Tuesday, December 26, 2023

Sống Chết Ở Sài Gòn - Hoàng Hải Thủy

 

SỐNG, CHẾT Ở SÀI GÒN…




 

Bồi hồi tưởng nhớ những cây mưa đầu mùa năm xưa ở quê nhà. “Cây mưa”! Đúng là cây mưa. Những năm 1956, 1957 xanh xưa tôi còn trẻ, trong loạt bài gọi là phóng sự tiểu thuyết Vũ Nữ Sài Gòn, tác phẩm đầu tay của tôi, tôi viết: “Sài Gòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp vừa mới tắm xong…”

Hoàng Hải Thủy (trích “Sống, chết ở Sài Gòn)

 

Ôi cố hương xa nửa địa cầu
Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau

 

Ôi cố hương xa nửa địa cầu
Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau…

Ngày mới đến Hoa Kỳ tôi nói: “Tôi mang Sài gòn trong trái tim tôi…” Tôi muốn nói tôi yêu Sài Gòn, tôi đã sống đến bốn mươi năm trong lòng thành phố Sài Gòn thương yêu, tôi đã vui buồn, đã đau khổ với Sài Gòn. Nay phải đi xa, tôi mang Sài Gòn theo tôi nên tôi sẽ không thấy nhớ Sài Gòn!

Sự thật không như tôi nói, không như tôi tưởng.

Trước hết, câu nói ấy có cái giọng của Sáu Keo: “Miền Nam trong trái tim tôi…”

Dù tôi có yêu thương Sài Gòn đến chừng nào đi nữa – là Công Tử Hà Đông bên hông Hà Nội, Bắc kỳ chính cống Bà Lang Trọc nhưng tôi yêu Sài Gòn hơn tôi yêu Hà Nội -, dù tôi có sống với Sài Gòn lâu đến chừng nào đi nữa, khi phải xa Sài Gòn tôi vẫn nhớ thương Sài Gòn. Nhớ thương vỡ tim, xé gan, cháy lòng, đứt ruột như nhớ thương người đàn bà mình yêu, người đàn bà đa tình yêu mình cực kỳ, cho mình hưởng tất cả, mình từng sống hạnh phúc bên nàng mà mình phải xa nàng.

Đêm cuối năm, mưa rơi suốt đêm trên Rừng Phong.

Canh khuya trằn trọc nằm nghe tiếng mưa đập vào khung kính cửa sổ, tưởng như đang nằm nghe mưa rơi trên mái ngói xanh rêu trong căn nhà nhỏ ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ Sài Gòn.

Bồi hồi tưởng nhớ những cây mưa đầu mùa năm xưa ở quê nhà. “Cây mưa”! Đúng là cây mưa. Những năm 1956, 1957 xanh xưa tôi còn trẻ, trong loạt bài gọi là phóng sự tiểu thuyết Vũ Nữ Sài Gòn, tác phẩm đầu tay của tôi, tôi viết: “Sài Gòn sau cơn mưa lớn sạch như người đàn bà đẹp vừa mới tắm xong…”

Hơn bốn mươi mùa mưa sau nhớ lại, thấm và thấy đúng biết chừng nào. Sài Gòn của tôi thuở 1956-1960 thanh bình sau những cơn mưa lớn, nhất là những cơn mưa đêm, sạch như người đàn bà đa tình yêu tôi, tôi yêu, khi nàng mới tắm xong.

Sáng nay mưa vẫn rơi trên Rừng Phong.

Người tha hương lúc nào cũng nhớ quê hương.

Tết đến. Tết là dịp đoàn tụ gia đình. Tết đến, người tha hương nhớ thương quê hương hơn. Những lời thơ Thanh Nam ray rứt trong tim tôi:
Ôi cố hương xa nửa địa cầu
Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau.
Đâu đây trong khói trầm thơm ngát
Hiện rõ trời xuân một thưở nào.
…..
Tỉnh cơn mê sảng âm thầm
Ngó ra đất khách mưa xuân hững hờ
Tháng Tư, cơn sốt đầu mùa
Gợi trong tiềm thức những giờ oan khiên
Ghé thân lữ thứ trăm miền
Nỗi buồn nào cũng mang tên Sài Gòn!


Tháng Chạp Tây, bánh xe lãng tử đưa tôi đi một vòng Cali. Đêm cuối năm trong một thành phố nhỏ, tôi xem một phim video về Hà Nội do những người Hà Nội làm. Thành phố Hà Nội được người Hà Nội yêu thương quá cỡ. Hà Nội được yêu thương trước 1945, Hà Nội được yêu thương sau 1945. Có đến 50 bài thơ, bản nhạc được làm để ca tụng Hà Nội và diễn tả tình yêu Hà Nội. Trong khi đó thành phố Sài Gòn thương yêu của tôi có gì? Thành phố Sài Gòn của tôi được thương yêu, được ca tụng như thế nào? Bao nhiêu? Một bài Sài Gòn Đẹp lắm Sài Gòn ơi của Y Vân, một bài Vĩnh biệt Sài Gòn của Nam Lộc. Còn gì nữa??

Tôi sẽ viết về thành phố Sài Gòn và tình yêu Sài Gòn.

 

Hoàng Hải Thủy ,

Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
Gửi các bạn tôi, sống, chết ở Sài Gòn…

 

 

Em Hãy Còn Thơ - Lưu Trọng Lư

 

EM HÃY CÒN THƠ


Thủa ấy, tôi còn học ở trường Quốc học Huế. Năm tôi mới trọ ở nhà bà Vĩnh thì tôi vừa lên năm thứ ba ban Thành - Chung. Bà Vĩnh không phải là một người "nấu cơm" cho học trò. Bà là vợ hầu một ông Phủ đã về hưu. ông Phủ thường ở nhà quê, gần dưới Truồi. Một năm ông chỉ lên Huế một lần vào độ sau ngày đông chí, đến hết mùa đông thì ông lại trở về Truồi với bà vợ cả. Năm nào cũng chừng mực như thế, kể ông còn đứng đắn hơn thời tiết nữa. Nhưng ông ấy, không dính dáng gì đến chuyện tôi kể đây. Mà cả bà ấy cũng vậy. Chỉ có người con gái yêu quí, nhưng...




Ta hãy trở về khoảng chín, mười năm về trước, khi người viết truyện này còn là một cậu bé học trò. Bấy giờ tôi mới mười bảy tuổi, tôi không đẹp - không bảnh - nhưng mà béo tốt hơn bây giờ nhiều. Hồi đó tôi còn là một kẻ thích thể thao và thích nhất bơi lội. Có một lần tôi đã bơi qua sông Hương và suýt nữa khắp kinh thành sắp nói đến tôi, nếu tôi đã chết đuối. Ngực tôi rất nở, và tôi lấy thế làm kiêu hãnh vô cùng. Tôi thường chỉ vào đấy và nói với nhiều bạn tôi : "Chỉ có tôi mới là người đáng sống và thế giới sẽ thuộc về những người có những bộ ngực nở như tôi" ý tôi còn muốn nói : "Trong ấy có cả những người đàn bà, cũng thuộc về tôi nữa." Nhưng than ôi! Tôi đã lầm một cách cay độc. Thủa ấy, chưa có phong trào thể thao phụ nữ, các bà, các cô chưa quý những bộ ngực nở. Và cái khiếu thẩm mỹ của họ, lúc bấy giờ, cũng chưa được trau dồi, mở mang; họ chỉ thích những cái gì yếu ớt, lả lướt, thướt tha. Nở nang hùng hồn, như cái ngực của tôi, họ không cho là đẹp. Tôi cũng không trách họ, ngay như bọn đàn ông lúc bấy giờ cũng không hơn gì họ, cũng chưa biết quý trọng những cái vế khỏe, những đôi vú nở. Âu là thiên hạ lúc bấy giờ đều chậm trễ cả, duy có tôi là tiến mà thôi, duy có tôi là có óc thẩm mỹ khác người mà thôi. Nhưng truyện tôi kể đây không phải là truyện một bộ ngực, mà là truyện cái vật thiêng liêng, quý hóa, giấu ở trong cái bộ ngực ấy. Truyện một tấm lòng. Một tấm lòng muốn yêu, tha thiết yêu, khao khát yêu. Vâng, tôi đã yêu từ khi tôi mới bắt đầu cái năm thứ mười bảy. Yêu, điều ấy không sao! Nhưng, không nỗi, tôi đã yêu một cách thẳng thắn, trực triệt quá, yêu với một "tinh thần thể thao". Ở đây, các bạn đã bắt đầu thấy sự liên lạc của cái ngực nở của tôi với cái chuyện tâm tình mà tôi sắp kể.

Tôi xin nhắc lại : bà Phủ Vĩnh, không phải là một người "nấu cơm học trò". Bà nhận cho tôi ở trong nhà, là vì bà thấy tôi học đã khá, bà muốn lấy tôi làm một cái gương sáng luôn luôn ở cạnh những đứa con của bà. Bà không buộc tôi phải dạy thêm cho lũ con bà, nhưng những khi rảnh, tôi cũng xem sét sách vở hộ, và tường thuật cho bà nghe cái học lực, từng tháng, của mỗi người con cho bà biết. Trong lũ con bà, tôi mến nhất là cô Hảo - một cô bé bấy giờ độ mười tuổi, học lớp ba trường Ðồng Khánh. Hảo rất ngoan, những khi đi đâu về, Hảo thường đến ở cạnh tôi, phòng tôi có sai bảo gì. Hảo thích nói chuyện với tôi. Mà tôi cũng vậy, được nói những câu tẩn mẩn với Hảo, tôi cũng lấy làm thú lắm. Rồi cái thú đó cũng thành một sự cần, ngày nào tôi không nói chuyện với Hảo, tôi có cảm tưởng như thiêu thiếu một cái gì. Mà đại loại những câu chuyện của chúng tôi là những câu chuyện vẩn vơ, ngớ ngẩn không đâu vào đâu như những câu chuyện giữa bà với cháu vậy. Tôi thường hỏi Hảo :

- Sau này, Hảo sẽ làm gì?

Hảo không ngần ngại đáp:

- Hảo sẽ cầm máy bay...

Tôi biết rằng Hảo đã nhiễm lấy cái bệnh "thể thao" của tôi. Nhưng câu đáp ấy tôi không lấy làm ưng ý lắm. Có lúc tẩn mẩn tôi lại hỏi Hảo một câu khác thiết thực hơn, táo bạo hơn :

- Sau này Hảo có lấy chồng không?

Hảo cười :

- Sao lại không cơ chứ?

- Nhưng lấy ai?

- Hảo chỉ thích những ông bác sĩ.

Tôi hiểu Hảo lắm, Hảo thích những ông bác sĩ cũng tại những ông bác sĩ thuở bấy giờ ở trong con mắt Hảo khi mổ xẻ, khi châm chích, trông có vẻ hoạt động, và tuy rằng làm "quan đốc" không lủng thủng, thướt tha như những ông quan Huế ở các bộ. Cái óc ghét quan ấy của Thảo cũng lại chực ảnh hưởng cái tinh thần "thể thao" của tôi nữa.

Bấy giờ, thật tôi yêu Hảo hơn một người em của tôi nữa. Mỗi khi về quê lên, tôi cũng cho đó là một dịp tốt để cho tôi mua tặng Hảo những đồ chơi hay vật dùng. Có một lần, tôi cho Hảo cả một tập album của tôi : trong ấy, tất cả những kỷ niệm của tôi lúc còn nhỏ cho đến bây giờ. Nào là ảnh các anh chị tôi, ảnh cái nhà mà tôi sinh trưởng, ảnh đình làng, ảnh cái miếu Khổng-Tử, ảnh khi tôi lên tám, đúng cạnh con chó, ảnh tôi vừa chụp lúc nằm chơi trên một bãi cỏ v.v... Bên cạnh những tấm ảnh ấy, tôi có đề những câu thơ mạnh mẽ, mà tôi mới tập làm - hay những ý nghĩ rất "hùng hồn" của tôi.... Thật tôi đã trao gửi cho em bé tôi, tất cả cái đời tôi vậy. Chỉ một việc ấy cũng đủ thấy tôi yêu tin Hảo biết mấy! Nhưng chuyện đến đây không phải là hết, mà là mới bắt đầu... Và chính lúc này một người đàn bà, một thiếu nữ mới đến trong đời của chúng tôi. Thiếu nữ là cháu gọi bà Phủ bằng dì. Nàng học năm thứ hai trường Ðồng-Khánh; và lúc ấy, nàng vào khoảng mười sáu tuổi. Tôi phải nói mau: nàng không khỏe mạnh lắm, cũng như tất cả các cô gái Huế, nàng dịu dàng như sông Hương, và lả lướt như núi Ngự... Cái đẹp bộc lộ ấy không đủ để cám dỗ tôi, tôi là người có tinh thần thể thao. Tôi chỉ yêu nàng bởi đôi mắt... Ðôi mắt của nàng là mùa thu bất tuyệt của Tiên-giới, là cảnh trong ngần của tuyết sương, là niềm ân ái không cùng. Tôi không thể đánh đổi nó, cho tất cả vàng ở thế gian. Tiếc rằng cái kho tàng ấy than ôi! trời đã định rằng : không phải của tôi, dầu sự tình cờ dun rủi cho nàng một ngày gần tôi... Trước kia thỉnh thoảng tôi mới gặp nàng. Vào quãng tháng tư, vì nhà nàng ở mãi Kim-luông xa trường quá, nên buổi trưa nàng phải ở lại nhà dì nàng, đợi đến đầu tháng tám là tháng mưa gió, nàng mới được ở luôn bên nhà dì nàng cho tiện học.

Tôi đã được ăn cơm với nàng luôn. Nhưng biết được đôi mắt của nàng, khám phá được cái kho tàng ấy là vào một ngày giờ hơi lành lạnh. Có thể như thế không? Tôi quen nàng gần một năm trời, mà tôi không biết đến đôi mắt sinh đẹp của nàng? Cũng tại không bao giờ tôi dám nhìn thẳng vào mặt nàng cả.

Một hôm, cả nhà bà Phủ về quê vắng, trong nhà chỉ còn tôi với nàng mà thôi. Một sự không thể nào tránh được : tôi phải ngồi lại ăn cơm với nàng.

Ngoài hai chúng tôi ra, không còn ai hết. Lần đấu tiên, tôi thấy ngượng nghịu, ngập ngừng trước nàng. Rồi tình cờ, bốn mắt chúng tôi gặp nhau. Nàng cúi mặt, mà tôi cũng cúi mặt... Nhưng tù đấy tôi mới hiểu, thế nào là cặp mắt của một người thiếu nữ đến thì. Tôi thấy tâm hồn rạo rực xao xuyến, tay chân tôi lóng cóng và đôi môi tôi ngập ngừng trước chén rượu mạnh là ái tính của nàng. Ðôi mắt nàng đã biến đổi tôi thành một người khác, và đưa tôi vào một thế giới u huyền và kỳ lạ. Cái nhìn của nàng đã làm phát động, nảy nở ở tôi, một nguồn cảm giác, sáng lạn, mới mẻ... Tôi không dám tự hỏi tình yêu là gì, và chỉ nắm lăn như một cánh hoa lạ trên những đầu cỏ mởn, theo một làn gió dịu... Hôm ấy, tôi không thể nói được gì với nàng. Hôm sau, tôi viết cho nàng một bức thư:

Cô Tâm,
Tôi đã yêu cô, yêu với tất cả tâm hồn tôi. Vì cô có đôi mắt đẹp quá, nó là mùa thu của trời đất, và của cõi lòng tôi. Mặt trăng dịu tỏa trong đôi mắt ấy, và trong ấy nở những cánh hoa không bao giờ tàn, không bao giờ rụng. Cô Tâm ơi! Tôi yêu cô. Tôi chỉ có thể nói được như thế mà thôi. Tôi ước sao một ngày kia cô sẽ là người bạn trăm năm của tôi, gần tôi luôn, gần tôi mãi; một ngày kia, tôi có thể thổi vào tóc cô, cái hơi nóng của tuổi trẻ, tôi có thể đặt lên làn da mát của cô, cái hôn nóng của kẻ yêu.
Tôi chỉ muốn có thế. Tôi chỉ muốn thờ phụng cô, trọn đời, trọn kiếp. Tôi là một người có tinh thần thể thao, lời tôi nói đây mạnh hơn một lời thề...
Kính thư
Huỳnh Lê
Bức thư tôi viết, bẳng một giọng thẳng thắn, cố nhiên là đột ngột và sống sượng. Vì bao giờ tôi cũng là một người có tinh thần thể thao. Tôi không biết có sự bóng bẩy, xa xôi, không biết dùng những tưởng tượng. Tôi chỉ muốn rõ ràng, và tôi quả đã rõ ràng. Tôi đã yêu. Tôi liền viết thư để xin người ta một chút tình yêu. Và tôi sẽ yêu bằng cánh nào, tôi cũng có viết rõ ràng cả. Tôi chỉ có cái tội là quá ngay thực mà thôi.

Lạ quá! Sau khi tôi bảo Hảo đưa bức thư cho Tâm, hơn hai ngày rồi mà không thấy Tâm trả lời. Tôi nóng ruột quá. Tôi giục Hảo đến hỏi Tâm xem, thì Hảo chỉ bảo tôi là Tâm không nói gì cả. Ngày thứ tư tôi vẫn không thấy thư đáp. Tôi đã quen nhìn Tâm - và Tâm cũng đã quen nhìn tôi. Nàng chỉ cười... Tôi chỉ sợ nàng có ý chế nhạo tôi. Ngày thứ năm, tôi đã bắt đầu đau khổ. Tôi xin phép ở nhà, luôn một ngày, đóng chặt cửa lại, trùm chăn từ đầu đến chân, nằm nghĩ vơ vẩn. Tôi lại giục Hảo, hỏi dò tin tức. Có lẽ Hảo đã biết rõ sự thực, nhưng cô bé ấy vẫn không chịu nói với tôi một điều gì cả. Tôi đã đọc thấy vẻ lo ngại trong đôi mắt của cô bé. Một hôm, trời lạnh quá, tôi lại không đi học, trùm kín chăn lại, thì Hảo ở trường... Hảo đi rất nhẹ, không dám đụng vào bàn ghế, và như nín cả hơi thở nữa. Tôi không mở chăn ra, nhưng cảm thấy Hảo đã ở bên cạnh tôi, và như thế đã gần mười năm phút... Tôi có cảm giác rằng : Hảo muốn nói với tôi một điều gì, chẳng hạn, Hảo muốn cho tôi hay sự thực, tôi hồi hộp cảm động quá, nóng biết quá, dầu tôi đã đoán trước sự thực. Nhưng tôi không muốn nàng nói ra, để tôi còn có một chút hy vọng... Tôi sợ cô bé ngây thơ ấy lại nói toạc ra thì nguy cho tôi quá. Nhưng Hảo vẫn chưa nói gì, có lẽ không bao giờ nói... Tôi nghe như Hảo nhích lại gần tôi. Hình như Hảo đã cúi xuống ở bên tôi... Hơi thở Hảo đã phớt ở trên đầu tóc tôi. Bỗng tôi nghe Hảo nói khe khẽ, tiếng nói như xa xăm tự một giấc mộng, lại.

- Anh Lê, chị em hứa sẽ trả lời anh, anh hãy hy vọng...

Cô bé ấy đã đánh lừa tôi, tưởng như thế sẽ làm tôi bớt khổ. Tôi vẫn không trả lời nhưng Hảo đã đưa tay kéo chăn tôi xuống, nhìn thẳng vào đôi mắt còn ướt của tôi và nói :

- Anh khóc à? Anh đừng khóc nữa, để em bảo chị em trả lời.

Tôi tưởng như Hảo là người chị cả của tôi vậy

Tôi nhìn cô bé gượng cười:

- Em yên lòng; anh sẽ không khóc nữa đâu.

Rồi tôi đúng dậy, chỉ vào ngực và nói với Hảo:

- Anh sẽ mạnh và không bao giờ yêu ai nữa...

Hão cầm lấy tay tôi cười một cách sung sướng. Tôi cũng cười, và kéo Hảo vào lòng, đặt nhẹ một cái hôn trong sạnh trên vừng trán ngây thơ...

Và từ đấy, tôi xin đi ở chỗ khác.

Tôi đã xa Hảo dần dần, và khi tôi học tại Hà Nội thì không còn dịp gần Hảo nữa, từ đấy đến nay đã hơn tám, chín năm rồi...

Tám, chín năm rồi, tôi mới lại trở lại Huế.

Một hôm, tôi tới thăm một người bạn ở Kim Luông. Ði khỏi chợ, một đoạn, tôi thấy một ngôi hàng sách nhỏ, rất sơ sài nhưng gọn gàng lắm. Tôi vào mua một tờ báo hàng ngày để đọc chuyện Tàu Nhật... Cửa hàng vì là buổi trưa, nên không có người ngồi bán. Tôi gõ cửa và đứng đợi... Từ một cái buồng con, ở bên cạnh, bước ra... một người thiếu nữ, tóc còn buông xõa. Nàng không bước ra vội, nhưng đã nói với:

- Ông mua gì?

Tôi không đáp, vì người ấy, là Hảo. Phải! Hảo, cô em ngoan ngoãn của tôi, cô bé đã chứng kiến...

Tôi không dám nghĩ tới nữa, tôi cũng không dám nhìn nàng nữa. Nàng thì vấn tóc, vừa chạy lại gần, đứng khít bên tôi, nàng toan cầm lấy tay tôi, như xưa; và sung sướng kêu lên: "Anh Lê! Trời ơi! Anh Lê của em!" Nhưng bỗng nàng ngừng nói, và đứng ra xa. Có lẽ nàng nhận ra rằng nàng đã lớn là một cô thiếu nữ đến thì. Nàng, không còn như xưa; nữa, là em gái của tôi, là người em gái ngoan ngoãn ở trong tay tôi.

Nàng nói bằng một giọng cảm động :

- Tôi vẫn đọc văn anh luôn. Nhưng làm sao anh lại có thể ở đây? Anh không thay đổi gì hết...

Tôi mỉm cười:

- Có, anh không còn khỏe như xưa, ngực anh độ này yếu lắm, và dẹp xuống.

- Còn em?

- Em à? Vẫn thế... như xưa!

Rồi nàng cười, hình như nhớ lại cuộc tình cuồng vọng của tôi mà cười.

Tôi hỏi:

- Em cười nhạo tôi đó à?

- Chết! Anh nói bậy. Sao lại nhạo anh?

Rồi nàng lại cười, hai mắt nàng trong lên, mặt nàng tươi lên, và như đẹp lên nhiều lắm; như vẫn thoáng thấy một vẻ buồn, một vẻ u hoài. Tôi hỏi nàng :

- Tại sao em lại mở hàng sách này?

- Cũng chỉ vì anh...

- Vì anh?

Nàng cười và nói tiếp:

- Phải, chỉ để dọc những bài anh viết, khắp trên các báo. Em không muốn bỏ sót một cái gì của anh cả.

Tôi nhìn nàng và không nói gì. Nàng cũng lặng im như thế.

Ðột nhiên tôi hỏi :

- Tâm bây giờ lấy chồng mãi đâu?

Nàng không đáp, mỉm cười, ngâm mấy câu thơ của tôi:

Nàng đã lấy chồng
...Ở mãi Giang - đông
Sau làn mây trắng...
...Cách mấy con sông...


- Hảo thuộc nhiều thơ anh thế à?

Nàng vẫn không đáp, nhìn ra bến sông. Trong đôi mắt nhỏ, một vẻ buồn xa rộng, mênh mông...

Ðáng lẽ tôi không nên nhắc đến tên Tâm, đáng lẽ tôi không nên yêu người ấy, và đáng lẽ tôi phải gần gũi hơn nữa người thiếu nữ trước mặt tôi, đáng lẽ tôi phải gắn chặt số phận tôi với số phận Hảo.

Nhưng than ôi! Hảo chỉ là người em gái của tôi, người em gái ngoan ngoãn trong tay tôi.

Hảo chỉ là một người làm chứng. Làm chứng những phút cuồng vọng của đời tôi.

Lưu Trọng Lư
Hè 1938

 

 

Thursday, December 21, 2023

Kính Chúc & Cám Ơn - 304Đen

 Kính Chúc & Cám Ơn






Buồn Thu - Nguyễn Cang

 BUỒN THU


                      



















Trời cuối hạ lá bay

Bông bí vàng rực rỡ

Vườn hồng, hoa đua nở

Đồi núi phủ sương mai

 

Cứ mỗi độ vào thu

Lá rơi trên tượng đá

Chiều ngang qua phố xá

Thấy sương khói mịt mù

 

Mặt hồ sáng long lanh

Bầy vịt trời giỡn nước

Khách qua đường dừng bước

Mây viễn xứ vờn quanh

 

Gió nhẹ tà áo lay

Đưa tiễn chiều ly biệt

Tình yêu nào tha thiết

Đêm dế khóc canh dài

 

Rồi ngày tháng phôi pha

Đông về sương tuyết lạnh

Thương mảnh đời bất hạnh

Gió rét rít sau nhà

 

Thu xưa đã qua rồi

Buồn dâng bao kỷ niệm

Niềm vui chợt tắt lịm

Mỗi ngày một cách xa !

 

Nguyễn Cang (Dec.15, 2023)

Chiếc Cầu Trên Biển & Đêm Giáng Sinh - Nguyễn Thị Châu

 CHIẾC CẦU TRÊN BIỂN

 















Chiếc cầu đứng lặng tới ngoài khơi

Mây trắng lưa thưa khắp chân trời

Sóng vổ rì rào tung trắng xoá

Cánh chim lạc lối không nghỉ ngơi

 

Đứng trên nhìn xuống màu xanh biếc

Xanh thật là xanh, xanh rất xanh

Tấm thảm trời ban cùng trải khắp

Năm châu bốn biển một màu xanh

 

Từ ngoài khơi ồ ạt tiến vào

Ngọn  sóng bạc đầu cứ lao xao

Đời biển cả bao giờ dịu lắng

Sóng trào dâng vội  đuổi rượt nhau

 

Tình nhân truyền kiếp,bờ với sóng

Ta lặng nghe tiếng sóng thì thầm

Chòng chành trên biển, thuyền ai đó?

Đi về đâu? Nơi cỏi xa xăm

 

Nơi đây một buổi chiều nghiêng nắng

Lòng bâng khuâng lại nhớ về đâu

Nghe khắc khoải  âu lo với biển

Chiếc cầu xinh, còn mãi, bền lâu…!!!

 

20-12-2023

Nguyễn thị Châu

 

*Cầu xi măng cốt thép rất dài ra tới ngoài khơi

Bãi biển HỒ TRÀM

 

ĐÊM GIÁNG SINH

 

Nhìn ngôi sao sáng tháng mười hai

Mừng SINH NHẬT, CHÚA sinh ra đời

Khổ ải trăm bề đành cam chịu

Hy sinh thân xác cứu trần ai

 

Chúa ơi Chúa! Chúa ở trên cao

Có nghe nhân thế đợi phép mầu

Chúa ban ân xuống cho tất cả

Hạnh phúc, bình an hằng ước ao

 

Lắng nghe  văng vẳng bài thánh ca

Cao  vời vợi xa xôi mượt mà

Tình Chúa yêu thương lòng hướng thiện

Con nguyền theo Chúa ở cùng Cha

 

Quỳ bên hang đá cầu xin Chúa

Kinh thánh vang vang khắp giáo đường

Nhặt khoan tha thiết trong đêm vắng

Tiếng chuông xóm đạo cứ ngân vang….!!!

 

20- 12-2023

Nguyễn thị Châu

 

Truyện Ngắn Giáng Sinh - Lm. Pet Nguyễn Phước Hưng

 

TRUYỆN NGẮN GIÁNG SINH




 

CŨNG VÌ BẤT CẨN

 

Không phải trời Hà Nội, trời Đồng Nai tối nay cũng lạnh. Tôi vừa ghé vào quán mua gói thuốc hút bước ra, ba trẻ em bán vé số đã vây quanh. Định mua giúp chúng nó vài vé, tôi đút tay vào túi, rút bóp tiền ra, vô tình làm rơi chiếc hộp quẹt. Loay hoay tìm không ra, tôi ngước lên thấy một thằng bé vòng ngoài dấu một tay về phía sau lưng. Tôi gằn giọng: “Thằng nhóc con kia! Có mỗi chiếc quẹt mà cũng chôm chỉa. Khôn hồn thì đưa đây.” Thằng bé đứng như trời trồng. Tôi tính loạt lộ thêm, một đứa khác vội thanh minh: “Chú ơi! Nó không lấy đâu. Tay nó bị dị tật mà.” Thằng bé oà khóc, bỏ chạy đi. Tôi còn kịp nhìn bàn tay của nó chỉ có 2 ngón. Tôi xấu hổ cho chính mình vì tôi đã phạm nhầm lẫn lớn. Tôi càng cảm thấy bất ngờ và ân hận khi tôi cúi xuống cột lại dây giầy. Tôi thấy chiếc quẹt của tôi rớt kẹt vào gấu quần jean mà do dài quá tôi đã xắn nó lên.

 

 

MÓN QUÀ GIÁNG SINH

 

Ông chủ nhà trọ mua cho thằng con của ông một món quà Giáng Sinh là ông già No-el. Thằng con bật cái nút công tắc tức thì ông già No-el múa theo tiếng nhạc bài Single Bell. Một thằng nhỏ khác, đứng xa xa ở phòng trọ, nhìn đăm đăm vào món đồ chơi mà thấy thèm khát hơn thèm kem. Mẹ thằng nhỏ đi mua bán ve chai về, nhìn thấy con như vậy mà lòng buồn rười rượi.

Vài hôm sau, mẹ thằng bé đi làm đến tối khuya mới về. Mẹ nó hôm nay không bán hết những món hàng ve chai mà mẹ nó mua được. Sáng hôm sau, thấy thằng bé ở phòng trọ có một số đồ chơi cũ. Tuy cũ kỹ nhưng thằng bé thích lắm. Cầm ông già No-el mất một tay, nó nhẩy cẫng và miệng nghêu ngao điệp khúc: “En, en, en. En, én, èn, en, en…”

 

BÀI THÁNH CA BUỒN

 

(Nếu độc giả chưa nghe nhạc phẩm Bài Thánh Ca Buồn, nên tìm nghe trước khi đọc truyện sẽ thấy hay hơn.)

Anh là người ngoại đạo có người yêu bên công giáo. Đêm Giáng Sinh hai người cùng đi dạo phố, sau đó đi lễ nửa đêm. Khi hai gia đình biết con cái mình quen người khác đạo, hai bên đều cấm cản. Mấy năm sau, chị vâng lời cha mẹ lấy người khác. Cha mẹ mất, anh tự do lấy một người công giáo khác và theo đạo.

Đêm nay rộn rã ngày lễ mừng Chúa giáng sinh. Anh đang ngồi chơi piano cho dàn nhạc tại một nhà hàng. Một bé gái chuyển giấy cho ban nhạc yêu cầu hát tác phẩm Bài Thánh Ca Buồn. Đây là bài anh yêu thích. Anh nhìn theo bé gái trở lại bàn ăn, bất ngờanh và chị nhận ra nhau. Bé gái đó là con của chị. Anh độc tấu piano và hát du dương tình khúc Bài Thánh Ca Buồn. Ca khúc hát chưa hết một nửa, tài xế xe gia đình đến bàn ăn nói: “Thưa bà! Ông ngồi ngoài xe chờ bà và cô cậu về.” Chị ráng lại nghe hết bài nhạc và bước vội ra ngoài sau khi kết thúc. Rưng rưng nước mắt, anh nhìn theo dáng người xưa khuất dần. Bước vào xe, chị còn sụt sùi với chiếc khăn mùi soa, nói dối chồng: “Em bị dị ứng không khí lạnh.” Nhưng trong tâm hồn chị đang dâng lên giai điệu và lời bài hát Bài Thánh Ca Buồn.

 

Tác giả: Lm Pet. Nguyễn Phước Hưng

304Đen - llttm

 

Saturday, December 16, 2023

Hạ Cũng Về Theo Người - Thuyên Huy

 Hạ Cũng Về Theo Người