có rất nhiều ở khắp nơi. Nó tin là nó sẽ làm được, chỉ cần ráng học thật giỏi và quyết tâm.

Và Lisa còn học được một điều mới nữa trong thời gian nương náu trên Khách Sạn 22.

Rằng, có những người thật sự có chiếc đũa thần, nhưng khi mới gặp mình không thấy được.

Bởi vì, chiếc đũa đó, họ cất ở trong tim.

Khôi An

 

Từ Đó Trăng Tàn Sớm - Thuyên Huy


Từ Đó Trăng Tàn Sớm

 


(Để tặng Phạm Thị Hoài Trang, người bỏ người đi cuối mùa hạ một chín bảy mươi)

 

Em đi từ đó trăng tàn sớm
Tôi kẻ độc hành trong bóng đêm

Ở đây hiu hắt Thu vừa chớm
Vàng lá sầu theo một nổi niềm

 

Sông xưa vẫn cứ đôi bờ rẽ

Phượng cũng buồn lây tuổi học trò

Quanh đây tưởng chừng ai hỏi khẻ
Sao nở bỏ nhau lỡ chuyến đò

 

Hong chút trăng tàn trong mơ tưởng
Xếp mối tình câm xé nổi đau

Bên trời xóm nhỏ chờ đêm xuống
Thầm khóc mà thương mộng ban đầu

 

Thu trãi sầu đan tay nổi nhớ
Hồn ai chết lặng giữa thềm hoang

Chấp tay giết mộng từ buổi đó
Còn chăng một nửa ánh trăng tàn...

 

Thuyên Huy

 

NƠI EM VỀ ĐÓ TRỜI QUÊN MƯA - Thuyên Huy


NƠI EM VỀ ĐÓ TRỜI QUÊN MƯA

 


Nơi em về đó trời quên mưa
Nắng buông từng sợi nắng giao mùa

Mùa thu quanh quẩn sân ga nhỏ
Người đứng cuối đường sợ tiễn đưa

 
Em bỏ đi ngày tôi mới yêu

Biết buồn theo từng chuyến xe chiều
Biết chờ người đến dù không hẹn

Để nhớ nhung sầu ngã bóng theo

 
Em thả tóc dài xuôi  gió thu

Áo ai cánh mỏng xếp sương mù
Phố Tây Ninh vẫn đôi bờ đục

Tôi giết tình tôi trong ý thơ

 Ai biết trời quên mưa bao lâu
Đêm nay chuông thiếu đoạn kinh cầu

Tôi gói đời mình đôi miếng vá
Miếng ngày đầu miếng của ngày sau

 
Đường về bên ấy cây lá thưa

Ở đây sông vẫn rẽ đôi bờ
Em bỏ đi rồi em có biết

Nơi em về đó trời quên mưa.

 Thuyên Huy

Thơ cỗ Lạc Tân Vương - Nguyễn Cang


Thưởng thc bài thơ hay bng ch Hán"Ti Ngc Vnh Thin" ca Lc Tân Vương (640-684)

                 (Nguyn Cang gii thiu và trình bày)

 



 
    Trong văn hc s kéo dài hơn 300 năm t sơ Đường ti thnh Đường ri vãng Đường, thnh Đường là thi cc thnh ca văn chương Trung Hoa vì đã xut hin nhiu tác gi vi nhng bài thơ ni tiếng cho ti ngày nay vn còn  được nhc nh. Tuy vy trong thi sơ Đường cũng đã có nhiu nhà thơ khác ni danh không kém. Lc Tân Vương là mt trong bn nhà thơ tiêu biu, được thiên h xếp vào hàng T kit: Vương Bt, Lư Chiếu Lân, Dương Quỳnh và Lc Tân Vương ca thi by gi.

Xin gii thiu bài thơ có ta đ “Ti Ngc Vnh Thin, mt bài thơ mang nét n d đc bit bng cách t “con ve su” đ nói lên tâm s mình ca nhà thơ Lc Tân Vương.

                       在獄詠蟬  (Tác gi: Lc Tân Vưong 駱賓王)        

Phiên âm: Ti ngc vnh thin ( tác gi: Lc Tân Vương)

 

1.  西陸蟬聲唱,       Tây lc thin thanh xướng

2.  南冠客思深            Nam Quan khách t thâm

3. 不堪玄鬢影             Bt kham huyn mn nh                              4.  來對白頭吟             Lai đi bch đu ngâm

5.  露重飛難進             L trùng phi nan tiến

6.  風多 響易沉             Phong đa hưởng d trm.

7.  無人信高潔,         Vô nhân tính cao khiết,

8.  誰為表予心             Thuỳ v biu dư tâm.

Xut x Năm 678 sau Công Nguyên, Lc Tân Vương đang làm Th Ng S  Tràng An ( mt chc quan nh trong triu). Nhiu ln vì câu chuyn văn chương mà sanh hiu lm đáng tiếc đi vi  Võ tc Thiên  nên  ông b tng giam. Bài thơ được làm trong lúc ông nm trong ngc. Đêm  đêm  nghe nhiu âm thanh trong đó có tiếng ve su bun thm, gây cm xúc  u hoài và  ông đã mượn tiếng ve đ nói lên ni lòng oan c ca mình.

Gii thiu tác gi: Lc Tân Vương Nghĩa Ô thuc U Châu tnh Chiết Giang,Ông tng gi chc v nh Tràng An. Sau vì bt mãn vi triu đình nên ông theo phò T Kinh Nghip chng li Võ Tc Thiên. Cuc binh biến tht bi ông b tù. Ra tù ông đi lang thang, không rõ tin tc , có người bo ông đi tu...

Chú thích t ng:

   vnh: dùng thơ ca đ miêu t.

   thin: con ve

   tây lc: ch mùa thu

   Nam quan: ch min Nam ( đây là nước S)

   bt kham: bt chp

   huyn mn : cánh mng con ve

  lai: đến

   bch đu: đu bc, tui già .

   Ý  câu 4/ Ve đang  gi tôi, mà tôi b giam  thì làm gi bây gi ? tác gi không  sao cm lòng cho được.

    Câu 5/ Sương móc khá đm làm ướt cánh ve nên ve không ct cánh bay lên được.

    Câu 6/ gió ln quá khiến tác gi không nghe được âm thanh bên ngoài cũng không còn nghe được tiếng ve ngâm;  chng khác nào ni kh đau, oan c ca tác gi phi chu by lâu nay.

    cao khiết:cao thượng và thanh khiết.

   ý câu 7/ tác gi và ve đu có tính cao thượng và thanh khiết ca người quân t mà không ai hiu cho.

   biu: bc l, bày t.

  ý câu 8/ ai là ngươi bc bach dùm ni oan ca ta nh?

Dch nghĩa:

                          Trong Ngc Ca Ngi Tiếng Ve

                       1/ Trong tù, ngày thu, nghe tiếng ve kêu,

                       2/ khiến tù nhân thêm nh nhà

                       3/ Bt chp cánh mng, ve vn đến gi

                       4/ ta bun vì đu bc (li đang trong tù)

                       5/ sương nng, cánh ướt,ve ct cánh không ni

                       6/gió mnh ,tiếng chìm mt khiến người tù không còn nghe được.

                       7/ta  và  ve vn tính cao thượng và thanh khiết mà chng ai tin.

                       8/ ai là ngươi bc bch h ta nh?

 Li bình:

Lc Tân Vương là người thích văn chương thơ phú, ông bt đu làm  thơ  ngay t lúc còn nh. S thích ny luôn đeo đui ông sut cuc đi. Khi lãnh chc v nh ti Tràng An, s nghip thơ văn ca ông càng phát trin mnh m, to điu kin cho ông kết bn vi nhiu người trong chn văn chương. Nhưng tiếc thay ông quên mt mt điu là mc du "văn chương vô mnh" nhưng cũng có th gây "h lu" đau bun v sau.  Ông thường đưa ra nhng ý kiến phê bình v tình trng bt công  xã hi, ông mun đt nước hùng mnh người dân được m no hnh phúc. Nhng đ ngh ca ông không được Võ Hu chp thun trái li còn b ghép vào ti khác, tng giam vào ngc. Trong thi gian theo phò T Kính Nghip, Lc Tân Vương có làm thay cho ch tướng mình mt bài hch rt ni tiếng ta là "V T Kính Nghip tho Vũ Chiếu hch", trong đó ông t cáo s tàn ác và thi nát ca triu đi Vũ- Hu, ri nói đến s cn thiết ca mt cuc khi binh. Nhân danh vic làm đi nghĩa đ chiêu d, đng thi ly thưởng pht công minh đ khích l. Văn phong tht hùng hn m l li đanh thép, hng hc khí thế đu tranh làm nc lòng quân sĩ.

        Theo nhn xét ca thy Trn Trng San thì "Bài ny được coi là mt kit tác ca th văn hch.  Cui đi Đông Hán, Trn Lâm làm bài hch vch ti Tào Tháo rt ni tiếng, nhưng xét ra thì không bng bài ny."   

        Trong thơ văn Vit Nam, thi hào Nguyn Du cũng đã có ln  lun bàn v “h lu ca văn chương” khi ông đc phn còn li ca quyn "Đc Tiu Thanh Ký" (讀小青記).  Ông không cm được xúc đng khi biết được câu chuyn tình đy thương đau ca nàng Tiu Thanh Tây H, Hàn Châu, TrungQuc. Tiu Thanh  là mt người con gái tài sc, tư cht thông minh, hc hành gii giang. Ngay t nh nàng đã thông hiu đy đ các môn ngh thut: cm kỳ thi ho. Năm 16 tui, nàng được gã làm v l cho Phùng Sinh, mt công t con nhà gia thế. Tiu Thanh  rt thích văn chương thơ phú, Tiếc rng nàng làm v l, b v  c đánh ghen, hành h khi khám phá ra tài thơ văn ca nàng.  Nhng câu thơ bng li yêu đương nng cháy đi vi chng làm bà v c ghen tc. Chính Tây H là nơi bà v c đày Tiu Thanh sng  trong cô đơn qunh qu cho ti chết. Trong cun "Đc Tiu Thanh ký" còn sót li hơn mt chc bài khi tp thơ b v c đem đt.  Nguyn Du xem sách mà chnh lòng, thương cm cho thân phn ca nàng Tiu Thanh, ông liên tưởng đến chuyn đi 300 năm v  sau, biết còn có ai khóc cho ông như ông đã khóc cho nàng Tiu Thanh hôm nay không? (Bt tri tam bách dư niên hu/ Thiên h hà nhân khp T Như?)

 

[ Nguyên văn chữ Hán:

              讀小青記

              西湖花苑盡成墟

              獨吊窗前一紙書

              脂粉有神憐死後

              文章無命累焚餘

              古今恨事天難問

              風韻奇冤我自居

              不知三百餘年後

              天下何人泣素如

. Phiên âm Hán – Việt : Độc Tiểu Thanh kí:

              Tây hồ hoa uyển tẫn thành khư,

              Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.

              Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

              Văn chương vô mệnh lụy phần dư.

              Cổ kim hận sự thiên nan vấn,

              Phong vận kì oan ngã tự cư

              Bất tri tam bách dư niên hậu  

              Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.]

 Qua phân tích ta thy hai người: Lc Tân Vương và Tiu Thanh cng yêu thích văn chương, nhưng cách th hin tài năng nhm mc đích khác nhau và "h lu" sau cùng ca hai người li ging nhau, mt chết mt b tù.

       Trở lại bài thơ "Tại Ngục Vịnh Thiền" của Lc Tân Vương. Đây là bài thơ ngũ ngôn bát cú Đường lut, lut trc, vn trc, gồm 8 câu, mỗi câu 5 chữ đã gói trọn tâm tư tình cảm của tác giả. Vần được gieo ở cuối các câu 2,4,6,8 (thâm, ngâm, trầm, tâm).

                *Đề (câu 1&2 ) 

1. 西陸蟬聲唱           Tây lc thin thanh xướng

2. 南冠客思深          Nam Quan khách t thâm    

Mở bài tác giả giới thiệu một một nhân vật đặc biệt: người tù.

 Bối cảnh: thời gian mùa Thu cho ta biết cảnh vật u buồn, lá vàng rụng bên song cửa, sao mà hiu hắt! Bên ngoài có tiếng ve ngâm tha thiết, nức nở như cứa miết vào không gian làm tăng thêm nỗi sầu của người tù bất hạnh.

Nỗi nhớ nhà sao mà nhức nhối : nào vợ nào con , nào bạn bè thân thiết không biết bây giờ ra sao? Cảm giác mất mát nầy không ai hiểu nổi bằng chính người tù.

           *Thực ( câu 3&4):

   3. 不堪玄鬢影               Bt kham huyn mn nh                                      

   4.  來對白頭吟             Lai đi bch đu ngâm

           Trong một phút bất chợt, người tù cảm nhận được tiếng kêu  nghe lớn hẳn và ve kia đang bay lại gần để chuyện trò, tâm sự với người tù. Tâm trạng lạ lùng nầy chứng tỏ người tù còn nuôi một chút hy vọng, cái hy vọng tuy mong manh lại có giá trị như một an ủi vô biên. Ở đây tác giả đã dùng phép nhân cách hoá để ve sầu biết suy nghĩ, nói năng, tâm sự với người tù.  Âm thanh bên ngoài, tiếng ve kêu hay bất cứ tiếng động nào cũng được người tù chú ý để biết chuyện gì đang xảy ra, biết một thế giới thực mà người tù cần có như một sinh vật cần không khí để thở.  Nguồn sống nhỏ nhoi đó lại là một nguồn kích thích cho sự tồn tại của con người ở thế gian nầy.

     * Luận (câu 5&6) :

  5.  露重飛難進             L trùng phi nan tiến

  6.  風多響易沉              Phong đa hưởng d trm.

  Nhưng hỡi ôi! Người tù tưởng được nói chuyện với chú ve kia nào ngờ giờ đây tuổi già sức yếu biết còn sống được bao lâu? Nguồn hy vọng chợt tắt khi ngoài trời sương lạnh xuống thấp, tuyết phủ đầy trên cành cây ngọn cỏ, khiến cho ve bị ướt cánh không bay lên được, còn người tù  thì  vì gió quá to nên không  nghe được âm thanh bên ngoài cũng như tiếng nói của chính mình. Đêm càng khuya sương lạnh càng xuống nhiều, chú ve sầu mệt mỏi, cánh ướt nặng trịch, nó bám chặt vào nhánh cây sồi trơ lá,  cất lên tiếng kêu rè rè  như tắt nghẽn , như đứt hơi. Người ta  có cảm tưởng như đó là tiếng dế, tiếng côn trùng  chớ không phải là tiếng ngâm râm ran, tha thiết, ảo não của con ve sầu vào những buổi trưa hè thanh vắng. Đó cũng chính là hình ảnh của tác giả mượn xác ve để nói lên nỗi bất hạnh và sự bất lực của mình.

      Về mặt nghệ thuật, tác giả sử dụng  phép ẩn dụ kết hợp với  nhân cách hoá con ve như một người có ý thức biết đối thoại và thông cảm nỗi đau của tha nhân. Tác giả tự cho mình và ve có những đức tính cao thượng, thanh khiết của người quân tử mong người đời thấu hiểu, và cũng mong bà Võ Hậu tha tội để ông về sống bình lặng với gia đình. Nhưng thương thay! Lời nói của ông như nước chảy qua cầu để rồi sau cùng ông kêu lên trong  tuyệt vọng: Ai người bộc bạch cho ta bây giờ?

     Kết (câu 7&8):

 7.  無人信高潔,         Vô nhân /tính cao khiết,         (2/3)

 8.  誰為表予心              Thuỳ v/ biu dư tâm.             (2/3)

    Tiếng "Thuỳ" đặt ở đầu câu, đóng vai trò một nghi vấn đại danh từ. Ai? Người nào? Tác giả khéo dùng để diễn tả một tiếng kêu khẩn thiết, âm thanh như đứt đoạn làm chạnh lòng trắc ẩn, xót thương cho kẻ bị hàm oan. Thơ ngắt nhịp điều đặn 2/3, diễn tả nỗi thất vọng, sầu thảm kéo dài, đồng thời cũng nói lên khát vọng tư do của người tù, mong mỏi thiết tha được giải oan để sớm trở về xum họp với gia đình và người thân. Người đọc cảm nhận một cách sâu sắc những bất hạnh của tác giả và sẵn sàng chia xẻ niềm đau.

Bài thơ khép lại nhưng nỗi buồn còn đọng trong tim. Tác giả diễn đạt thật mạch lạc, xúc tích, hàm chứa nỗi oan khiên bất tận, biết đến bao giờ mới được giải toả?  Bài thơ theo bút pháp truyền thống của lối thơ cổ điển Trung Quốc thời Sơ Đường nhưng ngôn ngữ được sử dung một cách khéo léo để mô tả tình huống và tâm trạng có thật của người tù, gây xúc động mạnh mẽ cho người đọc.

           Dịch bằng thơ:

Trong ngục vịnh ve sầu 

( người dịch: Nguyễn Khuê)

 Thu đến ve vang tiếng,

Người tù ý thiết tha.

Cánh đen* kham chẳng nỗi,

Đầu bạc tới ngâm nga.

Sương nặng bay xa khó;

Gió nhiều tiếng thoảng qua.

Ai tin chuyên cao khiết,

Mà lòng tỏ hộ ta.

 

Chú thích: Từ "huyền mấn" thầy Nguyễn Khuê dịch là "cánh đen", theo suy nghĩ của tôi thì thầy dịch theo nghĩa đen, dựa vào phép đối trong câu 3 và 4 của bài thơ ngũ ngôn  bát cú  Đường luật, "huyền" đối với "bạch"( tức "đen" đối với "trắng") rất chỉnh, nhưng khi dịch ra âm tiếng Việt thì nghĩa không hay. Theo thiển ý của tôi  có lẽ nên dịch theo nghĩa bóng "cánh mỏng" như nhiều tác giả khác thì nghĩa rõ hơn.

Tham khảo: "huyền mấn": mũ cánh mỏng. Theo Yên Hoa ký: Cung nhân nước Nguỵ chế mũ cánh mỏng như cánh ve sầu.

            Nguyễn Cang