Thảo Nhân
Thứ sáu, tan sở làm sớm, chưa xế trưa hẳn, trời đổ mưa bất chợt,
cơn mưa đầu thu lành lạnh, không nặng hột nhưng cũng đủ làm đường phố ươn ướt, đứng
trú mưa gần sát khung cửa kiếng, cùng với năm sáu người, dưới mái hiên chênh
vênh cao của dãy phố, trước căn tiệm bán thực phẩm người mình, vậy mà nước cứ mặc
tình tát nghiêng tạt ngã vào, chuyến xe điện về nhà vẫn chưa tới, mặc dù người
xuống xe lửa từ Melbourne, phía trong nhà ga Footscray đã túa ra, băng qua đường
đông nghẹt, Hiển lắc đầu, hết nhìn mưa, mưa làm thinh trút nước, rồi nhìn cuối
phố, phố đông người, người vội vã đi người lầm lũi đếm bước, từ dưới này cho tới
đầu ngã ba trên.
Người con gái, tóc
ngang lưng, tay kéo vạt áo che đầu đứa bé gái nhỏ độ ba bốn tuổi, cũng hai tay
đưa lên tóc xuýt xoa, tay dắt nó chạy lẹ vào mái hiên, có chỗ trống sát hông tường,
nơi Hiển đang đứng, nghĩ vẫn nghĩ vơ, anh không quay nhìn mà xê qua chút xíu một
bên, cứ xem là chuyện bình thường vậy thôi, không màn để ý là ai. Trên ngã ba,
có tiếng xe điện tới, mưa bớt nặng hột, lất phất như bụi phấn, cũng như đám người
trốn mưa nãy giờ, Hiển vừa bước ra trạm chờ vài ba bước, nghe tiếng con bé nói
tiếng Việt khá rành “mẹ ơi con khát nước”,
Hiển đứng quay lại nhìn, hai mẹ con phía sau lưng, cúi xuống nói với con nhỏ nhỏ
gì đó, rồi ẳm con bé lên, con bé cười ôm hôn tới tấp vào mặt, chị ngước nhìn
theo, Hiển giựt cả mình, trố mắt, chị
không khác gì anh, Hiển đứng khựng lại “chị Nhân”, chị cũng buột miệng “Hiển
hả”, xe điện vừa ngừng ở trạm, không thêm được lời nào, lặng thinh, cả hai
rươm rướm mắt, mưa tạnh hẳn, có chút nắng xế rựng lên ở phía ngã ba, lửng lờ vắt
ngang mái lầu dãy nhà hàng bên kia đường, phố xá đông người trở lại.
Hai chị em dẫn nhau
vào cái tiệm bán nước giải khát nhỏ góc phố, trời thôi âm u buồn, nắng buông từng
vạt sáng trên đường, con bé ngây thơ, nhảy bước thấp bước cao, nắm tay mẹ cười
toe toét, chiếc xe điện lúc nãy chầm chậm qua ngang, hai chị em cùng cười nhìn
theo, nói thầm “thôi mình chờ chuyến
sau”.
*
Trưa thứ bảy, lang
thang ra chợ Sài gòn, đi lên đi xuống, nhìn thiên hạ, trai gái quần là áo lụa,
dập dìu tài tử giai nhân cho bớt chút buồn chút tủi, gió mang hơi nước sông mát
từ bến Bạch Đằng lùa lên làm cái nằng đầu hạ có phần nào dịu bớt đi, đường lên
Lê Lợi, đường xuống Nguyễn Huệ ngập người, băng qua bên này, Hiển tấp vô cái xe
nước mía Viễn Đông, nơi góc đi về phia chùa Chà Và, hông bộ Công chánh, vắng
khách nên không phải chờ lâu, cầm bịch nước mía, chợt nghĩ tới chuyện quần áo Hiển
lững thững thả bộ ngược lên dãy sạp bán vải dài cùng bên này đường Nguyễn Huệ,
không có mấy người mua, sấp vải “ga-bạc-din”màu xanh dương đậm, màu mà anh
thích, treo lủng lẳng trên khung kệ cây nhỏ, trước cái sạp không xa chỗ xe nước
mía bao nhiêu, làm Hiển ngừng ngay lại, trố mắt nhìn chăm chú, chần chừ bước đi
bước ở.
Gia đình Hiển tạm đủ
ăn, chỉ còn hai mẹ con, ba mất sớm, nhà ở phía đầu dốc ngã ba Liên Hiệp, ngó ra
đường đi Đơn Dương, mẹ Hiển có cái sạp bán rau cải bên hông chợ Tùng Nghĩa, nhờ
trời buôn may bán đắt nên nhà cũng có chút đồng ra đồng vô. Đậu tú tài hai, Hiển
vào Đại học Sư Phạm Sài Gòn, một thân một mình, nhớ mẹ ngoài đó cực nhọc, để bớt
gánh nặng cho bà, nhờ vào vốn liếng toán lý hóa kha khá của những năm trung học
Trần Hưng Đạo, Hiển tìm được vài chỗ dạy kèm nên cũng đở phần nào. Mỗi khi muốn
may thêm cái quần cái áo cho bảnh chút xíu thì phải suy đi nghĩ lại, tính trước
tính sau, tiền ăn tiền ở, tiền vải tiền may rồi mới dám nghĩ tới.
Chị chủ sạp, chắc chừng
trên dưới ba mươi, khá đẹp, bỏ cuốn sách đang đọc ngó ra, cười chào, nụ cười
duyên nhìn là có cảm tình liền thật trọn, Hiển cũng ngài ngại chào lại, nửa đùa nửa thật “dạ muốn mua sấp vải này mà không đủ tiền, chị cho em thiếu mai mốt trả
được không?”, mà thật vậy, thứ bảy tuần tới Hiển mới nhận tiền trả công dạy
kèm cho đám con mấy gia đình bên cư xá Bắc Hải, trong túi còn độ hơn vài chục, muốn
lắm nhưng chưa biết tính sao, chị vui vẻ đứng lên, đi ra gần anh “được mà, cứ lấy đi, chừng nào trả cũng được”,
rồi kéo cái ghế dư, làm dấu “em ngồi
chơi, coi đi, mua hay không mua cũng không sao”.
Chút xíu rồi quen
sau vài ba câu hỏi qua hỏi lại, chuyện này chuyện nọ, chị Nhân, chủ sạp vải,
quê quán Thủ Thừa, Long An, chị còn cô em tên Hậu, năm nay học lớp đệ nhị trường
Phan Sào Nam, nhà ở cái hẻm nhỏ sát bên hông rạp hát Long Vân, Hiển cũng cho chị
biết đang học năm thứ ba Đại Học Sư Phạm, đang ở trọ chung nhà với vài người bạn
ở gần chợ Nancy, quê Tùng Nghĩa Đà Lạt, thấy ở cũng hơi lâu, Hiển, chưa kịp đứng
dậy, chị đã nhanh nhẹn xếp sấp vải, bỏ vào bao, đưa tận tay, Hiển ngại quá,
chưa biết tính sao, chị tươi cười “nè, em
lấy đi, chừng nào có tiền, nếu nhớ thì trả quên thì thôi”, Hiển ngỡ ngàng,
đành cầm lấy, rồi móc cái thẻ sinh viên ra “em
gởi lại cái này làm tin, tuần tới em sẽ ghé, cám ơn chị nhiều lắm”, chị gạt
ra cười ngặt nghẻo.
Sáng chủ nhật tuần
sau đó, Hiển đón xe buýt ra chợ thật sớm, phố xá hàng quán đã rần rần rộ rộ, trới
chưa có nắng, lãng đãng một chút sương đêm, xe xích lô xe ba gát ồn ào cả một
góc chợ Bến Thành, Hiển băng qua bồn binh, nhanh chân về phía dãy sạp vải, đã có
ngưới mua người bán rồi, vừa tới chỗ sạp chị Nhân, Hiển hơi khựng lại, không phải
chị mà là cô gái trẻ, nhìn giống chị Nhân, chắc là cô em tên Hậu, anh đứng ngờ
ngợ hỏi, cô em nhanh nhẩu cười “chị em đi
mua gì đó, nếu không gấp thì anh ngồi chơi chút đi, chị về bây giờ”, Hiển
cũng gật đầu cười, cô em Hậu đây rồi, Hiển loay hoay hỏi vài ba câu, chị Nhân về
tới, vồn vã mời vào trong ngồi, có người tới hỏi mua, Hậu bước ra tiếp, chị
nhìn theo rồi quay qua Hiển “con Hậu, em
chị đó”.
Sau ngày đó, ngày càng thân càng mến, đời bớt
cô đơn hơn, Hiển thường ra sạp vải ngồi tán dốc, khi thì với chị Nhân khi thì cả
hai chị em, Hậu không còn thẹn thùng bẽn lẽn như hồi mới gặp, nhất là từ nhũng
ngày Hiển ghé nhà hàng tuần dạy thêm cho cô nàng chuẩn bị thi tú tài Một, Hậu dễ
thương, như chị mình, lúc nào cũng cười, ít khi thấy buồn, gần gũi rồi mến
nhau, anh anh em em dịu dàng êm ái. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống với bà ngoại
già, nhà nghèo học hành dang dỡ, với mớ tiền dành dụm có sau những ngày buôn
gánh bán bưng, chị dắt em lên Sài Gòn hy vọng sẽ đở hơn, sau vài ngày ở đậu nhà
của vợ chồng cũng dân Thủ Thừa chị may mắn
tìm được công việc phụ bán cho sạp vải, rồi với mớ tiền có được, vừa đủ sang lại
sạp vải này giá qua loa khi ông bà chủ về Tuy Hòa mở tiệm thuốc tây gì đó, chí
thú, chịu khó chị mua được căn nhà nhỏ mà hai chị em ở hiện giờ.
Lần hồi, mấy thằng
bạn trọ chung nhà cũng theo Hiển, mua chịu mua thiếu vải vóc sạp chị Nhân, trả
trước trả sau sòng phẳng, đôi khi chị vui vẻ bớt cho vài chục, đủ tiền uống cà
phê lề đường, nhìn người qua lại, ngay cả mấy thằng bạn con nhà giàu ở Sài Gòn
này cũng khoái chí tới mua, có tiền trả liền, rẽ hơn chỗ khác, không đủ tiền lần
tới, không sao, đám họ ra tới sạp thì ôi thôi, một chị Nhân hai chị Nhân ngọt sớt,
sạp chị ngày càng vui hơn, khách hàng
không chỉ bao nhiêu đó mà còn thêm mấy cô bạn gái của đám bạn này, rộn rịp
ồn ào, không kể gì thứ bảy chủ nhật hay ngày thường, trời mưa mịt mù hay nắng nung
lửa hấp.
*
Cuối năm ra trường
Hiển lên dạy trên trung học Pleime ở Pleiku, Hậu cũng xin được vào đệ nhất trường
nữ Lê Văn Duyệt, không còn ở trường cũ vì có điểm khá cao của tú tài Một. Sáng
ngày rời Sài Gòn về Tùng Nghĩa thăm nhà, trước khi lên nhận nhiệm sở, hai chị
em chị Nhân đưa Hiển ra tận bến xe lô Sài Gòn- Đà Lạt, ngồi chờ giờ khởi hành,
bên nhau mà không nói được gì nhiều, Hậu mắt rươm rướm đỏ, đường phố thưa người,
cuối hè trời ngấp nghé lạnh, đôi chút sương đêm vẫn còn lầm tấm vài hạt mong
manh trên cành lá hàng phượng bên kia đường, khẳng khiu hoa tím bầm lưa thưa tàn, chờ thu đến. Hiển đi rồi,
trên đường về, chị Nhân chợt thương cho em, nhìn Hậu buồn thiu, chị biết em
mình đã thầm thương trộm nhớ gì đây rồi.
Dạy được vài tháng,
Hiển nhận thư của Hậu từ Sài Gòn gởi ra, cái thư không dài lắm, nhắc đủ chuyện
vui, chuyện buồn từ ngày mới gặp cho đến ngày biết mến biết thân, những chiều
mưa chờ ở cổng trường những sáng nắng hanh vàng chủ nhật, bên nhau đuổi lá me
bay ven lề Lê Thánh Tôn trên đường ra sạp vải, kể vậy thôi chứ không viết thêm
gì khác, và báo tin đám cưới chị Nhân, nhắc ráng về dự nếu được. Hiển cũng muốn
lắm nhưng tình hình chiến trận sau mùa hè năm 1972, tưởng có phần lắng dịu
nhưng xem ra dữ dội hơn trước, đường bộ đi lại khó khăn, nội chuyện về Tùng
Nghĩa thăm mẹ cũng không trơn tru cho lắm, nên thôi, Hiển viết thư trả lời
ngay, cám ơn hai chị em đã dành cho mình nhiều thương mến, thân tình và cầu
chúc chị Nhân trăm năm hạnh phúc.
Gẩn cuối năm 1974,
tình hình cuộc chiến ác liệt hơn, miền Nam mất đi một số tỉnh vùng biên giới
Cao Miên, Ai Lao, quân Bắc Việt với xe tăng đại pháo Trung cộng Nga sô tiến
càng ngày càng sâu vào lãnh địa còn lại mặc cho quân VNCH ra sức chống đở mãnh
liệt, dân chúng miền trung, từ Quảng Trị xuống vào tới Đà Lạt Nha Trang hoảng
loạn, rục rịch bồng bế nhau xuôi nam, rồi thì, không còn gì trong tay, quân
VNCH đành rút bỏ triệt thoái về miền xuôi, đất miền Nam cũng từ ngày đó lọt vào
tay quân Bắc Việt từng nơi một, từ vùng Một xuống vùng Hai. Về Tùng Nghĩa thăm
nhà, ở nán lại nghe ngóng tình hình, qua Tết định trở lên Pleiku thì tin Ban Mê
Thuộc mất, rồi giữa tháng ba năm 1975, cao nguyên di tản, Đà Lạt cũng theo
chân, Hiển cùng mẹ theo đoàn người chạy loạn trên đường ra Nha Trang nhưng
không may, mẹ Hiển bị bệnh nên đành phải đưa bà quay lại Tùng Nghĩa rồi, kẹt ở
đó tới ngày miền Nam sụp đổ Ba Mươi tháng Tư Bảy Lăm.
*
Sáng
chủ nhật, trời Melbourne những ngày giữa thu, cái lạnh cũng lạnh lùng lạnh như
mấy mùa thu trước, hôm gặp lại mẹ con chị Nhân ở trạm xe điện Footscray, cả tuần
rồi, xong việc ở chỗ làm, được xếp cho nghĩ xã hơi, hẹn đến thăm chị, hôm nay mới
đi được, trước khi tới, Hiển không quên chạy ra tiệm bánh quen người mình mua
vài thứ, làm quà tái ngộ nhứt là con bé, có cái tên Thảo Nhân ngồ ngộ dễ thương,
không thương không được. Con đường Maribyrnong giờ này vắng tanh nhưng hai bên
chạy dọc bờ sông, người đi người chạy đông nghẹt len nhau dưới cái nắng sớm, “làm bộ làm điệu” rực lên từng vạt hâm hấp
ấm mong manh “tơ liễu buông mành”. Người
đi lễ sáng đã tấp nập tới từ lâu, Hiển đành phải đậu xe xa ngoài ngã ba đường
Epsom.
Nhà chị ở cũng dễ
kiếm, căn nhà gỗ nhỏ màu vôi vàng nhạt, nằm ngay góc đường St Leonards, cách
nhà thờ St Mary không mấy xa, hai mẹ con đứng trước sân cỏ, ngay cái cổng rào sắt
bạc màu đen, đám hoa “băng –xê” dọc hiên nhà nở rộ một màu tím tím thẳm, chị đi
qua đi lại, con bé Thảo Nhân, lắc lư bước sau, thì Hiển vừa tới, con bé chạy ùa
ra “chú Hiển, chú Hiển”, Hiển bồng nó
lên chào, chị Nhân mừng muốn khóc. Chợt nhớ gì đó, bỏ con bé xuống, đưa cho nó
cầm cái túi giấy đựng bánh, con bé cười nức nẻ, hai người đi vào, Hiển nhìn
quanh, như hiểu ý, chị Nhân cười “Hậu mới
chạy ra phố mua gì đó, chắc cũng sắp về”.
Hậu bước vào nhà,
con bé không ngồi chung với mẹ mà ngồi sát Hiển trên ghế sa lông trong phòng
khách, chị Nhân im lặng chờ, Hậu đứng chết trân, gói đồ đi mua hồi sáng run run
theo từng nhịp run của tay, Hiển đứng dậy, không bước thêm bước nào, vẫn đứng
đó, cánh cửa vẫn mở, Hậu mừng rỡ òa lên khóc, nghẹn ngào, chị Nhân nhìn cô
nàng, cười mà rưng rưng “ai đây, có quen
hôn”, Hậu đưa tay lau vội lau vàng nước mắt “ anh Hiển”, con bé Thảo Nhân tròn xoe mắt chạy lại nắm tay dì “dì Hậu dì Hậu”.
*
Hiển ngồi nghe chị,
và được chị cho xem tấm hình chụp ngày cưới, không ngờ chồng chị là anh Nguyễn
Trọng Thảo, quê ở Bình Long, sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, anh chết ngày 20
tháng 3, khi 3 ngàn quân TQLC thuộc Lữ đoàn 147 tập trung tại bải biển Thuận An,
xã An Dương, Phú Vang, Huế chờ tàu hải quân đón nhưng không có chiếc nào đến,
quân Bắc cộng truy kích và tàn sát gần như toàn bộ lữ đoàn, một số tử thương, tự
sát, và những người còn lại đều bị bắt, chiến cuộc chấm dứt, sau đó người dân
An Dương đã chôn cất vội vàng những người lính TQLC này trên bải biển.
Hiển gặp anh Thảo lần
đầu năm lên lớp đệ ngủ trung học, buổi sáng hôm đó, trời giữa thu Đà Lạt mù
sương lạnh, vào lớp không bao lâu, thầy giám thị tới lớp Hiển, có một người sĩ
quan cấp bực Thiếu Úy, mặc đồ lính TQLC còn trẻ đi theo, muốn gặp Hiển một
chút. Hiển rời lớp, vừa sợ vừa ngơ ngơ vì không quen, đi ra, theo anh ngồi trên
cái băng ghế đá dưới cây thông già cuối sân trường, không dám nhìn, lo lắng chờ,
anh đã ghé qua nhà dưới Tùng Nghĩa thăm mẹ mới biết Hiển học ở đây.
Lúc ba Hiển chưa có
mẹ, còn bôn ba thời vận ở miệt đồn điền cao su Xa Cam Hớn Quản, gặp ông, cô tư
Cúc, người Bình Long phải lòng rồi thương nhau, quên tính toán, lỡ cô mang
thai, gia đình cô tư không chịu cho lấy nhau vì lý do gì đó, ba Hiển đau buồn
lang thang lên Đà Lạt, làm nhân viên cho nhà ga xe lửa, một hai năm sau, ông gặp
mẹ Hiển khi bà đi buôn hàng từ Phan Thiết về, lần này ông ngược về Mỹ Tho, đem
ông bà nội lên Tùng Nghĩa, hai người cưới nhau, sinh ra Hiển. Sau đó không lâu,
ông trở lên Bình Long, cô tư Cúc lấy chồng, một người giáo viên trường tiểu học
tỉnh, tốt bụng, biết chuyện nhưng không phàn nàn, không nhắc tới, cô Cúc sinh
anh Thảo ra, giống hệt ba, ông đến thăm anh Thảo, lúc đó vừa thôi nôi, rồi
thôi, vì ông không muốn làm gia đình cô tư xào xáo vô ích, không may ba Hiển mất
vì bệnh viêm phổi khá nặng năm Hiển lên bốn, cho tới ngày Hiển lớn, mẹ không hề
nhắc gì tới chuyện này, chuyện con riêng của ba và Hiển có một người anh cùng
cha khác mẹ.
Anh kể lại chuyện,
hỏi Hiển học hành ra sao, mẹ thế nào rồi đưa cho một số tiền vài trăm đồng, bảo
cất kỹ, ăn bánh uống nước, Hiển ngồi nghe mà ngớ người ra, tới khi trở lại lớp
học, trước hành lang, anh Thảo ôm hôn lên đầu, bảo sẽ về thăm, ráng học, ráng
giúp mẹ, anh chào cô giáo, một lần nữa, vò đầu Hiển, rồi bỏ đi, thình thoảng
quay lại vẫy tay làm dấu bảo Hiển vào lớp, dưới trời sương lạnh mù mờ, nhìn
theo, bỗng dưng Hiển muốn khóc và bấy giờ mới thì thầm hai tiếng “anh Thảo”,
anh đi xa rồi. Hiển gặp lại anh Thảo lần thứ hai, ở Tùng Nghĩa, ngày Hiển đậu
tú tài một, và cũng là những ngày chiến trận diễn ra ác liệt khắp nơi, những
ngày người dân thành phố biết sợ tiếng đại pháo, tiếng bom rơi, hôm đó áo quần,
giày đinh bám đầy bụi đỏ, anh không ở lâu, vội vàng không như lần trước, anh
cũng đưa cho mẹ gói quà, rồi vội vã ra đi, hỏi anh chuyện thư từ, anh cho số
KBC đơn vị nhưng dặn là đừng viết vì anh cứ theo quân rày đây mai đó, rừng sâu
núi thẳm, đồng hoang sông nước, khi nào rãnh anh sẽ về thăm.
Chị Nhân mân mê tấm
hình, nghe Hiển kể phần mình, Hậu ngồi kế bên, hai chị em nhìn nhau rồi nhìn xa
xăm ra đường, lặng thinh buồn vời vợi, ngưng chuyện vừa lúc con bé Thảo Nhân chạy
loanh quanh đâu đó trở lại chỗ ba người, Hiển đứng dậy, ôm trọn nó vào tay mình
cười mà rươm rướm “Thảo Nhân, cháu của
tôi đây mà”, con bé chẳng biết ất giáp gì, cười ngặt nghẻo “chú Hiển, chú Hiển”.
*
Buổi sáng, trời bỗng
dưng có nắng ấm sớm, cái nắng hiếm hoi của những ngày cuối đông xứ này, cả nhà
dắt nhau thả bộ ra tiệm ăn Mac Donald ở ngã ba đường, con bé Thảo Nhân chạy lúp
súp trước, quẹo ngả đường Ferguson, Hiển và Hậu theo sau, chị Nhân tủm tỉm cười
đi sau cùng, ngang qua trường tiểu học St Mary, do hội nhà thờ St Mary quản trị,
phía sau hông nhà thờ nơi Hậu đang dạy lớp Mẫu giáo, tới cổng, cái cổng sắt cao
đóng kín, sân trường vắng tanh, chỉ toàn là chim với chim, từng đám đuổi nhau tắm
nắng, mùa này học trò đã nghỉ cuối năm, con bé đứng lại, chờ ba người lên, nắm tay Hậu chỉ vào trong “dì Hậu dì Hậu”, Hậu cười, ẳm nó lên nựng
càm “mai mốt Thảo Nhân đi học trong đó hả”,
con bé khoái chí gật đầu lia lịa.
Chị Nhân đi lên trước,
con bé nắm tay mẹ, nhảy cò cò bước thấp bước cao ngoáy cổ nhìn lại, mẹ con trước,
hai người sau cũng tay nắm tay níu cười, nắng bất chợt rực ấm, ấm như lòng người
vừa có mà họ đã chờ từ lâu lắm, ở một góc sân vườn, trước nhà ai đó, hai con bướm
vàng vươn đôi cánh nép liền bên nhau trên cành bụi hoa cúc nở rộ, cũng một màu
vàng thẳm, long lanh sáng dưới những hạt sương đêm, nấn ná chưa vội tan.
Mượn tên và chút chuyện
thật của một người, các nhân vật khác, địa danh, tình tiết được tự dựng bằng tưởng
tượng để nhớ người đã nắm xuống ở chiến trường miền Trung cho tôi có được hơn
hai mươi năm bình yên, hạnh phúc. Melbourne, những ngày hạ cháy rừng 2019.
No comments:
Post a Comment