Wednesday, July 22, 2026

Chữ Nghĩa Giết Người - Vũ Thế Thành

 

Chữ nghĩa Giết Người

Đầu đời Thanh, vào thế kỷ 17 có vụ án văn tự khét tiếng. Câu chuyện như sau:

Vũ Thế Thành

 


Trang Đình Long mua lại bản thảo lịch sử về  triều đại nhà Minh. Tác giả từng là quan dưới triều Minh. Khi Long mua bản thảo thì sách vẫn chưa hoàn thành, nên họ Trang thuê nhiều danh sĩ bổ túc thêm, cho đến vị vua cuối cùng nhà Minh. Khi hoàn thành thì Trang Đình Long mất. Gia đình tiếp tục cho khắc in và phát hành, như một chút lòng nhớ về triều đại Minh vừa tiêu vong.

Bộ Minh sử này viết từ cuối đời Minh, và bổ sung vào đầu đời Thanh nên “quen miệng”  sử dụng một số từ “tế nhị” như gọi người Mãn Châu là Kiến Di (rợ Kiến Châu), gọi tướng nhà Minh hàng Thanh là bọn phản nghịch. Viên quan huyện Ngô Chí Vinh bèn đem kẽ hở này tống tiền nhà họ Trang. Chuyện không thành, Ngô tố giác về kinh. Vụ án đến tai phụ chính Ngao Bái. Ông này hạ lệnh triệt hạ tận gốc để răn đe giới nho sĩ người Hán.

Hệ quả là gia đình họ Trang bị lăng trì, nhưng người liên quan đến viết bổ sung, hiệu đính, biên tập, thợ khắc chữ, người in ấn, phát hành,.. đều bị chém đầu. Tổng cộng hơn 70 người bị xử tử. Trong chương mở đầu của Lộc đỉnh ký, Kim Dung đã tái hiện lại thảm án văn tự này, gần khớp với lịch sử. Dĩ nhiên cũng có một chút hư cấu.

Còn ở ta có vụ án văn tự nào không? Có chứ. Đó là vụ án bắt nguồn từ bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên, con trai đầu lòng của Nguyễn Văn Thành, là bậc khai quốc công thành thời Vua Gia Long.

Thuyên là nho sĩ, tính tình phóng khoáng, thích giao du với các danh sĩ. Thuyên nghe nói ở Thanh Hóa có hai sĩ phu nổi tiếng hay chữ, bèn làm bài thơ, nhờ  gửi cho hai danh sĩ này để kết giao. Bài thơ chưa tới tay người nhận thì đã lọt vào tay của kẻ hiềm thù với Nguyễn Văn Thành (khi đó đang là Tổng trấn Bắc thành). Thuyên bị bắt và bị xử chém. Nguyễn Văn Thành bị vua Gia Long đối xử lạnh nhạt, không cho vào chầu. Hiểu ý vua, Nguyễn Văn Thành tự vẫn.

Bài thơ của Thuyên viết gì lại vướng vào vụ án văn tự? Họa sát thân nằm ở hai câu thơ cuối:

 “Thử hồi nhược đắc sơn trung tế, Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”

(Lần này nếu gặp được tể tướng chốn núi rừng, sẽ giúp ta trổ tài kinh luân xoay chuyển cơ trời).

Chẳng ai lạ gì mấy ông thi sĩ đời xưa làm thơ là bốc mọi thứ lên trời, dời non lắp biển, xoay chuyển Trời đất là chuyện bình thường. Nhưng “quan xử án” đã suy diễn (chủ quan), đây là ý đồ mưu phản mới đòi xoay chuyển cơ Trời.

Số của bậc khai quốc công thần, Nguyễn Văn Thành phải chết trước vua. Bài thơ chỉ là nguyên nhân gần, còn nguyên nhân xa thì ai chịu đợc lịch sử cũng biết.

Đó là hai vụ án văn tự tạm gọi là tiêu biểu từ Tàu sang ta. Thế ở ta còn án văn tự nào nữa không? Còn nhiều lắm chứ.

Mà thôi không nói nữa. Chữ nghĩa nuôi người, cũng có thể giết người.

Vũ Thế Thành

304Đen – Llttm - sgtc

 

Giấc Ngủ Mây Vàng - Huy Tưởng

Giấc ngủ mây vàng















Nằm nghe giấc ngủ mây vàng
Trôi qua ngày xế, vượt ngàn tử sinh
Thăm nhau trong cuộc vong tình
Ngậm ngùi chim hót như kinh triệu hồn
Trăng cầm lệ xuống càn khôn
Ngàn đêm máu chảy vỡ hồn hoa xưa

Huy Tưởng

Có Khi Lòng Ta - Rêu

Có khi lòng ta
















Có khi lòng buồn như giòng sông
Trôi lang thang theo những nhánh rong
Bập bềnh trên nước không hạn định
Cùng những xuyến xao thả xuôi dòng

Có khi lòng mềm như trời không
Mây bâng khuâng năm sắc cầu vồng
Bềnh bồng trên phiến đời hoang vắng
Thương nhớ ơ hờ cõi mênh mông

Có khi lòng hiền như ánh trăng
Đêm sâu bàng bạc, giọt thuỷ ngân
Long lanh mặt nước ngàn ánh bạc
Ta khóc niềm riêng, trăng vỡ tan

Có khi lòng chùng nghe thương thân
Đời yêu hạnh ngộ được mấy lần
Hò hẹn, yêu đương rồi tiễn biệt
Tình động, bước đi không than van

Có khi lòng mềm như cơn mưa
Dạt dào mờ trắng lối tình xưa
Dang tay… nghe nước là thác đổ
Hỡi những ngày xưa, có tình cờ..

Và có khi lòng như chim quyên
Hoài yêu người … ngoan giấc cô miên
Dùm ta giữ chút hương tình nhé
Một chút rồi thôi, chẳng muộn phiền.

Rêu

Nguồn :Tương Tri

Chuyện Đời - Nguyễn Thị Thanh Tâm

 

Chuyện Đời




 

-. ..Nói thật với em, sắp tới mẹ chị bán mảnh đất ở quê đi cho con cái không nhiều mỗi đứa cũng phải hơn chục cây vàng, chị bỏ ra một ít chạy cho anh ấy đi làm chắc chỉ vài năm sau sẽ mua được nhà. Nói vậy để mình em biết thôi nhá... các cháu ở nhà hư nên chị giấu. Chúng nó mà biết có khi giết cả mẹ đẻ đấy...

Người đàn bà nói xong nhìn trân trân vào ngọn lửa đang cháy, đôi mắt chị ta hõm sâu ngỡ như chỉ còn hố mắt. Gò má cao không một lớp mỡ, đen đúa theo quãng đời phong trần. Chị già trước tuổi 45 của mình. Đôi vai mỏng mảnh khô cứng khoác chiếc áo nâu màu của thầy tu chốc chốc so lại. Mỗi lần cười, khuôn mặt và khối hình chị mới có dịp tươi tắn lên đôi chút trong âm thanh đùng đục phát ra từ cổ họng. Ly góp chuyện vẻ dè chừng. Năm tháng sống ở xóm nhỏ giữa đô thành hoa lệ này cô không lạ gì người đàn bà mang cái nhìn sành đời ấy. Chị có khả năng đón bắt ý nghĩ người khác rất giỏi. Nhiều lần, chính Ly phải giật mình vì bị chị ta đoán trúng tâm trạng, sau đấy như vô tình chị chỉ buông cho vài ba câu pha trò hóm hỉnh cũng đủ sợ. Gia đình chị con cái tù tội cũng là lý do nhiều người không dám gần. Họ ngại liên lụy. Mặc dù vậy, Ly thấy thương cảm với chị. Tội nghiệp cho một kiếp người. Cả tháng có 30 đêm thì hơn 20 đêm Ly nghe thấy lời nhiếc mắng vợ của anh ta. Ban ngày cái tấm thân nhão nhoét, béo tròn như bao trấu ấy ngủ khì để mặc vợ cặm cụi với bữa cơm bụi. Gọi là bữa cơm bụi bởi vì ngày hai lần, khi nấu cơm chị đều nấu dôi ra để bán thêm. Trong xóm những người nhỡ bữa không ăn cơm ở đó. Họ biết cái cảnh cơ hàn của nhà chị nên sợ chị chỉ dám mua đồ cặn đồ thừa ở chợ để nấu. Khách hàng thường là người vãng lai đi qua ghé vào ăn. Họ ngồi chung mâm trên dãy bàn ăn bé con con với gia đình chị mà không biết. Có hôm đang ăn, anh chồng say rượu đập bát đĩa xoong nồi đổ vỡ lẻng xẻng. Khách bỏ dở bữa trả tiền rồi chạy, có khi quên cả đồ đạc. Quán cơm của chị không thấy mặt khách đến lần thứ hai. Mỗi bận như vậy, y như rằng, anh chồng diễn vở bỏ nhà đi hai, ba hôm liền, lúc về câu đầu tiên bao giờ cũng phân trần với mọi người xung quanh rằng mình không may lấy phải vợ đoảng, chẳng nết na chiều chồng:

- Cô ta chỉ sống được với con thôi, người khó tính không ai chấp nhận đâu ạ. Bà không biết chứ con phải chịu đựng ghê lắm đấy... Một lần mẹ chồng Ly góp ý, anh ta chắp tay vái bà ba cái như tế sống, đoạn cầm chai rượu khiến bà hoảng quá bỏ cuộc khuyên giải. Ly thì hãi người đàn ông ấy. Con người dở tỉnh dở say, nửa thật nửa đùa cứ gọi cô là Tây Thi với đôi mắt ngó như mắt lợn luộc. Khốn thay, cái “ổ” của người đàn ông đó lại là cái giường kê cùng với đống bàn, ghế, chạn và các đồ lỉnh kỉnh khác của gia đình họ ở lối đi dưới ngõ. Nó chiếm hai phần ba con đường chung của cả xóm, người đi ra đi vào không thể không gặp. Gia đình nhà đấy còn có một căn phòng trên gác hai, cửa sổ đối diện với cửa sổ nhà Ly. Cứ sáng sáng hết bố rồi đến thằng con trai súc miệng òng ọc nhổ ra ban công. Hai thằng nữa nghiện hút ngày nằm ngáp dài, đêm leo qua cửa sổ xuống nóc mái bê tông của nhà dưới viện cớ trong nhà nóng quá, ngủ đấy cho mát, đến sáng dậy thì không thấy tăm hơi đứa nào đâu cả. Ly không dám mở cửa sổ nên căn phòng vốn là cái gác lửng, thấp lè tè của nhà cô lúc nào cũng tối om như hũ nút, luôn phải dùng đến ánh sáng đèn ngay cả ban ngày.

- Chuẩn bị dọn đồ về nhà mới!

Chồng Ly nói như tuyên ngôn. Ba ngày sau mọi đồ đạc được đóng thùng cẩn thận. Ông trời đã không phụ công sức gần chục năm dành dụm cộng với tiền bán nhà đang ở, vợ chồng Ly giờ cũng được toại nguyện. Ngôi nhà mới mặc dù không to tát nhưng cũng là ngôi nhà có được ánh sáng ban ngày. Tối trước hôm dọn đi, mẹ chồng cô phấn khởi nói con dâu sang chào hàng xóm. Ly tự nhủ: “Ừ cũng phải đi thôi, chỉ còn nốt hôm nay’’.

Bảy giờ tối, cơm nước xong Ly gọi đứa con gái lên 6 tuổi đi cùng. Việc chào tạm biệt hai nhà sát vách thật đơn giản. Cuối cùng tiễn biệt vẫn là những lời chúc mừng vui vẻ. Con gái Ly xin phép mẹ về trước để học bài. Ly chưa về ngay, cô vòng ra ngoài ngó sang lối ngõ. Một dáng hình đàn bà đang đổ sụp xuống bất động. Ngọn lửa từ chiếc bếp kiềng ba chân cháy bập bùng bên cạnh. Ly lại gần đánh tiếng:

- Đun nước à chị Tài?

- Ừ... em đấy à...

Giọng nói của người đàn bà linh hoạt trái ngược với chị ta ban nãy.

- Sắp chia tay nhau rồi phải không? - Người đàn bà vồn vã - Chị đã biết từ mấy hôm nay, mừng cho vợ chồng em đấy, em còn trẻ mà được sung sướng như vậy là may mắn hơn người rồi... Thật là đổi đời!

Trong ánh lửa chập chờn, Ly thấy luồng sáng sắc vụt ngang mặt khiến phản xạ tự nhiên của cô là chớp nhanh mắt để tránh, người đàn bà vừa nói dứt lời quay ngoắt đi im lặng. Ly ái ngại đoán chắc chị đang chạnh lòng nghĩ đến bản thân chăng?

- Nhà em chật chội quá nên từ lâu cũng đã nghĩ đến việc chuyển nhà, nhưng ở đâu thấy quen đấy, bây giờ đi cũng buồn chị Tài ạ!

- Thôi đi được là mừng, chị cũng tính chuyện nay mai anh nhà chị mà xin được cái chân chạy vật tư ở cơ quan... chậc...

Tiếng người đàn bà âm âm bên tai. Ngồi một lúc, Ly chào chị về nhà. Lúc bước lên cầu thang vô tình nhìn xuống, Ly thấy chị vẫn ngồi bên chiếc bếp kiềng lửa đang cháy rừng rực, bất động như lúc đầu cô tới.

Đêm.

Những giờ cuối cùng trong ngôi nhà gắn bó với Ly chục năm qua khiến cô cảm thấy khó ngủ. Một phút, hai phút..., một giờ, hai giờ, ba giờ... đôi mắt cô vẫn trơ khấc. Gió lạnh ngoài kia thổi ù ù. Bỗng có tiếng người nói thì thào bên dưới. Một lúc thì giọng người phụ nữ hơi gay gắt:

- Không, ông đã hứa mà đến giờ ông làm được gì nào...?

Ly nhận ra giọng chị Tài. Chị khóc tức tưởi sau câu nói. Người đàn ông hình như đang ra sức dỗ dành.

- Anh hứa, đến giờ anh vẫn hứa, nhưng em phải để cho anh suy nghĩ xem đưa chồng em vào bằng con đường nào cho tiện... Em phải hiểu, bây giờ cơ quan đang cần người có trình độ chứ không phải đơn thuần chỉ là người chạy vật tư... Em có còn muốn anh ngồi ở ghế giám đốc hay không?

- Thế ông tính đi rồi hãy đến gặp tôi!

Giọng chị Tài buông lạnh lùng. Người đàn ông lại rì rầm điều gì đó Ly cố lắng nghe nhưng không thể nghe rõ hơn câu chuyện của họ nữa. Chồng Ly bên cạnh trở mình. Cô ôm anh và ngủ thiếp đi lúc nào không rõ.

...

Bộp! Tiếng một viên gạch bị ném rất mạnh, tiếp theo đó là giọng người đàn ông la thất thanh dưới ngõ:

- Ối! .. Gi...ời... ơi...

Ly giật mình choàng tỉnh. Cả nhà cô cũng dậy chạy vội ra phía cửa sổ. Hai, ba ô cửa sổ khác trong xóm bật tung cùng lúc, nhiều cái đầu ngó xuống lối đi ở ngõ. Tiếng bước chân rầm rầm chạy xuống cầu thang... Chồng chị Tài! Anh ta hoàn toàn tỉnh táo:

- Con điếm... Ông bắt được chúng mày rồi nhé! Con điếm kia... mày đuổi ông lên trên này ngủ để dắt giai vào phải không... Ông giết cả hai... Giời ơi là giời... mọi người dậy mà xem... Con điếm này... mày còn già họng hay không...

Tiếng khóa cửa sắt dưới ngõ mở gấp gấp. Thằng con út chị Tài gào lên trên cửa sổ trước mặt nhà Ly:

- B...ố...ố... B...ố l...àm g...ì đấ...y? Cứ ầm ầm... ầm ầm... còn để hàng xóm ngủ nữa chứ...ứ...

- Thằng kia... mày dậy mà xem mẹ mày... Mấy thằng n...ữ...a đâu, chết đâu rồi...

Anh ta thở hồng hộc, thét gào, chửi bới. Ai đó xuống ngõ đang khuyên ngăn. Lời chửi bới còn kéo dài rất lâu sau rồi chìm dần vào bóng tối. Gần sáng Ly mới chợp mắt tiếp được. Trong giấc ngủ cô thấy ngọn lửa bùng cháy trên lưng áo người đàn bà. Chị ta ngồi im như không hề hay biết.

- Dậy đi con, Ly ơi. Mẹ chuẩn bị sẵn muối, gạo, con dao với cái bếp trong thùng giấy rồi. Con mang xuống trước xong thắp nén hương lên cho ấm nhà con ạ!

Mẹ chồng Ly đã dậy từ bao giờ, bà là người mê tín nên chọn giờ và chọn người để xông nhà mới. Kéo lại chăn đắp cho chồng và con, Ly chui ra khỏi màn. Trời sáng tờ mờ, cô bê chiếc thùng giấy khệ nệ buộc vào xe máy, vừa dắt ra khỏi nhà xe được vài bước, chân Ly bỗng khựng lại. Một vũng máu loang kèm mảng tóc bạc ngắn rớt xuống lối đi. Ly rùng mình nghĩ đến những lời thì thầm đêm qua. Người đàn ông kia là ai mà đến với một người đàn bà như chị Tài. Liệu ông có là khách qua sông nhỡ đò?.

Thời gian thấm thoát trôi đi, phải hai năm sau cái đêm kinh hoàng Ly mới có dịp về thăm cái xóm nhỏ giữa đô thành ấy nhưng không gặp được chị Tài. Nghe đâu chị đã về sống cùng người chồng mới. Mẹ chị bị ốm liệt giường gần năm trời thì mất. Hai thằng con trai vào trại cai nghiện. Thằng con út được bố dượng xin cho đi lao động ở nước ngoài. Căn phòng trên gác hai để lại cho chồng cũ sử dụng. Mọi người trong xóm nói rằng, thỉnh thoảng đêm đêm vẫn thấy bóng một người đàn bà mang thức ăn, có khi cả tiền bạc đến để ở cửa nhà anh ta. May thay, nhờ trời người đàn ông ấy cũng còn có một nghề - đó là nghề sửa chữa xe đạp...

Nguyễn Thị Thanh Tâm

Thursday, July 16, 2026

Bởi Vì Thương - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 192_VƯỜN THƠ MỚI



 















Xướng:


Bởi Vì Thương

Họ yêu nhau như tuổi còn thơ dại
Trên đường đời nhiều trở ngại gian lao
Như mùa xuân với vạn đóa hoa đào
Dòng Potomac ngày nao lỗi hẹn

Thì thôi có mấy ai được tròn vẹn
Ở nơi đây mà chẳng thẹn với lòng
Dẫu gì rồi cũng có lần sang sông
Sóng cứ vỗ nhưng lòng ta tĩnh lặng

Bởi vì thương nên nghĩa tình sâu nặng
Trót đã rồi nên quặng thắt lòng đau
Dù thời gian có đổi sắc phai màu
Trong tâm khảm luôn in hình bóng cũ

Trần gian vạn người mấy ai có đủ
Nên dặn lòng ru ngủ giấc mơ hoa
Dù ở nơi đâu cũng vẫn là nhà
Bằng lòng hiện tại cho đời thanh thản

Hương Lệ Oanh VA

 

Họa 1:

 

Từ giã

Tuổi đã lớn trãi qua thời khờ dại

Hiểu tấm lòng sư đệ với công lao
Có ngờ đâu cảnh sóng dậy ba đào
Phải từ giã sân trường đành thất hẹn

Không còn nghiệp có chi đâu trọn vẹn

Buộc ra đi với uất ức trong lòng 

Như lái đò đưa khách chửa qua sông
Dưới ánh sáng trăng mờ trong im lặng

Nay vĩnh biệt ngành nghề tình sâu nặng
Xa lớp trường với những nổi xót đau
Dẫu biết rằng cuộc sống mới thay màu
Tâm tư vẫn hướng về nơi chốn cũ

 

Nơi đất khách cuộc đời tuy đầy đủ
Không mơ gì đến cuộc sống xa hoa
Cuối tháng tư lại nhớ đến quê nhà

Với tâm khảm chia lìa sao bình thản


PTL

Họa 2:

Duyên lầm

Làm sao biết ai khôn và ai dại
Chớ tưởng rằng đương sự ngại gian lao
Không quan tâm, không tích cực bôn đào
Nào đâu biết hắn nôn nao đến hẹn


Luôn ấp ũ một tình yêu trọn vẹn
Mãi có nhau để chẳng thẹn với lòng
Lời nguyện thề chứng giám bởi dòng sông
Hắn tin tưởng với lòng thành tĩnh lặng

Có đâu biết đã sai lầm quá nặng
Vỡ mộng, sầu đời quặng thẳt lòng đau
Than trách sao tranh đẹp chóng phai màu
Mong tái tạo thời gian hình ảnh cũ

Đến phút cuối niềm tin còn tạm đủ
Cho tuổi già giấc ngủ vẫn nở hoa
Dù đôi chim không ở một mái nhà
Vẫn vui vẻ, sống tà tà bình thản

THT


Họa 3:

Bâng khuâng tuổi hạc

 

Chiều hiu hắt trên đồi hoa cỏ dại,

Thời gian trôi vun vút tựa tên lao

Mới xuân tươi rạng rỡ những mai đào

Nay thu muộn gió sương dường có hẹn.

 

Tóc dẫu bạc, tình xưa mong giữ vẹn.

Buổi hoàng hôn cách mặt chẳng xa lòng

Dòng đời đưa thuyền lay lắt trên sông

Mặc trong đục, cầu gió yên sóng lặng

 

Theo con nước, đôi tay chèo thấm nặng

Sóng xô thuyền chân mỏi lại lưng đau

Mây che trời nắng cũng đã nhạt màu

Lòng lưu luyến ngẵng trông bờ bến cũ

 

Bao cay đắng ngọt bùi đời nếm đủ

Giờ lại thêm da dẻ trổ đầy hoa

Mộng du sơn ngoạn thủy nước non nhà

Cưỡi hoàng hạc tìm cội nguồn thanh thản...

 

Minh Tâm

 

Họa 4:

 

Tình tuổi mộng


Thủa còn trẻ mấy ai khôn ai dại

Đã yêu rồi ai tính toán công lao

Bao khó khăn chẳng nản cứ bôn đào

Dẫu mưa nắng không một lần trể hẹn

 

Sống chân chất tình nồng luôn giữ vẹn

Dẫu đi đâu vẫn thể hiện một lòng

Không ngờ ngày phải giã biệt núi sông

Hai đứa ở hai nơi cùng chết lặng

 

Xa cách vẫn tình sâu dày nghĩa nặng

Vẫn chung trời dằng dặc một niềm đau

Dẫu chốn xưa điểm hẹn có thay màu

Tình tuổi mộng vẫn in hình dáng cũ

 

Dẫu thương nhớ không làm sao đắp đủ

Sóng bạc đầu sông núi ngát hương hoa

Mây chiều loang hay khói tỏa quê nhà

Khắc khoải vẫn…Biết bao giờ thanh thản


Tâm Quã
Jul 02, 2026

 

 

Wednesday, July 15, 2026

Bến Sông Chiều Ngựa Về - Thuyên Huy

 Bến Sông Chiều Ngựa Về




Hai Nấm Mồ - Thuyên Huy

 

Hai Nấm Mồ




    Rồi anh cũng về, làng nghèo vẫn nghèo như ngày đó, ruộng mùa này đồng hoang trơ trơ gốc rạ. Đứng trước mồ, nhìn ra con đường đất màu bùn, còn in dấu chân trâu loang lở, đã có chút nắng bên kia sông, con sông chưa một lần mưa cuồng sóng lũ, rựng lên, nhưng sương tàn đêm chưa chịu tan vội, trời vẫn còn mù mờ, chập chờn sáng, lác đác mấy cái nhà mái tranh mái lá trên đồng, đèn dầu chưa tắt, vẫn cảnh cũ như xưa.

    Hàng Sim dọc theo đường, chạy dài bên bờ đê ruộng mùa này hoa nở muộn, muộn như ngày chị của anh, cũng con đường này ra bến đò theo chồng về làm dâu xứ xa, bỏ lại anh với ngoại, hôm tiễn chị đi, chị vui hay không thì anh không biết nhưng chị cũng như ngoại đều khóc.

*

    Nhà nghèo, gạo đong gạo đếm, ba má mất sớm, tai sao và mất bao giờ, hai chị em không nhớ rõ, ngoại cũng không nhắc tới, hai chị em sống với ngoại, miếng cơm miếng cháo bằng số tiền phụ ngoại bắt ốc hái rau, bưng bán ngoài chợ xã, ba bà cháu chắt chiu bên nhau, trong cái nhà mái tranh vách đất trên miếng đất gò cuối ấp trong, ngó ra cái vàm lớn xa. Vậy đó, ngoại cũng ráng dẩn hai chị em đi học trường làng, trên con đường đất xa, cách nhà chừng nửa tiếng đi bộ, ba bà cháu vui với phận mình, chị em lớn lên từ những ngày tháng cơm đong gạo đếm đó.

*

    Anh lớn lên rồi cũng như chị, bỏ ngoại đi, lây lất đời tha hương xứ người vì trót mang nợ đời cơm áo, ngoại ở lại một mình, bóng già thui thủi, mắt già trông mong, từ ngày theo chồng, không biết chị có vui không, có “chiều chiều ra đứng ngõ sau, ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều” không, anh không biết, ngoại cũng như anh, chị ít khi về, dong ruỗi mọi nẻo đường đời anh cũng chưa có lần nào tới xứ xa thăm chị, anh có về nhà đôi ba lần rồi thôi, người trong ấp, trong làng, xầm xì chê trách, cho là hai chị em không tròn hiếu đạo.

*

    Ngoại mất hôm anh về, sau Tết năm nào đó, lần này anh ở lại với ngoại cũng lâu hơn, hai bà cháu hủ hỉ, chuyện này chuyện kia, chuyện đời chuyện cơm áo công hầu, cũng cơm cá rô kho mặn, rau mùng tơi luộc như những ngày xưa còn nhỏ, ngoại vui không biết làm sao mà nói, vậy mà ngoại mất, tuổi già bình thản, sau một đêm mưa lất phất về ngang từ ngoài Vàm lớn, anh khóc sướt mướt, buổi sáng hôm đó trời âm mu chắc cũng buồn cho kiếp người của ngoại.

     Đám tang ngoại, chị không về, mồ ngoại chôn ở gò đất cao khoảnh vườn chuối, không xa con rạch nhỏ chạy ra vàm lớn, căn nhà trống trơn, đám tang không mấy ai, năm sáu người nhà kế bên, cũng nghèo như ngoại, nói kế bên, nhưng cách nhau một cũng khoảng vài bờ đê ruộng, những gì của ngoại, mà ngoại có gì đâu, mấy bộ quần áo bạc màu nâu, cái lược cũ mèm ngoại chảy tóc già bạc như sương, hai ba cái khăn rằn thưa chấp vá, vậy thôi, anh đã không quên gởi chôn theo, trong đó có cuốn tập, năm anh học lớp nhất trường làng, được cô giáo cho bài viết “tả ngoại em” của anh mười điểm, để ngoại vui dưới đó. Ngoại ở lại, nằm đó một mình.

*

    Kiếp đời cứ theo mình, sau mâm cơm cúng, anh lạy ngoại, anh lại ra đi, đi miệt mài, đi biền biệt, anh không biết chị có về lại nhà xưa đó lần nào không. Cũng còn may, còn được người thương tình, anh gởi lại nhà, cái nhà cột xiêu vách ngã, không ai thèm ngó tới, và hết một số tiền dư trong những tháng năm tha phương kiếm được, cho gia đình chú thiếm Dần, hai vợ chồng làm ruộng quanh năm, căn nhà tranh gần nhất, trông nom và lo săn sóc nhang đèn giùm, anh nhất định sẽ về nhưng không dám chắc là khi nào.

*

    Bây giờ, bốn năm năm về lại nhà xưa, gò đất cao sau nhà giờ có thêm cái mồ nằm bên cạnh mồ ngoại, mộ chị đó, rồi cuối cùng thì chị cũng về, không biết chị về bao lâu rồi, tại sao chị về, dù cho thế nào đi nửa thì chị cũng đã hết đi.

*

    Anh quàng túi xách vải bạc màu lên vai, trời sáng hẳn từ lâu, phía bến đò cuối đường đã có tiếng người gọi nhau ơi ới, đứng chấp tay lạy tạ mấy lần trước mồ ngoại và chị, thêm một lần anh bỏ ngoại đi và lần này chị ở lại.

    Bước ra đường, anh bật khóc.

Thuyên Huy

Viết lại từ một câu chuyện cũ thật cũ – thu 2026