Saturday, December 26, 2015

Ký Ức Về Những Bài Học Thuộc Lòng Thời Tiểu Học - Hoa Huỳnh chuyển bài



 


    Dân miền Nam, những ai bây giờ chừng 55 tuổi trở lên, chắc đều nhớ rõ cách tổ chức độc đáo ở các lớp bậc tiểu học cách đây hơn bốn thập niên. Hồi đó, cách gọi tên các lớp học ngược lại với bây giờ, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Lớp Năm là lớp Một ngày nay, rồi đến lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, trên cùng là lớp Nhứt. Lớp Năm, tức là lớp thấp nhất, thường do các thầy cô giỏi nhất hoặc cao niên, dồi dào kinh nghiệm nhất phụ trách. Sở dĩ như vậy là vì bậc học này được xem là vô cùng quan trọng, dạy học trò từ chỗ chưa biết gì đến chỗ biết đọc, biết viết, biết những kiến thức cơ bản đầu tiên, nghĩa là biến từ chỗ không có gì đến chỗ bắt đầu có.

    Học trò, không phân biệt giàu nghèo, khi đến lớp chỉ được dùng một thứ bút duy nhất, là bút ngòi lá tre. Gọi là lá tre bởi vì bút có cái ngòi có thể tháo rời ra được, giống hình lá tre nho nhỏ, khi viết thì chấm vào bình mực. Bình mực, thường là mực tím, có một cái khoen nơi nắp để móc vào ngón tay cho tiện. Thân bình bên trong gắn liền với một ống nhựa hình phểu dưới nhỏ trên to để mực khỏi sánh ra theo nhịp bước của học trò. Khi vào lớp thì học trò đặt bình mực vào một cái lổ tròn vừa vặn khoét sãn trên bàn học cho khỏi ngã đổ. Bút bi thời đó đã có, gọi là bút nguyên tử, là thứ đầy ma lực hấp dẩn đối với học trò ngày ấy, nhưng bị triệt để cấm dùng. Các thầy cô quan niệm rằng rèn chữ là rèn người, nên nếu cho phép học trò lớp nhỏ sử dụng bút bi sớm, thì sợ khi lớn lên, chúng sẽ dễ sinh ra lười biếng và cẩu thả trong tính cách chăng.
M
ỗi lớp học chỉ có một thầy hoặc một cô duy nhất phụ trách tất cả các môn. Thầy gọi trò bằng con, và trò cũng xưng con chứ không xưng em với thầy. Về việc dạy dỗ, không thầy nào dạy giống thầy nào, nhưng mục tiêu kiến thức sau khi học xong các cấp lớp phải bảo đảm như nhau. Thí dụ như học xong lớp Năm thì phải đọc thông viết thạo, nắm vững hai phép toán cộng, trừ, lớp Tư thì bắt đầu tập làm văn, thuộc bảng cửu chương để làm các bài toán nhân, chia… Sách giáo khoa cũng không nhất thiết phải thống nhất, nên không có lớp học giống lớp nào về nội dung cụ thể từng bài giảng.

    Cứ mỗi năm lại có các ban tu thư, có thể là do tư nhân tổ chức, soạn ra những sách giáo khoa mới giấy trắng tinh, rồi đem phân phối khắp các nhà sách lớn nhỏ từ thành thị cho chí nông thôn. Các thầy cô được trọn quyền lựa chọn các sách giáo khoa ấy để làm tài liệu giảng dạy, miễn sao hợp với nội dung chung của Bộ Giáo dục là được. Tuyệt nhiên không thấy có chuyện dạy thêm, học thêm ở bậc học này nên khi mùa hè đến, học trò cứ vui chơi thoải mái suốt cả mấy tháng dài.

Các môn học ngày trước đại khái cũng giống như bây giờ, chỉ có các bài học thuộc lòng trong sách Việt Văn, theo tôi, là ấn tượng hơn nhiều. Đó là những bài thơ, bài văn vần dễ nhớ nhưng rất sâu sắc về tình cảm gia đình, tình yêu thương loài vật, tình cảm bạn bènhững , tình nhân loại, đặc biệt là lòng tự tôn dân tộc Việt. Tôi còn nhớ rõ trong sách Tân Việt Văn lớp Năm có bài học thuộc lòng thật hay về bóng đá mà hồi đó gọi bằng một từ rất hoa mỹ, là túc cầu:

TRẬN CẦU QUỐC TẾ
Chiều chưa ngã, nắng còn gay gắt lắm
Hai đ
ội cầu hăng hái tiế
n ra sân
Ti
ếng hoan hô thêm dũng mãnh bội phầ
n
Đ
ể cổ võ cho trận cầu quốc tế
.
Đoàn tuy
ển thủ nước nhà hơi nhỏ
bé
N
ếu so cùng cầu tướng ở phương xa

Còi xu
ất quân vừa lanh lảnh ban ra
Thì tr
ận đấu đã vô cùng sôi nổ
i.
Ti
ền đạo ta như sóng cồn tiến tớ
i
Khi t
ạt ngang, khi nhồ
i bóng, làm bàn
Khi
ến đối phương thành rối loạ
n, hoang mang
H
ậu vệ yếu phải lui về thế thủ

Thi
ếu bình tỉnh, một vài người chơi dữ
Nên tr
ọng tài cảnh cáo đuổi ra sân
Qu
ả bóng da lăn lộn biết bao lầ
n
H
ết hai hiệp và…đội nhà đã thắ
ng
Ta tuy bé nh
ưng đồng lòng cố gắ
ng
Bi
ết nêu cao gương đoàn kết đấ
u tranh
Khi giao banh, khi phá l
ướ
i, hãm thành
Nên đo
ạt giải dù địch to gấp bội…


    Bài học thuộc lòng này, về sau tôi được biết, lấy cảm hứng từ chiếc cúp vô địch đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của Việt Nam tại Đông Á Vận Hội trên sân Merdeka của Malaysia vào cuối thập niên 50, với những tên tuổi vang bóng một thời như Tam Lang, Ngôn, Cù Sinh, Vinh “đầu sói”, Cù Hè, Rạng “tay nhựa”… Tuy không biết chơi bóng đá, nhưng thằng bé là tôi lúc đó rất thích bài học thuộc lòng này nên tự nhiên…thuộc lòng luôn. Càng đọc càng ngẫm nghĩ, đây đâu phải là bài thơ chỉ nói về bóng đá mà thôi. Nó là bài học đoàn kết của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng gan lỳ, bất khuất khiến cho cả thế giới phải ngước nhìn bằng đôi mắt khâm phục. Bạn thấy lạ lùng chưa, chỉ một bài thơ ngắn nói về một thứ trò chơi thôi, mà lại chứa đựng biết bao nhiêu điều vĩ đại mà những lời đao to búa lớn ồn ào chắc chi đã làm được.
Nói v
ề môn Lịch sử, hồi đó gọi là Quốc sử, đã có sẵn một bài học thuộc lòng k
hác:

GIỜ QUỐC SỬ

 
 
Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng m
ạc, ruộng đồ
ng quê,
Chúng tôi ng
ồi yên lặng, lắ
ng tai nghe
Ti
ếng thầy giảng khắp trong giờ Quốc sử.

Th
ầy tôi bảo: “Các con nên nhớ rõ,
N
ước chúng ta là một nướ
c vinh quang.
Bao anh hùng th
ưở trước củ
a giang san,
Đã đ
ổ máu vì lợi quyền dân tộc.

Các con nên đêm ngày chăm ch
ỉ học,
Đ
ể sau này mong nối chí tiề
n nhân.
Ta tin r
ằng, sau một cuộc xoay vầ
n,
Dân t
ộc Việt vẫn là dân hùng liệt.

Ta tin t
ưởng không bao giờ tiêu diệt,
Gi
ống anh hùng trên sông núi Việ
t Nam.
Bên nh
ững trang lịch sử bốn ngàn năm,

Đ
ầy chiến thắng, vinh quang và hạnh phúc”

    Hình ảnh ông thầy dạy Sử trong bài học thuộc lòng hiện lên, nghiêm nghị nhưng lại thân thương quá chừng, và bài Sử của thầy, tuy không nói về một trận đánh, một chiến công hay một sự kiện quá khứ hào hùng nào, nhưng lại có sức lay động mãnh liệt với đám học trò chúng tôi ngày ấy, đến nỗi mấy chục năm sau chúng tôi vẫn nhớ như in.
L
ại có bài song thất lục bát về ông thầy dạy Địa lý, không nhớ tác giả là ai, nhưng chắc chắn tựa đề là “Tập vẽ bản đồ”, phía lề trái còn in cả hình vẽ minh họa của Quần đảo Trường Sa và Hoàng sa:
Hôm qua tập vẽ bản đồ,
Th
ầy em lên bảng kẻ ô rõ ràng.
Ranh gi
ới vẽ phấn vàng dễ kiếm,
T
ừ Nam Quan cho đến Cà Mau.
T
ừng nơi, thầy thuộc làu làu,
Đây sen Đ
ồng Tháp, đây cầu Hiền Lương.
Bi
ển Đông Hải, trùng dương xanh thẳm,
Núi cheo leo th
ầy chấm màu nâu.
Tay đ
ưa mềm mại đến đâu,
Sông xanh u
ốn khúc, rừng sâu chập chùng…
R
ồi với giọng trầm hùng, thầy giảng:
“ Gi
ống Rồng Tiên chói rạng núi rừ
ng,
Tr
ải bao thăng giáng, phế hưng,

Đem giòng máu th
ắm, bón từng gốc cây.
Làn không khí gi
ờ đây ta thở
,
Đ
ường ta đi, nhà ở nơi này,

T
ổ tiên từng chịu đắng cay,
M
ới lưu truyền lạ
i đêm ngày cho ta.
Là con cháu muôn nhà gìn gi
ữ
,
Đùm b
ọc nhau, sinh tử
cùng nhau.
Tóc th
ầy hai thứ từ
lâu,
Mà tài ch
ưa đủ
làm giàu núi sông !
Nay ch
ỉ biết ra công dạy dỗ
,
Đàn tr
ẻ thơ mong ở
ngày mai.
Bao nhiêu hy v
ọ
ng lâu dài,
D
ồn vào tất cả trí tài các con …”


    Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, tóc trên đầu tôi cũng bắt đầu hai thứ như ông thầy già dạy Địa trong bài học thuộc lòng ngày ấy, nhưng có một điều mà tôi nghĩ mãi vẫn chưa ra. Ông thầy đang dạy Địa, hay ông thầy đang âm thầm truyền thụ lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc cho đàn trẻ thơ qua mấy nét vẽ bản đồ? Lời của thầy thật là nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng cũng thật là tha thiết, chạm vào được chỗ thiêng liêng nhất trong tâm hồn những đứa trẻ ngây thơ vào những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, nơi chúng được dạy rằng ngoài ngôi nhà nhỏ bé của mình với ông bà, cha mẹ, anh em ruột thịt, chúng còn có một ngôi nhà nữa, rộng lớn hơn nhiều, nguy nga tráng lệ, thiêng liêng vĩ đại hơn nhiều, một ngôi nhà mà chúng phải thương yêu và có bổn phận phải vun đắp : VIỆT NAM.

(Hoa Huỳnh chuyển)
304Đen – Đăng lại từ trang Hoài Niệm Tây Ninh

No comments: